28.5.12

Định Tường - Tự do báo chí, Internet nên được hiểu ra sao?

Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vừa công bố <a
href="http://www.state.gov/j/drl/rls/hrrpt/humanrightsreport/index.htm#wrapper">bản
phúc trình toàn cầu thường niên về tình hình nhân quyền năm
2011</a> vào ngày 24/05/2012, đúng vào ngày bốn sinh viên công
giáo thuộc Giáo phận Vinh bị tòa án ở Nghệ An tuyên án tổng
cộng 117 tháng tù giam về "tuyên truyền chống nhà nước
XHCN" theo Điều 88 Bộ Luật hình sự Việt Nam. Một trong số
họ là anh Lê Sơn, người từng được đề cử giải thưởng
"<a href="http://en.rsf.org/netizen-prize-2012-27-02-2012,41938.html">Công
dân mạng</a>" của tổ chức Phóng viên Không Biên giới –
Reporters Without Borders (RSF)

Trong phần báo cáo dành cho từng quốc gia, Bộ Ngoại giao Hoa
Kỳ chỉ trích Việt Nam "<em>đàn áp các quyền tự do</em>"
của công dân trong đó có quyền bày tỏ chính kiến và quyền
tự do Internet. Các điểm này hầu như đã không có thay đổi
nhiều trong bản báo cáo về nhân quyền trước đó vào <a
href="http://www.state.gov/j/drl/rls/hrrpt/2010/index.htm">năm 2010</a>.

Ngược lại, phía Việt Nam luôn khẳng định rằng không có cái
gọi là "<em>tù chính trị</em>" ở trong nước và "<em>không
có ai bị bắt vì lý do bày tỏ chính kiến</em>". Tuy nhiên,
phản ứng của phía Việt Nam với các cáo buộc vi phạm nhân
quyền từ các tổ chức phi chính phủ cũng như các cơ quan
ngoại giao nước ngoài thường là những luận điểm yếu ớt,
kém thuyết phục.

<h2>Tiêu chí nào về tự do Internet cần được xét tới?</h2>

Tháng 3 vừa qua, Việt Nam tiếp tục bị tổ chức Phóng viên
Không Biên giới (RSF) liệt vào danh sách các nước đứng chót
bảng về tự do báo chí, bị xếp vào danh sách các nước là
"<a
href="http://www.voanews.com/vietnamese/news/vietnam/vietnam-enemies-of-internet-03-12-2012-142314265.html">kẻ
thù của Internet</a>". Trong bài báo mới đây đăng trên báo
mạng Quân đội Nhân dân (QĐND) do Đảng Cộng sản Việt Nam
kiểm soát, trích lời một giáo sư Mỹ Thomas Jandl trong lần
tới Việt Nam "<em>đã phải thốt lên rằng 'có thể truy
cập internet ở bất kỳ chỗ nào'.</em>" Tờ QĐND nhanh chóng
kết lại "<em>lời nói của một người Mỹ liệu đã đủ
để thay đổi cách nhìn về 'tự do internet' ở Việt Nam hay
chưa?</em>". Tuy nhiên, đây là một lời chống chế, ngụy
biện khá thô thiển bởi không ai cáo buộc rằng Internet ở
Việt Nam bị cấm tuyệt đối như ở Bắc Triều Tiên hoặc
"<em>ở Việt Nam không thể truy cập được Internet</em>", mà
họ cáo buộc các trang mạng xã hội như Facebook, các trang blog
cá nhân, đài tin tức nước ngoài…bị chặn tường lửa,
đánh phá nửa bí mật, nửa công khai!

Như vậy, vào được Internet, hay nói cho cùng là vào được
với những kênh truyền thông mà chính quyền Việt Nam muốn dân
chúng vào, dứt khoác không phải là một biểu hiện của
"<em>quyền tự do Internet</em>" như phía Việt Nam thường
xuyên quan niệm. Tự do Internet phải được do lường bằng
những tiêu chí như: các blog cá nhân, các báo đài, các ý kiến
bất đồng với chính quyền có là mục tiêu bị theo dõi, ngăn
chặn, kết tội hay không; người dùng Internet có được tự do
phát biểu ý kiến đối lập, khác biệt với chính quyền một
cách ôn hòa mà không bị bắt bớ hay không, v.v…

<h2>Tiêu chí nào về tự do báo chí cần được xét tới?</h2>

Ngoài Internet, tự do báo chí tại Việt Nam luôn là đối tượng
chỉ trích trong nhiều bản phúc trình nhân quyền của nhiều
tổ chức, chính phủ nước ngoài nhắc tới – mới đây nhất
là phúc trình của <a
href="http://www.freedomhouse.org/report/freedom-world/2011/vietnam">Freedom
House</a>, <a
href="http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20120524-an-xa-quoc-te-tiep-tuc-lo-ngai-truoc-nhung-vu-vi-pham-nhan-quyen-tai-viet-nam">Ân
xá Quốc tế</a> và <a
href="http://www.state.gov/j/drl/rls/hrrpt/humanrightsreport/index.htm#wrapper">Bộ
Ngoại giao Hoa Kỳ</a>. Ở Việt Nam, tính đến tháng 3/2012 đã
có gần 17.000 nhà báo, hơn 19.000 hội viên nhà báo, 786 cơ quan
báo in, 67 đài phát thanh[1]. Các số liệu này cũng thường
được dùng để "<em>đấu tranh chống các luận điệu xuyên
tạc</em>" về tự do báo chí tại Việt Nam.

Cũng giống Internet, số lượng các ấn bản, cơ quan báo chí,
kênh truyền hình…không hề phản ánh chất lượng và tính
chất của chúng.

Phát biểu tại Đại hội Toàn quốc lần thứ XVIII Đảng Xã
hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc nhắc đến tình trạng quyền tự do
báo chí tại Việt Nam bị thực dân Pháp chà đạp như sau:
"<em>Giữa thế kỷ XX này, ở một nước có đến 20 triệu
dân mà không có lấy một tờ báo! Các bạn có thể tưởng
tượng được như thế không? Tôi gọi báo là một tờ báo về
chính trị, về kinh tế hay văn học như ta thấy ở châu Âu và
các nước châu Á khác, chứ không phải một tờ do chính quyền
thành lập và giao cho bọn tay chân điều khiển … kể chuyện
vớ vẩn, ca tụng công ơn của nền khai hóa và ru ngủ dân
chúng. Báo đầu độc người ta như thế thỉ ở Đông Dương
cũng có ba hay bốn tờ đấy</em>" [2].

Dựa trên tư tưởng của Hồ Chí Minh về tự do báo chí qua
phát biểu trên ta có thể khẳng định một số quan niệm về
tự do báo chí: Số lượng tờ báo nhiều hay ít không phải là
thước đo cho một nền báo chí có tự do hay không! Tự do ở
đây được nêu rõ, dân chúng có quyền thành lập, tiếp cận
với những kênh truyền thông không phải do "<em>chính quyền
thành lập và giao cho bọn tay chân điều khiển</em>" hay không?
Thực tế này tại Việt Nam đã quá rõ ràng! Nếu sửa lại
đôi chút trong lời nói của Hồ Chính Minh thành "<em>Giữa
thế kỷ XXI này một nước có đến hơn 80 triệu dân mà không
có lấy một tờ báo <strong>không do chính quyền kiểm
soát</strong></em>" thì có khác gì thời thực dân Pháp!?

Chỉ thị 37 của Chính phủ Việt Nam nêu rõ "<em>kiên quyết
không để tư nhân hóa báo chí dưới mọi hình thức</em>"[3]
là một minh chứng không thể chối cãi cho quyền tự do báo chí
đang bị giới hạn nghiêm trọng.

Điều 19 Công ước Quốc tế về Quyên Dân sự, Chính trị mà
Việt Nam đã ký kết, phê chuẩn nêu rõ: "<em>Mọi người có
quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm,
tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân
biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản
viết, in, hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ
phương tiện thông tin đại chúng nào tuỳ theo sự lựa chọn
của họ.</em>" Vậy hãy dựa trên tư tưởng Hồ Chí Minh và
luật pháp quốc tế để soi rọi vào tình hình Việt Nam để
xem quyền tự do ngôn luận, báo chí, Internet được "<em>tôn
trọng</em>" và "<em>bảo đảm trên thực tế</em>" đến
đâu.

Đ.T.
26/05/2012

© TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC 2012

___________________

[1]
http://www.petrotimes.vn/dam-luan-doi-thoai/2012/05/cai-nhin-sai-lech-cua-freedom-house-ve-tu-do-bao-chi-o-viet-nam

[2] Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 1, NXB Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 2000 Trang 403.

[3] http://www.sggp.org.vn/chinhtri/2006/12/74120/

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/12731), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Trương Nhân Tuấn - Về các ý kiến của ông Phạm Quang Tuấn

<div class="special_quote"><strong>Tin liên quan:</strong>
<ul>
<li><a href="http://danluan.org/node/12743">Phạm Quang Tuấn - Những
sai sót trong các bài về Scarborough Reef của ông Trương Nhân
Tuấn</a></li>
</ul>
</div>
Trên mạng Bô-Xít và Dân Luận có <a
href="http://danluan.org/node/12743#comment-59183">đăng bài của ông
Phạm Quang Tuấn</a>, chỉ trích các "điểm sai" trong các bài
viết của tôi đã viết <a
href="http://danluan.org/node/12684#comment-59100">"Về bản lên tiếng
ủng hộ Phi Luật Tân trong vấn đề tranh chấp bãi cạn
Scarborough"</a>. Tiếc là ông này chỉ gắn những thứ mà tôi
không viết, hoặc suy diễn và xuyên tạc ý nghĩa một số
điểm trong bài viết của tôi.

Sau đây là 7 điểm "sai" của ông Phạm Quang Tuấn:

<h2>1/ Tôi không hề nói bãi cạn Scarborough <em>"đủ lớn để
được vùng đặc quyền kinh tế"</em>.</h2>

Về các đảo, ở đây ghi lại cho rõ những gì tôi đã viết
trong bài <a href="http://danluan.org/node/12656">Tranh chấp Trung-Phi
tại bãi cạn Scarborough</a>:

<div class="special_quote">
<strong>4.1 Đảo Clipperton</strong>: có diện tích khoảng 6 Km²,
không có người ở, tọa lạc ở phía đông Thái Bình Dương,
cách bờ Mễ Tây Cơ 1.120 Km, mang tên Clipperton là tên của một
tên cướp biển nổi tiếng, lẩn trốn trên đảo. Năm 1858 Pháp
tuyên bố chủ quyền ở đảo này. Năm 1897 Mễ chiếm đảo và
tuyên bố chủ quyền. Năm 1931, Pháp đưa tranh chấp ra tòa án
quốc tế, được xử thắng kiện. Năm 1979 Pháp tuyên bố vùng
kinh tế độc quyền ZEE và thềm lục địa cho các đảo thuộc
Pháp, trong đó có Clipperton. Năm 2009, Pháp đệ trình hồ sơ
thềm lục địa mở rộng cho cả đảo này và không gặp phản
đối của nước nào. Đảo này chỉ là một đảo san hô, không
có người ở, hoạt động kinh tế duy nhất là đánh cá.

<strong>4.2 Các đá St-Pierre và St-Paul</strong>: Đây là một tập
hợp 12 đá nhỏ do núi lửa cũ cấu thành, ở phía đông Brésil.
Đá cao nhất 22,5 mét. Đá lớn nhất có kích thuớc 350 mét X 200
mét, diện tích khoảng 10.000 m². Một ngọn hải đăng được
dựng nơi đây. Đá này còn nhỏ hơn bất kỳ đá nào ở
Trường Sa, nhưng nó được đầy đủ vùng ZEE và thềm lục
địa. Năm 2004, Brésil đệ trình hồ sơ thềm lục địa mở
rộng, xác định vùng biển và thềm lục địa tại hai đá
này. Hồ sơ không bị bác, với 15 phiếu thuận và 2 phiếu
chống.

<strong>4.3: Các đảo McDonald và Herald của Úc</strong>: Các đảo
này không có người sinh sống cũng như không có hoạt động
kinh tế nào. Tuy vậy đệ trình của Úc về thềm lục địa
mở rộng vẫn tính hiệu lực hai đảo này.

<strong>4.4: Đảo Okinotorishima của Nhật</strong>: Đảo này thực
ra là một đảo đang chìm, chỉ còn nổi lên mặt ba hòn đá
nhỏ. Nhật ra sức củng cố đảo để không cho nó chìm xuống.
Năm 2008, Nhật đã đệ trình hồ sơ thềm lục địa mở rộng,
trong đó đảo này được tính đầy đủ hiệu lực.</div>


Điều muốn nói các đảo trong các thí dụ trên đây đều là
các đảo san hô, không có người ở, không có nền kinh tế tự
túc. Nếu áp dụng đúng đắn điều 121 của luật Biển 1982
thì các đảo này không thể có vùng kinh tế độc quyền ZEE.
Vậy mà nó vẫn có. (Không ai nói các đảo này lớn hay nhỏ).

Riêng đảo Okinotorishima của Nhật, hồ sơ thềm lục địa khu
vực này bị Trung Quốc phản đối. Điều tôi muốn nói ở
đây là đảo này vẫn được Nhật cho nó có hiệu lực như là
một <em>"đảo"</em> thực sự.

Các đá St-Pierre và St-Paul là hai hòn đá nhỏ hơn bất kỳ các
đảo tại Hoàng Sa và Trường Sa, chúng vẫn có vùng ZEE, thềm
lục địa 200 hải lý. Ở đây không nói đến các đá này nó
nằm ở đâu. Điều muốn nói là nó có hiệu lực
<em>"đảo"</em> như định nghĩa của luật Biển.

Nếu các đá, đảo không người ở, không có nền kinh tế tự
túc này có hiệu lực của <em>"đảo"</em>, tại sao các đảo
ở Trường Sa, Hoàng Sa là các đảo có người ở, lại không
được tính hiệu lực của đảo?

Tôi viết trong bài như thế này:

<div class="special_quote"><em>"Các thí dụ ở trên cho thấy một
đảo, đá, có thể không có người sinh sống và nền kinh tế
tự túc, đôi khi vẫn có hiệu lực đầy đủ về ZEE và thềm
lục địa. Nếu so sánh các đảo Hoàng Sa và Trường Sa, thậm
chí bãi cạn Scarborough với các đảo trên, đồng thời xét qua
các án lệ về chủ quyền và tình trạng pháp lý của các
đảo, thì các đảo Hoàng Sa, Trường Sa hay bãi cạn Scarborough
có thể được xem là "lãnh thổ". Từ đó một nước có
thể chiếm hữu, có thể đòi hiệu lực về ZEE và thềm lục
địa".</em> </div>

Tôi không hề nói bãi cạn Scarborough <em>"đủ lớn để
được vùng đặc quyền kinh tế"</em>. So sánh của tôi có
<em>"khập khễnh"</em>, có <em>"thuyết phục"</em> hay không
là tùy cách tiếp cận hay tình cảm của người đọc.

<h2>2/ Đưa sự kiện sai lạc về diện tích các đảo Trường
Sa</h2>

Về câu so sánh <em>"Đá này còn nhỏ hơn bất kỳ
<strong>đá</strong> nào ở Trường Sa, nhưng nó được đầy đủ
vùng ZEE và thềm lục địa"</em>. Thực ra phải viết là
<em>"Đá này còn nhỏ hơn bất kỳ <strong>đảo</strong> nào ở
Trường Sa, nhưng nó được đầy đủ vùng ZEE và thềm lục
địa"</em>. Đây là một sơ sót của tác giả.

<h2>3/ Sai lầm về quan điểm của Phi về EEZ của Scarborough
Reef</h2>

Theo luật Đường cơ bản SB 2699 được Thuợng viện Phi thông
qua ngày 28-1-2009, bãi cạn Scarborough được xem như là
<em>"đảo"</em>, có hiệu lực của <em>"đảo"</em> (regime
of islands). Nếu là đảo thì phải áp dụng luật Biển ở
điều 121. Theo đó <em>"đảo"</em> có thể có lãnh hải 12
hải lý, có thể có thềm lục địa và vùng ZEE 200 hải lý.

Luật này theo tôi biết đến nay vẫn còn hiệu lực.

Các tuyên bố của bộ ngoại giao Phi, nếu có, sẽ không có giá
trị về phương diện pháp lý. Bởi vì, chỉ có cơ quan quyền
lực tối cao của Phi là Quốc hội mới có thể sữa đổi
luật hay giải thích luật.

<h2>4/ Hiểu lầm thuật ngữ "Area" (Vùng) trong UNCLOS</h2>

Không hề có vấn đề "hiểu lầm thuật ngữ Area" trong bài
viết của tôi. Chữ <em>"Vùng"</em> tiếng Việt và chữ
<em>"Area"</em> tiếng Anh, tôi viết hoa để trong ngoặc kép:

<div class="special_quote"><em>"Area" means the seabed and ocean floor and
subsoil thereof, beyond the limits of national jurisdiction;</em>. Được
dịch ra tiếng Việt là: <em>"Vùng" là đáy biển và lòng
đất dưới đáy biển nằm bên ngoài giới hạn quyền tài phán
quốc gia;</em></div>

Phần trích dẫn của tôi là nguyên văn trong luật Biển 1982.
Đây là điều cơ bản, sơ đẳng, ai cũng biết.

Trong khi đó tôi viết chữ <em>"area – vùng"</em> không viết
hoa để chỉ <em>"vùng"</em> biển bất kỳ. Vấn đề ở đây
là không hề có qui ước nào cho chữ <em>"area - vùng"</em>
để chỉ <em>"vùng kinh tế đặc quyền"</em>, như trong bài
ông Dương Danh Huy đã viết. Và đó là lý do có mặt của bài
góp ý <a href="http://danluan.org/node/12732#comment-59159">"Hiểu thế
nào về nội dung của bản tuyên bố ủng hộ Phi Luật Tân trong
tranh chấp Trung-Phi tại bãi cạn Scarborough?"</a> của tôi.

Trong bài ông Phạm Quang Tuấn có đưa vài thí dụ thú vị:
<em>"areas of internal waters"</em> (vùng nội thủy) và <em>"areas
falling within archipelagic waters"</em>. Tức <em>"area - vùng"</em>
có thể chỉ một vùng biển bất kỳ. Câu <em>"the sovereign
rights of the Philippines in the Panatag Shoal area - quyền chủ quyền
của nước Cộng hòa Philippines trong khu vực Panatag Shoal"</em>
trong bản tuyên bố. từ hai thí dụ trên, thuật ngữ
<em>"quyền chủ quyền"</em> ở đây được sinh ra từ Panatag
Shoal chứ không phải sinh từ đảo Luzon.

<h2>5/ Lẫn lộn giữa <em>"Chủ quyền"</em> và <em>"Quyền
chủ quyền"</em></h2>

Cũng không hề có lẫn lộn nào về <em>"chủ quyền"</em> và
<em>"quyền chủ quyền"</em>. Vì đây là điều cơ bản, sơ
đẳng. Tôi đã phân biệt rõ trong bài viết:

<div class="special_quote"><em>"Quyền chủ quyền - sovereign
rights"</em> ở đây trước hết là quyền thuộc <strong>chủ
quyền về lãnh thổ</strong>. Từ quyền <strong>chủ quyền lãnh
thổ</strong>, ta có các quyền chủ quyền về việc thăm dò khai
thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật
hoặc không sinh vật, của vùng nước bên trên đáy biển, của
đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như về những
hoạt động khác nhằm thăm dò và khai thác vùng này vì mục
đích kinh tế... đúng như định nghĩa của Luật biển 1982
(điều 55, vùng ZEE).</div>

<em>"Quyền chủ quyền về lãnh thổ"</em> ở đây tức là
<em>"la souveraineté – sovereignty". "Các quyền chủ
quyền"</em> là <em>"sovereign rights"</em>.

Để ý đoạn: <em>"quyền"</em> thuộc chủ quyền về lãnh
thổ.

Chữ <em>"quyền"</em> ở đây là <em>"Quyền chủ quyền -
sovereign rights"</em> . Nó thuộc về chủ quyền lãnh thổ.

Trở lại câu <em>"the sovereign rights of the Philippines in the
Panatag Shoal area - quyền chủ quyền của nước Cộng hòa
Philippines trong khu vực Panatag Shoal"</em> trong bản tuyên bố.
Thuật ngữ <em>"sovereign rights – quyền chủ quyền"</em> ở
đây được sinh ra từ việc Phi có chủ quyền ở Panatag Shoal.
Chỉ khi có chủ quyền ở một vùng lãnh thổ (giáp biển) thì
mới có thể có lãnh hải, vùng ZEE, thềm lục địa. Quốc gia
có chủ quyền vùng lãnh thổ đó có <em>"quyền chủ quyền -
sovereign rights"</em> về các việc khai thác, thăm dò… đúng
như qui định ở điều 55 của luật Biển 1982.

<h2>6. Trích dẫn sai lạc</h2>

Không hề có việc trích dẫn sai lạc mà điều cần là phải
hiểu ý trong văn cảnh đó. Tôi viết:

<div class="special_quote"><em>"Điều cần bàn, tôi đã viết trong
bài phê bình, là việc "ủng hộ hoàn toàn các hành vi bảo
vệ chủ quyền của Phi".</em></div>

Điều tôi muốn nói là về việc <em>"ủng hộ" "các hành
vi bảo vệ chủ quyền…"</em> của những người ký tên. Tôi
đã viết rõ trong bài viết trước, nếu trường hợp Phi (hay
Trung Quốc) dùng vũ lực để bảo vệ chủ quyền thì thái độ
<em>"ủng hộ"</em> này sẽ ra sao?

<h2>7/ Hiểu sai nghĩa từ "support".</h2>

Không hề có việc hiểu sai. Chữ <em>"support"</em> sử dụng
ở đây là động từ. <em>"We fully support the sovereign rights of
the Philippines in the Panatag Shoal area and the Philippines' actions to
defend her sovereign rights"</em>.

Động từ <em>"support"</em> tiếng Anh có hai nghĩa tiếng Pháp:
supporter và soutenir. Cả hai từ này đều có ý nghĩa gần như
nhau (nâng đỡ, ủng hộ, giúp đỡ…). Dầu thế nào thì ý
nghĩa của <em>"support – supporter - soutenir"</em> không hề là
ủng hộ <em>"miệng".</em>

Bài viết của ông Phạm Quang Tuấn là một hành động cụ thể
về ý nghĩa của <em>"support"</em>. Nhưng thật tiếc, ông chỉ
cố ý vạch lá tìm sâu, bươi móc những chuyện lặt vặt.
Không trúng đâu vào đâu!

<h2>Kết luận:</h2>

Tôi đã không ký tên vào bản tuyên bố này, vì lý do nó không
có lợi cho Việt Nam. Tôi viết bài phê bình, hy vọng nhiều
người khác sẽ làm như tôi.

Nó không có lợi cho Việt Nam, vì nếu ủng hộ <em>"quyền
chủ quyền"</em> của Phi tại bãi cạn Scarborough, là ủng hộ
chủ quyền và <em>"quyền chủ quyền"</em> của Phi tại
Scarborough trên tinh thần luật pháp của Phi. Tức theo tinh thần
của luật về đường cơ bản SB 2699. Theo đó bãi cạn này có
tư cách pháp lý như là một <em>"đảo"</em>. Mọi người nên
biết, khi quốc hội Phi thông qua luật Biển 1982 vào năm 1984,
nước này có những tuyên bố bảo lưu mà nhiều quốc gia phản
đối. Theo đó luật Biển 1982 sẽ chỉ áp dụng nếu nó không
làm tổn hại đến quyền lợi của nước Phi. Mà <em>"quyền
lợi"</em> nước này thì làm sao định nghĩa? Tức luật SB 2699
có thể sẽ diễn giải một cách bất kỳ, theo cách có lợi
nhất, bất chấp những hạn chế của luật Biển 1982.

Nó không có lợi cho Việt Nam, ngoài những bất tiện đến từ
bãi cạn Scarborough, còn những bất tiện liên quan đến bộ
luật SB 2699 về các đảo ở Trường Sa. Bản tuyên bố là một
<em>"déclaration unilatérale – tuyên bố đơn phương"</em>,
với những cam kết đi quá xa thẩm quyền của một nhóm nhỏ.
Nó có giá trị ràng buộc về pháp lý (nếu sau này có các tranh
chấp liên quan). Nội dung tuyên bố mặc nhiên chấp nhận hiệu
lực của đạo luật SB 2699 tại Scarborough, là ám thị chấp
nhận hiệu lực bộ luật này lên các đảo Trường Sa (mà
phần lớn có tranh chấp chủ quyền với Việt Nam).

Tôi biết, ông Dương Danh Huy khi đọc bài phê bình của tôi,
đã <em>"ngộ"</em> ra các bất lợi này. Do đó ông mới rút
tên ra khỏi danh sách và viết bài hy vọng sửa đổi nội dung
của tuyên bố.

Nó không có lợi cho Việt Nam, ngoài các hệ quả về pháp lý,
nó còn có hệ quả xấu lên tư cách và danh dự của tập thể
trí thức Việt Nam. Bài viết của ông Dương Danh Huy, cùng với
bài của ông Phạm Quang Tuấn, có nội dung lật ngược lại
những gì mà những người đã viết bản tuyên bố ký vừa
gởi cho Đại Sứ Phi còn chưa ráo mực. Bản tuyên bố đã tệ,
nhưng ít ra nó thể hiện được thái độ <em>"quân
tử"</em>, dám <em>"chơi đẹp"</em> của những người ký
tên. Hai bài viết sau đã biến thái độ <em>"quân tử"</em>
trở thành thái độ <em>"quân tử nói đi nói lại"</em>. Giúp
người, người không mang ơn, lại còn bị cho là lật lọng thì
không còn gì đau bằng.

Cuối cùng, bài viết <a href="http://danluan.org/node/12656">"Tranh
chấp Trung-Phi tại bãi cạn Scarborough"</a> của tôi viết và
đăng báo trước khi <em>"bản tuyên bố ủng hộ"</em> ra
đời. Tức là nó <em>"vô tội"</em>. Ông Phạm Quang Tuấn
cũng gộp chung bài này vào đây để vạch lông tìm vết! Và
tôi cũng không không hiểu vì sao ông Phạm Quang Tuấn và Dương
Danh Huy cố gắng gán cho các đảo Hoàng Sa và Trường Sa của
Việt Nam một giá trị của hòn đá (chỉ có lãnh hải 12 hải
lý) trong khi các nước khác, Phi, Trung Quốc… đều cho các
đảo này có hiệu lực <em>"đảo"</em> (tức có lãnh hải,
thềm lục địa và ZEE)?

<strong>Trương Nhân Tuấn</strong>


***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/12745), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Chết vì tay Trung Quốc - Bài 1: Liều thuốc giải stress cho “những kẻ bị bắt nạt”

<strong>Ngày 15-5 vừa qua là tròn một năm ngày xuất bản cuốn
sách <em>Death by China</em> (Chết vì tay Trung Quốc) của hai học
giả Mỹ Peter Navarro và Greg Autry.</strong>

Cuốn sách có vẻ đã là một hiện tượng, ít nhất với độc
giả Việt Nam. Nó đã được dịch sang ba thứ tiếng Nhật
Bản, Triều Tiên và Việt Nam; hiện tại, bộ phim tài liệu
cùng tên cũng đang trong quá trình sản xuất.

Tên đầy đủ của tác phẩm phi hư cấu (non-fiction) này là
<em>Death by China</em> - Confronting the Dragon - A Global Call to Action,
tạm dịch: Chết vì tay Trung Quốc - Đối đầu với con rồng -
Lời kêu gọi hành động toàn cầu.

Cuốn sách được hoàn thành sau hai năm nghiên cứu của Peter
Navarro và Greg Autry. Nó ra mắt độc giả vào ngày 15-5-2011 và
tới ngày 4-6 thì được phát hành trên mạng Amazon. Có lẽ vì
xuất hiện đúng vào thời điểm tình hình tranh chấp chủ
quyền trên biển Đông đang căng thẳng, nhất là lại có sự
cố tàu hải giám và tàu cá Trung Quốc cắt và làm rối cáp
khảo sát địa chấn của tàu Việt Nam (ngày 26-5 và 9-6), nên
<em>Death by China</em> thu hút sự chú ý của dư luận: Chỉ trong
tuần đầu tiên, sách đã bán được hàng trăm ngàn bản trên
toàn cầu. Trên Amazon, <em>Death by China</em> được xếp hạng
bốn trên năm sao, nghĩa là khá hay.

<h2>Có quá gay gắt?</h2>

Một bài điểm sách trên tờ Huffington Post viết rằng <em>Death
by China</em> mô tả hàng loạt phương cách mà nước Trung Hoa đe
dọa an ninh thế giới: Từ can thiệp vào tiền tệ, đến chính
sách mậu dịch bóc lột, đến lao động nô lệ và những sản
phẩm tiêu dùng chết người.

Do đó, có thể thấy là ngôn ngữ, cách viết của hai tác giả
trong <em>Death by China</em> không tránh khỏi có phần gay gắt, có
những đoạn thật sự như lời kêu gọi toàn cầu cảnh giác
với <em>"âm mưu của chính quyền Trung Quốc"</em>, ví dụ,
ngay ở câu mở đầu chương I, phần I:

<em>"Chết vì tay Trung Quốc. Đây là một nguy cơ hết sức
thật mà tất cả chúng ta giờ đây đều phải đối mặt, khi
mà quốc gia đông dân nhất thế giới và sẽ sớm trở thành
nền kinh tế lớn nhất thế giới nhanh chóng biến thành kẻ ám
sát hiệu quả nhất hành tinh"</em>.

Hay là: <em>"Và đây là bí mật nhỏ bé và bẩn thỉu nhất
về tham vọng thực dân của Trung Quốc. Trong khi phong tỏa tài
nguyên thiên nhiên (của các nước) và giữ rịt lấy các thị
trường mới - đó là những mục tiêu chiến lược chính - thì
các nhà hoạch định chính sách ở trung ương của Bắc Kinh còn
muốn xuất khẩu một cách có hệ thống hàng triệu công dân
Trung Quốc sang "các nước vệ tinh" của họ ở châu Phi và
châu Mỹ Latin, nhằm làm giảm áp lực lên Trung Hoa lục địa
vốn đang trong tình trạng nhân mãn".</em>

<center><img
src="http://phapluattp.vcmedia.vn/gxUKUQfvwccccccccccccYgXYIPug/Image/2012/Thang-5/20-5/7chot_fb57f.jpg"
/></center>

<em>Theo tác giả cuốn sách, "vũ khí hủy diệt việc làm" là
những đòn Trung Quốc đánh vào kinh tế dẫn đến tình trạng
thu hẹp sản xuất, nhân công mất việc làm,thất nghiệp ở
các nước khác. Hí họa: POLITICALLY ILLUSTRATED</em>

Bên cạnh đó, xét về văn phong, nhiều chỗ trong cuốn sách
cũng mang giọng điệu dân tộc chủ nghĩa, như khi các tác giả
phàn nàn về sự <em>"ngây thơ"</em> của giới chính trị gia
các nước đối trọng với Trung Quốc: <em>"Tất cả chúng ta
đều nên phẫn nộ trước kịch bản này (tức là kịch bản
Trung Quốc trở thành nhà sản xuất công nghiệp hàng đầu thế
giới - NV). Thế nhưng trong những phòng khách của chính giới
ở Berlin, Tokyo, Washington, thái độ chung có vẻ rất giống với
thái độ của Rhett Butler trong tiểu thuyết Cuốn theo chiều
gió: "Cô bé thân mến ạ, tôi mặc xác""</em>.

Người đọc có thể thấy những nhận định như vậy có màu
sắc thiếu khách quan, hoặc ít nhất cũng mới dừng ở mức là
nhận định của cá nhân các tác giả, chứ chưa đủ lý lẽ
và bằng chứng thuyết phục để trở thành kết luận mang tính
khoa học. Ta có thể hỏi: Căn cứ vào đâu mà các tác giả cho
rằng giới lãnh đạo ở Đức, Nhật Bản và Mỹ đều
<em>"thờ ơ như Rhett Butler"</em> trước nguy cơ con rồng Trung
Hoa trỗi dậy và phun lửa… Hoặc, làm sao Peter Navarro và Greg
Autry có thể khẳng định 100% về ý đồ của chính quyền Trung
Quốc - xuất khẩu nhân công sang châu Phi và châu Mỹ Latin để
tránh nạn nhân mãn? Nếu thiếu những căn cứ xác thực, đủ
độ thuyết phục, thì các nhận định, cho dù là của nhà khoa
học, cũng rất dễ mang màu sắc… giai thoại.

<h2>Giá trị thông tin</h2>

Tuy vậy, trên thực tế, <em>Death by China</em> là kết quả của
quá trình nghiên cứu, khảo sát của hai tác giả tại nhiều
địa phương, nhiều công xưởng, nhà máy ở Trung Quốc. Và có
lẽ hai ông chủ ý chọn cách viết ngắn gọn, đi thẳng vào
vấn đề, để thông tin dễ đến với độc giả (dù có thể
tạo cảm tưởng chủ quan, chưa đủ thuyết phục).

Ở khía cạnh này, có thể nói <em>Death by China</em> là một
cuốn sách dày đặc thông tin, được trình bày theo một cách
dễ hiểu, ít số liệu và lý luận, để độc giả bình dân
có thể dễ dàng tiếp thu. Chẳng hạn, ở chương 2, nói về
những độc tố trong sản phẩm <em>"made in China"</em>, Peter
Navarro và Greg Autry trích lời một học giả Trung Quốc nói:
<em>"Các điều kiện nuôi trồng thủy sản ở Trung Quốc rất
tồi tệ. Nhà sản xuất nhồi nhét hàng ngàn con cá và tôm, cua
vào môi trường nuôi trồng, nhằm mở rộng sản xuất tới
mức tối đa. Điều đó tạo ra một lượng lớn chất thải,
gây ô nhiễm nước, lan truyền bệnh dịch, có thể làm chết
cả vụ cá nếu không xử lý kịp. Ngay cả khi cá, tôm, cua
không chết vì bệnh thì những vi khuẩn còn bám lại như Vibrio,
Listeria, Salmonella, có thể làm cho người ăn những sản phẩm
này bị nhiễm bệnh".</em>

Trong lúc chưa thể kiểm chứng những thông tin này, độc giả
Việt Nam có thể sử dụng chúng như thông tin tham khảo, thậm
chí còn có thể coi đó như một nguồn tham chiếu để <em>"soi
người, ngẫm ta"</em>: Rất nhiều điều mà Death by China nêu ra
có thể được liên hệ đến chính Việt Nam.

Ngoài ra, ngay cả cho dù phải đọc <em>Death by China</em> với tinh
thần khách quan và ít định kiến nhất, chúng ta cũng sẽ thấy
rằng điều đọng lại sau cuốn sách là sự tôn trọng những
quan điểm của nhà nghiên cứu, tôn trọng tự do học thuật.

<table>
<tr>
<td><em>Death by China</em> là cuốn sách của NXB Pearson Prentice Hall.
Hai tác giả Peter Navarro và Greg Autry đều là giảng viên tại
Đại học California-Irvine (Mỹ). Cuốn sách có các phần như:

<strong>Phần 1: "Buyer Beware on Steroids"</strong> (Người tiêu
dùng, hãy cẩn thận với Steroids): Đề cập đến những sản
phẩm độc hại như sữa có chất melamine, đồ chơi trẻ em
chứa độc tố…

<strong>Phần 2: "Weapons of Job Destruction"</strong> (Vũ khí hủy
diệt việc làm): Chính sách kìm giữ giá trị nhân dân tệ,
tăng cường xuất khẩu, gây thâm hụt thương mại cho thị
trường nước khác và đưa đến tình trạng thu hẹp sản
xuất, nhân công mất việc làm, thất nghiệp ở các nước
khác.

<strong>Phần 3: "We Will Bury you, Chinese Style"</strong> (Ta sẽ
chôn các ngươi theo kiểu Trung Hoa): Bàn về chiến lược hướng
ra biển, củng cố hải quân của Trung Quốc, đồng thời tiến
hành chiến tranh thông tin, đánh phá trên mạng…</td>
</tr>
</table>

<strong>ĐOAN TRANG tổng thuật</strong>

<em><strong>Kỳ sau: Chủ nghĩa thực dân Đại Hán</strong></em>

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/12749), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Đinh Tấn Lực - Quyết tâm đạt đến cái đích mà cả đảng không ai biết

<center><img src="http://danluan.org/files/u23/danluan_00276_0.jpg"
width="299" height="400" alt="danluan_00276_0.jpg" /></center>

Cách đây 5 năm, trên Yahoo!Việt Nam Hỏi & Đáp có người nêu
một câu hỏi cứ tưởng đâu ngô nghê ngờ nghệch:

<a
href="http://vn.answers.yahoo.com/question/index?qid=20071011053415AA8eZ2r">"Tại
sao gọi là tranh trừu tượng?".</a>

Lời đáp hay nhất, do chính người đặt câu hỏi bình chọn,
như sau:

<div class="special_quote"><em>"Màu sắc là tiếng nói trực tiếp,
trào tuôn từ tâm (hồn) người nghệ sĩ, không qua trung gian
của lý trí mà tranh trừu tượng là điển hình. Những nét
chấm phá đậm lợt là một thứ ngôn ngữ vô thanh, âm hưởng
vào lòng người thưởng ngoạn tùy theo mức độ tâm thức,
tạo nên những rung cảm khác nhau, do đó cái nhìn cũng khác
nhau. Cùng một bức tranh, mỗi người nhìn và cảm khác nhau,
thật là kỳ diệu!</em>

<em>Phần đông, khi xem tranh trừu tượng người ta đều không
hiểu, bởi cách đặt vấn đề sai, bao giờ cũng nghĩ tranh là
phải vẽ một cái gì đấy cụ thể. Họ không biết rằng các
họa sĩ thường vẽ bằng cảm giác, vì vậy, mỗi khi xem tranh
trừu tượng mọi người đừng quá cầu kỳ, hãy nghĩ giản
đơn và trong sáng như một đứa trẻ, khi đó những nét đẹp
sẽ toát ra từ các bức tranh trừu tượng".</em></div>

Người trả lời có ghi trích nguồn: Theo tạp chí Nghệ Thuật.

Lại có câu trả lời khác, dù không được bình chọn và sắp
hạng, nhưng cũng đáng quan tâm:

<div class="special_quote">
<em>"…Từ đó nảy sinh nhiều trường phái khác nhau trong tranh
trừu tượng</em>

<em>Tùy thiên hướng của người họa sĩ mà theo 1 trong 2
hướng: </em>

<em>+ Trọng hình hơn trọng màu: trường phái tả thực,
trường phái siêu thực…v..v..</em>

<em>+ Trọng màu hơn trọng hình: trường phái dã thú, trường
phái lập thể..v..v..".</em></div>

À há! Eureka! Đây rồi! (Xin phép các họa sĩ đáng kính,) Thế
là rõ:

Chủ Nghĩa Xã Hội của ta là loại bánh ga-tô có đủ cả 5
tính chất nói trên: Trừu tượng, Tả thực, Siêu thực, Lập
thể, và, dễ nhận dạng nhất: Dã thú.

Vì sao à?

<center>*</center>

Tạp chí <a href="http://www.talawas.org/?p=24635">Học Tập</a>, số
35, tường thuật bài phát biểu của Hồ Chí Minh trong Đại
hội Đảng Toàn quốc lần thứ II tại Việt Bắc, vào tháng 3
năm 1951, có đoạn như sau:

<div class="special_quote">"Là vì trong chính trị, cũng như trong
mọi mặt công tác khác, Đảng ta có một chủ nghĩa cách mạng
nhất, sáng suốt nhất, đó là chủ nghĩa của ba ông kia kìa:

(Hồ-Chủ-tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung
3 vị lãnh tụ: <strong>Marx, Engels, Lénine</strong>)

(Đại hội vỗ tay vang dậy)

Đó là nhờ chúng ta, toàn giai cấp lao động thế giới, toàn
quân đội nhân dân thế giới có một ông Tổng tư lệnh là
ông kia kìa.

<em>(Hồ-Chủ-Tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân
dung đồng chí: <strong>STALINE</strong>)</em>

<em>(Đại hội vỗ tay dậy vang và cùng đứng dậy hô lớn)</em>

<em>(Đồng chí Staline muôn năm!</em>)…"</div>

Té ra, rõ ràng, cái Chủ Nghĩa Xã Hội mà Hồ Chí Minh đánh giá
là cách mạng nhất, sáng suốt nhất, chính là một bức tranh
trừu tượng của người khác.

Mà ngay cả tác giả của bức tranh trừu tượng đó cũng không
hề coi ra gì đám xem tranh, cho dù là họ đang nức lòng chỉ tay
hướng mặt về bức hình tác giả:

<div class="special_quote"><em>"Staline vốn không coi Hồ Chí Minh là
cộng sản chân chính. Ông Phạm Văn Đồng có lần nói với anh
Hoàng Tuệ, khi hai người cùng công tác ở Liên Xô: Năm 1950,
Staline triệu Hồ Chí Minh sang gặp. Ông ta không gọi Hồ Chí
Minh là đồng chí "</em>. (Hồi Ký Nguyễn Đăng Mạnh).</div>

Đã vậy,

<div class="special_quote"><em>"…Khi thành lập Đảng Cộng sản
Việt Nam ở Hồng Kông, Nguyễn Ái Quốc có đưa ra một văn
bản gọi là <strong>Chính cương vắn tắt</strong>, phân tích
tình hình giai cấp sát với thực tế Việt Nam, nhất là về
giai cấp địa chủ (chế độ công điền khiến địa chủ
không phát triển được, vì thế địa chủ ở Việt Nam có
thể phân hóa được). Staline bèn phái Trần Phú về nước,
vất chính cương của Nguyễn Ái Quốc đi, thay bằng Luận
cương Trần Phú đã được đóng dấu ở Mạc Tư Khoa, và đặt
tên đảng là Đảng Cộng sản Đông Dương. Staline còn chủ
trương vô hiệu hóa Nguyễn Ái Quốc đối với cách mạng Việt
Nam".</em> (Hồi Ký Nguyễn Đăng Mạnh).</div>

Mà, coi nào, trong <em>Chính Cương</em>, Hồ Chí Minh đã viết
những gì gọi là cốt lõi?

<div class="special_quote"><em>"Đảng phải hết sức liên lạc
với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, (thanh niên, Tân Việt,
phái Nguyễn An Ninh v.v…) để kéo họ đi về phe giai cấp vô
sản. Còn đối với bọn phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư
bản Việt Nam thì phải lợi dụng, ít nữa làm cho họ trung
lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (Đảng Lập
hiến v.v…) thì phải đánh đổ. Trong khi liên lạc tạm thời
với các giai cấp, phải rất cẩn thận, không khi nào nhượng
bộ một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào đường
lối thỏa hiệp"</em>. (Hồ Chí Minh, <em>Toàn tập</em>, Tập 2,
trang 297).</div>

Nghị quyết 6 của Trung ương đảng tháng11/1939 đề ra khẩu
hiệu <em>"Công nông phải đưa cao cây cờ dân tộc lên"</em>,
và cả đảng có sứ mệnh phải <em>"Dự bị những điều
kiện bước tới bạo động làm cách mạng giải phóng dân
tộc"</em>.

Sắt máu tới vậy mà vẫn chưa vừa bụng Stalin!

Có nghĩa rằng tác giả bức tranh trừu tượng XHCN, kiêm Tổng
tư lệnh nói trên, không đánh giá ngược rằng tay thưởng
ngoạn như Hồ có đủ tầm xứng đáng để thưởng ngoạn.

Vậy thì, làm sao biết được Chủ Nghĩa Xã Hội đó tròn méo
ra sao, và làm sao tin nổi cái mà hắn đã từng cả đời ba hoa
mô tả lại rằng nó đẹp lắm, <em>cách mạng nhất, sáng suốt
nhất?</em>

Thêm một chi tiết khác:

<div class="special_quote"><em>"Ngày 16-9-1943, ông Hồ được trả
lại tự do, cuốn Nhật kí trong tù vẫn được ông giữ cẩn
thận.</em>

<em>Ngày 14-9-1955, ông đưa tác phẩm này cho ông Nguyễn Việt,
Trưởng ban Tổ chức Triển lãm Cải cách Ruộng đất tại phố
Bích Câu: 'Tôi có quyển sổ tay cách đây mười mấy năm còn
giữ được đến bây giờ, các cô, các chú xem có triển lãm
được thì dùng'. Nguyễn Việt đưa vào triển lãm, bày ở
phòng <strong>'Ngọn đuốc soi đường của Đảng Cộng sản
Đông Dương'</strong>…". </em>(Hồi Ký Nguyễn Đăng
Mạnh).</div>

Tức là, đối với giới thưởng ngoạn cấp 2, ngọn đuốc soi
đường cho họ không hẳn là bức tranh trừu tượng CNXH của ba
ông/bốn bà nào sất, mà (thảm thay,) chỉ là mấy bài thơ trong
tù của người xem tranh cấp 1.

Chẳng nghi ngờ gì thêm nữa. Gia tài của Hồ Chí Minh chỉ có
thế.

Còn, CNXH của Hồ, với tính thật thà nói trên, hẳn phải là
loại ga-tô tả thực?

<center>*</center>

Lê Duẩn, người Bích La thôn, Quảng Trị, nổi tiếng trong 3
năm đổi đảng 3 lần: 1928 – Tân Việt Cách Mạng đảng; 1929
– VN Thanh Niên Cách Mạng Đồng Minh hội; 1930 – Đông Dương
Cộng Sản đảng.

Đến 1951, Lê Duẩn vào BCH/TW và Bộ chính trị, ngay trong đại
hội toàn đảng kỳ II mà Hồ Chí Minh chỉ hình 3 ông trên vách
vừa nói.

Có người bảo uy tín của Lê Duẩn bấy giờ, vượt mặt Đại
tướng Võ Nguyên Giáp, phần lớn là nhờ vào <em>"bằng
cấp"</em> ở tù dài hạn và nhiều lần, y hệt như ý tứ ẩn
dụ của người bày quyển <em>Nhật kí trong tù</em> vào phòng
triển lãm<em> Ngọn đuốc soi đường</em>… vừa kể.

Lại có người khẳng định uy tín đó có được là bởi niềm
tin son sắt của Lê Duẩn vào phương thức phát triển Xô viết
và các nguyên tắc kiểu Stalin hứa hẹn phù hợp mục tiêu
<em>"thực hiện công nghiệp hóa XHCN bằng cách ưu tiên phát
triển công nghiệp nặng"</em>.

Từ đại hội IV (1976), Lê Duẩn giữ chức Tổng bí thư đảng
cho tới chết (1986), với dấu ấn đậm màu về cuộc thanh
trừng <em>"chủ nghĩa xét lại hiện đại"</em> long trời lở
đất, và được cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt tuyên dương là
<em>"ngọn đèn 200 nến"</em>.

<div class="special_quote"><em>"Giống như Mao và Stalin, Lê Duẩn
khao khát quyền lực tuyệt đối. Thông qua việc cô lập ông
Hồ, ông Giáp và các đồng minh của họ trong đảng, Lê Duẩn
đã thiết lập một bộ máy lãnh đạo ở Hà Nội không chỉ
trung thành mà còn chung quyết tâm hoàn tất các mục tiêu cách
mạng".</em> (Pierre Asselin).</div>

Tác phẩm <em>"để đời"</em> của Lê Duẩn, ngoài vụ án
<em>"xét lại/chống đảng"</em>, chính là bản Đề Cương
Cách Mạng Miền Nam (1956 – hợp thức hóa 1959 – một giai
đoạn mà Trần Văn Giàu đánh giá là đen tối nhất của CSVN).

<div class="special_quote"><em>"Trong Đề cương, anh Lê Duẩn sớm
nêu lên ý tưởng sâu sắc sử dụng bạo lực cách mạng cùng
với ý tưởng tập hợp toàn thể các tầng lớp nhân dân, ý
tưởng tổng khởi nghĩa giành chính quyền để giải phóng
miền Nam"</em>. (<a
href="http://vietbao.vn/Xa-hoi/Nghi-quyet-T-U-ve-giai-phong-mien-Nam-ra-doi-nhu-the-nao/70084397/157/">Hoàng
Tùng</a>).</div>

Cụ thể ra, Võ Văn Kiệt phục Lê Duẩn ở 3 công trình trọng
điểm: Xua quân dàn trận Mậu Thân, trận Đường 9 Nam Lào, và
trận Cổ Thành Quảng Trị. Hai công trình phụ trội của Lê
Duẩn mà Võ Văn Kiệt không dám nhắc là trận đánh chiếm Nam
Vang/Siêm Rệp và trận phản công Cao Bằng/Lạng Sơn. Rất tiếc
là các công trình đó không đạt yêu cầu, trong lúc toàn dân
phải cắn răng đánh đổi bằng nhiều vạn bộ đội con em
của họ.

Ngược lại, về mặt tư tưởng, có thể vinh danh là một phiên
bản CNXH, họa sĩ Lê Duẩn cũng có tác phẩm để đời:

<div class="special_quote"><em>"Anh không tán thành áp đặt thể
chế nhà nước 'chuyên chính vô sản' khi mà nhân dân đã
giành được quyền làm chủ đất nước bằng những hy sinh
không sao kể xiết. Không thể 'vô sản' lại chuyên chính
với chính mình, với nhân dân. Tư tưởng về <strong>'Làm Chủ
Tập Thể'</strong> mà Anh nung nấu chính là sự cố gắng tìm
đường bứt phá ra khỏi những công thức giáo điều không
phản ánh được sự vận động và biến đổi của cuộc
sống, xa rời ý chí và nguyện vọng của nhân dân"</em>.(<a
href="http://vietbao.vn/Chinh-Tri/De-cuong-cach-mang-mien-Nam-Tam-voc-tu-duy-Le-Duan/20601493/96/">Võ
Văn Kiệt</a>).</div>

Cốt lõi là vậy, chi tiết thế nào?

<div class="special_quote">"Có thể tóm tắt một số ý để minh
chứng những suy nghĩ đó của Anh:
<ul>
<li>Dân chủ đến mức thực sự nhân dân làm chủ, con người
làm <em>chủ tập thể.</em></li>
</ul>
<ul>
<li>Phát huy dân tộc và phát huy cá nhân từng người.</li>
</ul>
<ul>
<li>Vận dụng thị trường để xây dựng chủ nghĩa xã
hội…</li>
</ul>
<ul>
<li>Quá trình tạo dựng xã hội mới là quá trình nảy sinh
chứ không phải chỉ là quá độ.</li>
</ul>
<ul>
<li>Khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế…</li>
</ul>
<ul>
<li>Cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt…</li>
</ul>
<ul>
<li>Phải vươn lên văn hóa và tri thức tiên tiến…</li>
</ul>
<ul>
<li>Bảo vệ Tổ quốc, giữ vững quốc phòng và an ninh bằng
lòng dân, sức dân…</li>
</ul>
<ul>
<li>Đảng lãnh đạo, Đảng không cai trị, Đảng phát huy Nhà
nước là công cụ chủ yếu, sắc bén nhất để dân làm
chủ.</li>
</ul>
<ul>
<li>Đảng viên nhất thiết không được quan liêu, sách nhiễu
và ăn cắp của dân. Đưa ngay những kẻ như vậy ra khỏi
Đảng.</li>
</ul>
<ul>
<li>Con người Việt Nam là con người của lẽ phải và tình
thương, tình thương và lẽ phải"</li>
</ul>. (<a
href="http://vietbao.vn/Chinh-Tri/De-cuong-cach-mang-mien-Nam-Tam-voc-tu-duy-Le-Duan/20601493/96/">Võ
Văn Kiệt</a>).</div>

Trên thực tế, qua nhận xét của một học giả nước ngoài:

<div class="special_quote"><em>"Niềm tin rằng phong trào cách mạng
quan trọng hơn mọi quyền lợi cá nhân đã dẫn tới sự coi
thường quyền và lợi ích của nhân dân, và thường trở thành
lý cớ cho việc lạm dụng quyền lực của những cán bộ,
những người coi thường quy tắc pháp trị tư sản, và cho
rằng mục tiêu cách mạng có thể biện minh cho phương
pháp"</em>. (Pierre Asselin).</div>

Với tư duy <em>Làm Chủ Tập Thể</em> này, được coi là tư
tưởng cốt lõi về CNXH của Lê Duẩn, chỉ ¼ thế kỷ sau khi
Lê Duẩn đi dự hội nghị với Mác, đảng viên CSVN đã tự
động lật ngược điều áp chót vừa nói, để chia đất/giành
đất/cướp đất, bằng một tác phẩm mới cáu là "giải
phóng mặt bằng", và tự biến thành những triệu phú, thậm
chí cả tỷ phú đỏ đít.

Ai làm chủ tập thể? Chắc chắn không phải dân:

<div class="special_quote"><em>"Tôi vẫn nhớ, có lần trong những
năm 60, trong một cuộc họp ở Đồ Sơn, Anh đã nổi nóng với
Chính phủ: 'Chúng ta cầm quyền mà không lo nổi rau muống và
nước lã cho dân thì nên từ chức đi…'. Anh Tô (<a
href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Phạm_Văn_Đồng">Phạm Văn
Đồng</a>) không nói một lời"</em>. (Trần Phương –
VNeconomy.vn 06/12/2009).</div>

Năm 1976, Lê Duẩn hồ hởi tuyên bố: <em>"Trong vòng mười năm
nữa, mỗi gia đình ở Việt Nam sẽ có một radio, một TV và
một tủ lạnh"</em>.

Năm 1986, ngay lúc hấp hối, vào giai đoạn đen tối nhất của
kinh tế VN, Lê Duẩn đã thiết tha lệnh cho Chủ tịch Ủy ban
Kế hoạch nhà nước là bằng mọi cách, <em>"nhân dân thủ
đô Hà Nội phải có dự trữ gạo đủ 2 tháng ăn"</em>. Nhớ
là chỉ riêng nhân dân Hà Nội!

Đã có một vài học giả đồng ý với nhận xét: Những thay
đổi ngay sau năm 1986 ở Việt Nam, khi Lê Duẩn chuyển sang từ
trần, cũng có thể được xem là tương tự giai đoạn <em>"tan
băng"</em> ở Liên Xô sau khi Stalin qua đời. Nghĩa là chấm
dứt một thời kỳ thổ tả thượng hạng ngoại hạng.

Còn trong nội bộ đảng?

<div class="special_quote"><em>"Sau khi Lê Duẩn qua đời, những
người lãnh đạo đất nước, những người trước đó đã ca
ngợi Lê Duẩn (hay) không dám hé răng nói một lời xấu về Lê
Duẩn, đã cố ý hay vô tình để cho chiến dịch bôi nhọ và
phủ định Lê Duẩn ngày càng qui mô hơn"</em>. (Trần Quỳnh,
nguyên thư ký riêng của Lê Duẩn).</div>

Tức là đảng viên chỉ phải khen lúc sống, sau đó quá mừng
vì đã cất gánh nặng về một chế độ Stalin ngay trong nội
bộ đảng:

<div class="special_quote"><em>"Lê Duẩn có kẻ thù ở hầu khắp
mọi nơi".</em> (Pierre Asselin).</div>

Sau cùng, CNXH của Lê Duẩn, với tính nghi ngờ hết thảy mọi
người, chính là cha đẻ của truyền thống chia ghế 3 vị trí
lãnh đạo theo công thức cân bằng vùng miền, hầu tránh tái
diễn một đảng nhỏ cầm quyền đảng lớn có tên là
Duẩn-Thọ-Thanh.

<div class="special_quote"><em>"Triều đại Lê Duẩn – Lê Đức
Thọ là triều đại thiết lập và khẳng định chuyên chính vô
sản, hay nói cho đúng hơn, chuyên chính vô sản lưu manh –
Lumpenproletariat… Áp đặt là phép trị dân mang tính chiến
lược. Không áp đặt được thì khủng bố"</em>. (Vũ Thư
Hiên – <em>Đêm giữa ban ngày</em>).</div>

Lê Duẩn nắm giữ chức Tổng bí thư lâu nhất lịch sử CSVN:
25 năm và 303 ngày. Vào những ngày cuối, lạm phát VN vượt lên
mức kỷ lục: 774% (bảy trăm bảy mươi bốn phần trăm).

Phiên bản CNXH của Lê Duẩn chính là chiếc khẩu trang của
Liên Xô có in hình 2 chữ S. Chữ S đầu là Stalin. Chữ S sau là
lãnh thổ VN. Khi dân bịt vào thì miễn ăn và hết nói. Còn
đảng viên bịt vào thì …vô phương nhận diện.

Đó là loại ga-tô CNXH dã thú.

<center>*</center>

Nguyễn Văn Linh, gia nhập đảng cộng sản Đông Dương năm 1936,
mãi 40 năm sau, tại Đại hội Đảng lần thứ IV thì được
bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và <a
href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Bộ_Chính_trị_Ban_Chấp_hành_Trung_ương_Đảng_Cộng_sản_Việt_Nam">Bộ
Chính trị</a>, Ban Bí thư Trung ương, giữ chức <strong>Trưởng
ban Cải tạo Xã hội Chủ nghĩa của Trung ương.</strong>

Đến đại hội V, Nguyễn Văn Linh rút khỏi TW, nhường chỗ cho
Võ Văn Kiệt. Về sau, đương sự giải thích với Võ Trần Chí
rằng: <em>"Bởi vì mình thấy các anh ấy không muốn mình ở
đó nên mình xin rút…"</em>. Các anh ấy, ở đây, chính là
mỗi mình Lê Đức Thọ.

Tháng 7 năm 1983, nhân cơ hội Lê Duẩn đi nghỉ mát ở Liên Xô,
còn Trường Chinnh, Phạm Văn Đồng và Võ Chí Công nghỉ mát ở
Đà Lạt, Nguyễn Văn Linh đã tổ chức cuộc <em>"Hội Nghị
Đà Lạt"</em> kéo dài vừa đúng một tuần lễ, trước khi Lê
Duẩn hồi giá.

Tháng 12 năm 1986, tại Đại hội Đảng lần thứ VI, Nguyễn Văn
Linh được bầu vào BCH/TW, Ủy viên BCT, giữ chức Tổng Bí
thư:

<div class="special_quote"><em>"Đại hội VI kết thúc bằng sự
lên ngôi của một nhân vật không mấy tiếng tăm là Nguyễn
Văn Linh, bí danh Mười Cúc. Câu chuyện ngụ ngôn của La Fontaine
về hai anh nông dân và con sò được thiên hạ nhắc tới nhiều
trong thời kỳ này"</em>. (Vũ Thư Hiên – <em>Đêm giữa ban
ngày</em>).</div>

Chính NVL cũng biết rất rõ trận chiến giành ghế giữa
Trường Chinh và Lê Đức Thọ thời bấy giờ:

<div class="special_quote"><em>"Anh Nguyễn Văn Linh đã nói nhiều
lần ở Hội nghị Trung ương: 'Tôi có được chuẩn bị làm
Tổng Bí thư đâu', và lúc cần quá, phải đi tìm người, anh
Linh ví: 'Chẳng khác gì cầm bó đóm đi tìm ếch, tìm không
được ếch, lại bắt được nhái'…"</em>. (Đoàn Duy Thành
– <em>Hồi Ký</em>)</div>

Và không một ai tin chuyện nhái ễnh bụng thành bò:

<div class="special_quote"><em>"Từ năm 1986 đến 1991 trong nhiệm
kỳ làm Tổng Bí thư, Nguyễn Văn Linh đã góp phần có ý nghĩa
quyết định làm xoay chuyển tình thế, mở đường cho sự
nghiệp đổi mới tiến lên. Nhằm khắc phục những bất cập,
lạc hậu của cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp của Việt
Nam, ông đã đưa ra những ý tưởng mới, quan niệm mới, cách
làm mới. Kiên quyết làm gương về chống tác phong quan liêu, xa
dân, từ bỏ những đặc quyền đặc lợi, ông đã bỏ chế
độ lãnh đạo cấp cao đi máy bay chuyên cơ trong nước, đi
công tác bằng xe Lada không có máy điều hoà (tiêu chuẩn dùng
cho cấp Thứ trưởng); vào Nam ra Bắc đi máy bay chung với mọi
người; cắt giảm chế độ bảo vệ an ninh,… "</em>. (Phạm
Quang Nghị, Hồi Ức, 07/01/2010).</div>

Đó là một phần nội dung <em>"đổi mới hay là chết"</em>
được trình bày trong Hội nghị Đà Lạt nói trên.

<div class="special_quote"><em>"Trong cuộc đời mình, tôi chưa
từng thấy vị lãnh đạo nào dám lội ngược dòng chính trị,
ngược dòng lịch sử – lội ngược mà không chìm như anh
Nguyễn Văn Linh… Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV,
đang nằm trong Bộ Chính trị thì đến cuối nhiệm kỳ, anh Linh
đã xin rút rồi được phân công trở về làm Bí thư Thành ủy
TPHCM vào đúng thời kỳ cam go nhất. Anh đã vực dậy kinh tế
TP, trở lại tham gia Bộ Chính trị rồi trở thành Tổng Bí
thư. Mọi biến động, thăng trầm trong cuộc đời làm cách
mạng, làm chính trị đi ngang qua anh và anh đón nhận tất cả
với một thái độ bình thản đến lạ lùng"</em>. (Võ Trần
Chí).</div>

Nguyễn Văn Linh còn nổi tiếng với một số bài báo Những
Việc Cần Làm Ngay, ký tên N.V.L. đăng trên tờ Nhân Dân.

Bài báo thứ nhì của N.V.L., ngày 26/5/1987, đề cập thẳng
đến khái niệm <em>"Im lặng đáng sợ"</em> đối với việc
giải quyết thư khiếu nại, tố cáo của nhân dân. Cho thấy
tính chất makeno của CNXH không phải chỉ mới xuất hiện gần
đây.

<div class="special_quote"><em>"Nhà báo phải có tấm lòng cương
trực: yêu người làm đúng, làm tốt để ca ngợi; ghét kẻ
làm xấu, làm sai, làm ác để lên án".</em> (N.V.L. – Nhân
Dân, 24/6/1987).</div>

Khẩu hiệu nổi tiếng thời bấy giờ là: "<em>đổi mới thì
sống, không đổi mới thì chết"</em>. Và được các báo
tuyên dương là <em>"Người tìm đường trong mớ bòng bong",
"Chứng Nhân của một thời xé rào lịch sử", "Người CS
mẫu mực, sáng tạo", "Thuyền trưởng đổi mới",
"Người mài sắc ngòi bút báo chí", "Người dám nhổ cỏ
dại cho lúa mọc lên"…</em>

<div class="special_quote"><em>"Tiếc thay, sau khi phấn khởi thổi
bùng lên làn gió đổi mới, chính Nguyễn Văn Linh lại bị cảm
lạnh bởi chính làn gió ấy"</em>. (Vũ Thư Hiên – <em>Đêm
giữa ban ngày</em>).</div>

Tại buổi lễ kỷ niệm lần thứ 10 Quốc khánh Cộng hòa Nhân
dân Campuchia, Nguyễn Văn Linh tuyên bố Việt Nam sẽ rút hết
quân khỏi Campuchia vào tháng 9/1989. Đây là điều kiện ắt có
để thế giới thu hồi lệnh cấm vận kinh tế VN suốt 10 năm
qua.

<div class="special_quote"><em>"Năm 1981, khi đồng chí Nguyễn Văn
Linh trở về TPHCM làm Bí thư Thành ủy thì kinh tế TP đã
xuống đến tận đáy vì không còn tư liệu để sản xuất.
Biết tôi có mối quan hệ với một số nhà tư bản người Hoa,
anh Mười Cúc phân công tôi đi liên hệ để tìm cách nhập
sợi về cứu ngành dệt TP. Bước đầu, chúng tôi nhờ các
thương nhân người Hoa mua một số hàng như sợi thuốc lá,
sợi dệt, xăng dầu, sau đó đi thu gom các mặt hàng như mực
khô, tôm khô, đậu phộng, đồ thêu, sơn mài… để đổi. Giá
cả đều tính ra USD và trao đổi bằng hiện vật. Lúc đó,
TPHCM là nơi duy nhất của cả nước có USD. Có thể nói, nếu
không có sự bảo trợ mạnh tay của lãnh đạo TP mà đứng mũi
chịu sào là anh Mười Cúc thì TPHCM khó có thể tháo gỡ
được 'cơn đói' nguyên liệu sản xuất"</em>. (Lâm Tư
Quang).</div>

CNXH, bấy giờ, rõ ràng là đã dị dạng.

Một chuyện nhỏ được chính người trong cuộc kể lại: Sáu
Hoa là "đệ tử" của NVL, mua được chiếc mô tô cũ…

<div class="special_quote"><em>"Bữa nọ, thấy Sáu Hoa đang hì hụi
lau chùi chiếc mô tô, anh Sáu (bí số của NVL, còn gọi là
Mười Cúc) bước tới và nói: 'Tôi cũng thích cái xe này
quá! Chú để tôi đi thử một đoạn đường được không?'.
Sáu Hoa phân vân vì loại xe này chạy ra đường rất dễ bị
bọn cảnh sát thổi lại để hỏi bằng lái, giấy tờ, mục
đích là muốn ăn tiền. Người như anh Sáu mà dây dưa với
cảnh sát là không ổn"</em>. (Đoàn Khắc - ghi theo lời kể
của ông Phạm Văn Hoa, nguyên cán bộ Cơ quan T78 thuộc Ban Tài
chính – Quản trị Trung ương).</div>

Té ra, CNXH thời sinh tử cũng đã coi là bình thường chuyện
huơ gậy thu tiền lẻ ngoài phố.

Nó là cái bánh ga-tô trừu tượng nhồi nhân đường thốt
nốt, còn được gọi là ga-tô cứu giá.

<center>*</center>

Còn, chuyện bạc chẵn, ở mức triệu đô, thì đã có đồng
chí Đỗ Mười.

Nguyễn Văn Linh trao lại ngai vàng và cái di sản CNXH mạ vàng
vừa nói trong một bối cảnh thế giới vừa vẽ lại bản đồ
mà không đổ máu. Bấy giờ, phi liều mạng bất thành tổng bí
là ở chỗ đó.

Đỗ Mười tên thật là Nguyễn Duy Cống, giữ chức Tổng bí
thư BCH/TW đảng CSVN từ tháng 6, 1991 đến tháng 12, 1997 (có
thể tham khảo thêm tư tưởng và quá trình hoạt động <a
href="http://danluan.org/node/4457">ở đây</a>).

<div class="special_quote"><em>"Mọi người đều biết ông đang
dưỡng bệnh. Mà bệnh của ông là bệnh tâm thần, nói nôm na
là điên, không ai dám nói chắc (rằng) ông sẽ khỏi. May, ông
không la hét om xòm, không đánh trẻ con hay chọc ghẹo đàn bà,
không hoa chân múa tay lảm nhảm, chỉ trèo tường leo cây, lúc
tỉnh lúc mê, tha thẩn trước cửa nhà"</em>. (Vũ Thư Hiên –
<em>Đêm giữa ban ngày</em>).</div>

Không ai rõ có phải vì công năng leo tường và lảm nhảm đó,
hay tiên tri được thành quả 91 tuổi vẫn có con mọn, mà Phạm
Tiến Duật đã có bài thơ đểu ca ngợi Đỗ Mười: Một trái
tim không thể nào già?

Thế nhưng theo Lê Khả Phiêu, thì trong cao điểm chiến tranh,
Đỗ Mười đã từng trực tiếp chỉ đạo xây dựng đường
ống dẫn dầu bí mật từ Lạng Sơn vào chiến trường miền
Nam, bất chấp kiến thức.

Một người khác, từng là nạn nhân <em>"tru di"</em> của Lê
Duẩn, đánh giá Đỗ Mười, như sau:

<div class="special_quote">"Kiên định cách mạng, không sợ gian
khổ, tính nết lại thực thà, tiếc cho ông không được học
hành nhiều, do đó không cáng đáng nổi những nhiệm vụ cần
đến kiến thức". (Vũ Đình Huỳnh – theo lời kể của Vũ
Thư Hiên).</div>

Phải tầm cỡ đó mới dám giương cao khẩu hiệu: <em>"nhiệm
vụ kinh tế là trung tâm và nhiệm vụ xây dựng Đảng là then
chốt"</em> trước 4 nguy cơ đang nhe răng cười nụ với
đảng: 1) Tụt hậu; 2) Chệch hướng XHCN; 3) Tham nhũng; và 4)
Diễn biến hòa bình.

Vẫn theo lời khen đểu (lại thêm phản biền ngẫu) của Phiêu,
người ta còn nhận ra ở Đỗ Mười các tính chất bỗ bã và
ba phải:

<div class="special_quote"><em>"Nhưng càng gần anh, càng hiểu anh,
tôi càng thấy ở anh là một người nói to, nói lớn nhưng làm
nhiều, là một đồng chí lãnh đạo thực sự cầu thị, có
lúc anh nói rất căng nhưng khi được nghe trình bày lại một
cách cặn kẽ thì anh sẵn sàng thay đổi quan điểm, thay đổi
nhận xét cả trong các công việc, cả trong những con người
cụ thể. Anh là một người vì lẽ phải, nghe lẽ phải, chính
anh là người đóng góp tích cực cho Nghị quyết của Trung
ương về xây dựng cơ chế dân chủ cơ sở"</em>. (Lê Khả
Phiêu – Đỗ Mười, con người của hành động).</div>

Chỉ riêng một việc nhất quyết không thể ba phải: Đỗ
Mười tuyên bố Đảng không thay đổi nhận định đối với
vụ <em>"nhóm xét lại chống Đảng"</em>. Và, vẫn còn ngay
đó một điều chắc nịch: Đảng là tao!

Hầu hết các tay trùm CSVN đều học được đặc tính chắc
nịch đó từ Lê Duẩn và Lê Đức Thọ, dựa vào yếu tố
<em>"khai quốc công thần"</em>. Đỗ Mười có công gì, ngoài
việc đề xuất danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng?

<div class="special_quote"><em>"Là người hiền lành, ít nói, chịu
nghe lời bề trên. Ông cũng nổi tiếng kiên quyết, đã nói là
làm. Với Đảng, ông có công trạng. Chính ông đã kiên quyết
đập tan sự 'trỗi dậy' của giai cấp tư sản miền Bắc
trong cuộc cải tạo công thương nghiệp những năm 1959-1960.
Cũng ông đã phá tan nền công nghiệp nhẹ miền Nam trong cuộc
cải tạo tư sản sau chiến thắng 1975"</em>. (Vũ Thư Hiên
–<em> Đêm giữa ban ngày</em>).</div>

Một công trạng khác là hợp thức hóa nền tảng Tư Pháp Thả
Rông cho thành truyền thống, song song với cái Nghị Định 31/CP
14/4/1997 để đời của Võ Văn Kiệt:

<div class="special_quote"><em>"Cùng với vụ xử Hoàng Minh Chính
(bị giam lần thứ ba – 1995) bắt đầu một thời kỳ mới,
thời kỳ cuộc đổi mới cài số lùi, thời kỳ ông Đỗ
Mười hạ lệnh cho các quan tòa xử lấy được, bất chấp
đúng sai. Với cách giải thích luật pháp của Đảng không ai
có thể biết cái lằn ranh các quyền tự do dân chủ được
Đảng đặt ở đâu, cho nên công dân nào đi loạng quạng đều
có cơ may bị các cảnh sát viên mác-xít thổi còi tống vào
bót. Lê Đức Thọ chết rồi, nhưng hồn ma của Thọ vẫn lởn
vởn trên cung đình"</em>. (Vũ Thư Hiên – <em>Đêm giữa ban
ngày</em>).</div>

Bằng cách nào họ được ủng hộ trong đảng? Các tay trùm
đảng đã dựng nên những hàng rào gia nô/bảo vệ/hộ lý/đàn
em trung thành quanh mình, qua những động thái có mỹ danh là
<em>"tác thành"</em>, tức là đề bạt chức quyền. Đỗ
Mười còn dồn sức ra tay tác thành cho cả con rể và con nuôi.
Từ đó, đám đệ tử kết cỏ ngậm vành này chính là những
hàng rào chống lưng ngược cho họ:

<div class="special_quote"><em>"Những Đào Duy Tùng, Nguyễn Đức
Bình, Trần Trọng Tân mà Đỗ Mười dựa vào, trước kia đã
mao-ít, nay còn mao-ít hơn nữa trong sự sáng tạo ra một chủ
nghĩa Mác kỳ cục, đầy tính chất ngụy biện, chẳng có gì
giống chủ nghĩa Mác kinh điển. Mọi việc làm của họ chỉ
nhằm bảo vệ vị trí lãnh đạo độc tôn của Đảng, hay là
của họ thì cũng thế. Cái gọi là đường lối xây dựng xã
hội chủ nghĩa bằng kinh tế thị trường có điều tiết theo
định hướng xã hội chủ nghĩa ra đời chính là trong thời
kỳ này"</em>. (Vũ Thư Hiên – <em>Đêm giữa ban
ngày</em>).</div>

Báo Lao Động ngày 21/4/2001 có bài tường thuật một cuộc
phỏng vấn của báo nước ngoài. Ký giả hỏi: - Theo ngài thì
chủ nghĩa xã hội có tương lai trong thế kỷ XXI không? TBT Đỗ
Mười trả lời: - Chủ nghĩa xã hội nhất định có tương lai.
Tuy nhiên, chúng tôi vẫn còn phải phấn đấu nhiều…

Quả thế. Thứ CNXH của những tác giả thừa tham, thiểu trí
và sính tàu (nói chữ là đậm đà màu sắc TQ) này, từng làm
nền tảng sửa đổi hiến pháp vào năm 1992, đổi tên gọi
Hội đồng Bộ trưởng (theo LX) thành chính phủ với người
đứng đầu là thủ tướng, và khởi công đường dây 500kv vĩ
đại tải điện ngược… tất cả đã hợp thành một bài
đồng ca hát nhép, một bức tranh chép tập thể, dù phấn đấu
đến lè lưỡi vẫn nhất quyết bám gót bậc thầy họ Đặng.

Nguy cơ thứ 2 nói trên chắc chắn đã bị vượt qua: CNXH của
đảng không hề chệch hướng… Bắc!

Nội dung quyển sách 532 trang ca ngợi <a
href="http://www.nxbctqg.org.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=2372:ng-chi--mi--du-n-qua-nhng-chng-ng-lch-s&catid=100:lanh-dao-dang-nha-nuoc&Itemid=493">"Đồng
chí Đỗ Mười – dấu ấn qua những chặng đường lịch
sử"</a> dường như chỉ cố tập trung nhấn mạnh vào một
cốt lõi: Đổi mới phải có đuôi, để vẫy.

Nó là loại ga-tô lập thể, nhân lạp xường.

<center>*</center>

Kế tiếp là loại CNXH vượt bỏ chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi,
bắt đầu từ những chuyến dã ngoại đường bộ sang
tậnThành Đô, kéo dài cho tới chuỗi <em>"chứng cứ không
thể tranh cãi"</em> đến cà lăm cà lặp.

Một số tài liệu gần đây tiết lộ: Có 2 chuyến khấu kiến
bí mật thời Đỗ Mười do Hồ Văn Càn và Từ Đôn Tín sắp
xếp: lần đầu là Mười-Anh-Kiệt, lần sau là Mười-Kiệt.
Cả hai lần đều vượt mặt mọi thủ tục ngoại giao cổ
điển.

Đó chính là lớp hắc ín tráng đường cho hàng hàng lớp lớp
những quan điểm hảo hán chủ đạo và công khai hợp thức hóa
tinh thần công hàm 1958 hay thái độ im lặng của những năm 1974
và 1988:

<div class="special_quote"><em>"Tuy Trung Quốc nó đánh ta nhưng nó
cùng là cộng sản"</em>. (Đỗ Mười – trích từ bài phân
tích <em>Các rủi ro của VN trong vấn đề Biển Đông?</em> của
GS Nguyễn Tiến Dũng đăng trên trang mạng BBC).</div>

Lê Khả Phiêu từng viết bài ca ngợi Đỗ Mười là <em>con
người của hành động</em>, nhưng thực ra, chính Phiêu mới
xứng tầm cho tấm danh thiếp đó: Đỗ Mười qua Thành Đô dọn
bãi, nhưng chính Phiêu mới là tay đổ bộ và ký mật ước
dâng đất cho giặc, từ cuối năm 1999, và mở rộng đường
hữu nghị bằng đầu gối cho Nông Đức Mạnh và Nguyễn Phú
Trọng sau này.

Một số tài liệu chưa qua kiểm chứng nhưng ngập tràn trên
mạng cho biết Phiêu từng ân cần gửi gắm một hạt mầm
cộng sản nhí bên kia biên giới. Đổi lại là một chuỗi
thông tin liên tục về tiến trình cắm mốc biên giới, về 16
chữ vàng, 4 tương, 4 tốt và nghe đâu có cả 2 tỷ USD.

Ít ai nhắc tới Tố Hữu thời này, nhưng vẫn trân trọng nhà
thơ từng làm kinh tế đó như một tay tiên tri thần kỳ, qua hai
câu thơ ảo diệu: Bên kia biên giới là nhà/Bên này biên giới
cũng là quê hương.

Nông Đức Mạnh (2 nhiệm kỳ Tổng bí thư 2001-2011) không có gì
gọi là ấn tượng trong thời gian tại chức. Chỉ sau khi phục
viên mới nảy sinh một vài vấn đề nhạy cảm liên hệ tới
cô bồ nhí của cậu quý tử thích ăn thịt bò tót mà Mạnh
đã dày công cất nhắc vào TW và nâng tầm lên thành bí thư
tỉnh ủy Bắc Giang.

Trong bối cảnh đó, CNXH trong ba triều đại này có cùng một
nền tảng cơ bản (từ thời Đỗ Mười), cho dù những triền
miên hứa hẹn làm sạch đảng không sánh nổi với nỗ lực
một mình làm sạch vườn rau sân thượng, của Phiêu.

Chỉ riêng GS TS ngành xây dựng đảng Nguyễn Phú Trọng, nắm
chức Tổng bí thư kể từ ngày 19/01/2011, là có một số hoạt
động đình đám:
<div class="special_quote">

1. Dũng cảm tự xác nhận là tác giả cụm từ <em>"Kinh tế
thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa"</em>;

2. Hãnh diện rằng cụm từ đó thâm thúy hơn cả cha đẻ của
nó là thứ <em>"Kinh tế thị trường đậm đà màu sắc
TQ";</em>

3. Mạnh dạn trao đổi với các đồng chí Cuba một số ý kiến
chung quanh vấn đề chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên
chủ nghĩa xã hội;

4. Long trọng xác định với đảng bạn về một nguyên tắc
chiêm bao: <em>"Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát
triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi
nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng
ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và
công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu
nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội
hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, một xã hội nhân
ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, chứ không phải cạnh tranh
thắng – thua vì lợi ích vị kỷ của cá nhân và các phe nhóm.
Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên
nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế
hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác,
chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn và hủy
hoại môi trường. Và chúng ta cần một hệ thống chính trị
mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và
phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một
thiểu số giàu có"</em>.

5. Thực lòng chia sẻ một ước mơ phổ quát đúng quy luật và
có lồng tiếng thuyết minh: <em>"Xã hội xã hội chủ nghĩa mà
nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội
dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân
dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực
lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ
phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân
tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có
điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng
đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ
nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng cộng
sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các
nước trên thế giới"</em>.

6. Rồi chân thành trần tình ở bè trầm, rằng: <em>"Tuy nhiên,
chủ nghĩa xã hội là gì và đi lên chủ nghĩa xã hội bằng
cách nào? Đó là điều mà chúng tôi luôn luôn trăn trở, suy
nghĩ, tìm tòi, lựa chọn để từng bước hoàn thiện đường
lối, quan điểm, làm sao vừa theo đúng quy luật chung vừa phù
hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam"</em>.</div>

Nghĩa là, túm lại, mọi thứ vẫn còn mờ mờ trước mặt,
bởi cả đảng CSVN, từ Hồ Chí Minh xuyên suốt các triều
đại khúc giữa, xuống tới hàng Nguyễn Phú Trọng, đều chưa
biết rõ cái CHXH đó là gì, chưa biết nó ở đâu, chưa biết
đường nào tới đó, và chưa biết làm sao cướp/chộp/núm
được nó.

Chỉ biết chắc chắn mỗi điều: Đã là lãnh đạo thì phải
<em>tuyên bố</em> quyết tâm đạt đến cái đích chưa biết đó
kỳ được mới thôi.

Cho dù là bằng giá xương máu của hàng nhiều triệu nhân dân
qua nhiều thế hệ.

Cho dù phải nhấn chìm đất nước và dân tộc xuống đáy nhân
loại, từ thế kỷ 20 nối tiếp qua thiên niên kỷ thứ ba này.

Mục tiêu của lời <em>tuyên bố</em>, tất nhiên, không phải là
để đến đó. Mục tiêu chính yếu và lớn nhất là để…
vẫn ngồi đây. Theo kiểu Trần Văn Giàu có lần hóm hỉnh:
<em>"Cái đít con người ta có trí nhớ. Nó nhớ cái
ghế!"</em>.

Rõ ràng, đó là chiếc bánh ga-tô siêu thực. Nó cần và nó cố
chở đợi giới thưởng thức quen thói <em>"nghĩ giản đơn và
trong sáng như một đứa trẻ"</em>, cứ chong mắt nhìn mớ
sắc màu lung linh và tin là nó có thật.

Nhân dân ta cần phải làm gì để chấm dứt cuộc mặc cả
giữ ghế đó?

<div class="special_quote"><em>"Muốn cho dân tộc ta không thua kém
các dân tộc khác, muốn cho đất nước được thịnh vượng,
dân ta không nghèo khổ mãi thì không thể thiếu một điều
kiện tiên quyết: Ấy là phải gạt bỏ sự lãnh đạo của
đảng cộng sản. Đảng đến nay đã hết là đội quân tiên
phong của cách mạng giải phóng dân tộc rồi. Bây giờ nó trở
thành chướng ngại vật trên đường phát triển của dân tộc.
Kẻ nào trong lúc này đặt quyền lợi của đảng lên trên
quyền lợi của Tổ quốc là kẻ phản bội Tổ quốc… Một
chế độ hạ nhục con người không phải là chế độ nhân dân
ta lựa chọn"</em>. (Vũ Đình Huỳnh – qua lời kể của Vũ
Thư Hiên).</div>


26-05-2012 – Kỷ niệm 115 năm ngày phát hành quyển Dracula của
Bram Stoker.

<strong>Blogger Đinh Tấn Lực</strong>

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/12753), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!