Mõ Làng: Bài viết dưới đây là của Tiến sỹ Vũ Cao Phan
được đăng trên Amari Tx dưới tiêu đề "<a
href="http://amaritx.wordpress.com/2014/07/28/nhung-dieu-khong-the-khong-noi-ra/">Những
điều không thể không nói ra</a>"</i></b>
<b><i>
</i></b>
<div class="boxright200"><img
src="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj5Pf7X6-MKyXgvMNLzAp7lHzjwureggvTwYFCAOxTCbGHojUCXojH0SNkxR84GKHhlqFRkqbMBuyWXAO8tFnd05pL-iN_V_mifLn7h8IfZKzULKQmYDZ7Ptz4Cg6DyvVXIe3iqqDMgS_ou/s1600/c%E1%BB%9D+vietj+trung.jpg"
width="400"></a><div class="textholder">Ảnh minh họa</div></div>
Có thể khẳng định, quan hệ hai nước Việt Nam và Trung Quốc
là một mối quan hệ đặc biệt. Nó đặc biệt ở sự gần
gụi, tương đồng. Không chỉ tương đồng về chế độ chính
trị, về phương thức tổ chức xã hội và phát triển kinh tế
trong thời kỳ hiện đại mà trước hết ở sự gần gụi láng
giềng, ở sự gần gụi văn hóa, lịch sử. Ít nhất mối quan
hệ này đã tồn tại từ khi lịch sử thành văn được ghi
lại, hơn hai ngàn năm trước. Một ví dụ là ngay từ thời
Tần Thủy Hoàng đã lưu truyền câu chuyện về tướng Lý Ông
Trọng, một người to lớn dị thường và có tài thao lược
của đất Giao Chỉ, làm đến chức Tư lệ hiệu úy của nước
Tần, giúp Hoàng đế dẹp loạn miền Tây Vực khiến quân Hung
nô còn khiếp oai ngay cả khi ông đã nằm xuống.
Làm cho nhân dân hai nước hiểu được, hiểu đúng mối quan
hệ lịch sử này là một việc làm cần thiết, thậm chí rất
cần thiết trong bối cảnh hiện nay, khi mà những sự tranh
chấp về lợi ích lãnh thổ có nguy cơ vượt khỏi tầm kiểm
soát và phủ mây đen lên mối quan hệ ấy. Trong tinh thần đó,
chúng tôi hoan nghênh loạt bài viết dưới mái chung: <i>"Những
điều không thể không nói ra"</i> mà Tạp chí <i>"Tri thức
thế giới"</i> của Trung Quốc đăng tải vào dịp này năm
ngoái. Đó là các bài: <i>"Lịch sử và sự thật: Diễn biến
quan hệ Trung – Việt trước năm 1949"</i>(Tôn Hồng Niên,
Nghiên cứu viên Trung tâm Nghiên cứu lịch sử biên cương,
Viện KHXH Trung Quốc) –<i>"Quan hệ Trung – Việt từ 1949
đến nay"</i> (Vu Hướng Đông, Giám đốc Học viện Chủ nghĩa
Mác, Chủ nhiệm Phòng Nghiên cứu Việt Nam, Đại học Trịnh
Châu) – <i>"Những biến thiên trăm năm qua trong chiến lược
ngoại giao với các nước lớn của Việt Nam"</i> (Tôn Hồng
Niên, Vương Thâm, Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam, Đại học
Trịnh Châu) – <i>"Viện trợ Trung Quốc cho Việt Nam trong
cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ"</i> (Lục Đức An,
Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam, Đại học Trịnh Châu) và
<i>"Vấn đề biên giới trên đất liền và trên biển giữa
Việt Nam với các nước láng giềng Đông Nam Á</i>" (Trương
Minh Lượng, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Đại học Tế Nam).
Tất cả được đăng trong số 14, ra tháng 7 năm 2011. Như cách
đặt vấn đề và như chúng tôi có thể hiểu, các tác giả
muốn vẽ lên một bức tranh chân thực về những gì diễn ra
trước hết trong quan hệ Việt – Trung, và sau nữa là trong quan
hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng, qua đó góp phần
điều chỉnh nhận thức của người này người khác, ở phía
bên này hoặc bên kia.Ý định ấy là tốt và cần thiết. Lời
lẽ trong các bài viết cũng tương đối vừa phải, trừ vài
ngoại lệ.
<i>Chú thích: Những chữ để nghiêng trong bài này là trích từ
"Những điều không thể không nói ra" hoặc từ các cuốn
sách xuất bản ở Trung Quốc (TG).</i>
Tuy nhiên, hoặc do quan điểm, nhận thức, hoặc do nguồn tư
liệu dựa vào thiếu khách quan, nhiều nội dung trong loạt bài
này đã không phản ánh sự thật, làm hỏng mục đích mà
người viết có thể muốn đặt ra.
Vì một số lý do, trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi chưa
có ý định trao đổi toàn bộ và triệt để các vấn đề mà
<i>"Những điều không thể không nói ra"</i> đã đề cập.
Chúng ta còn có nhiều dịp và nhiều cách để cùng nhau tìm
đến sự thật.
<center>*</center>
<center>* *</center>
Lịch sử thành văn của nước Việt – nghĩa là những điều
được ghi lại trên giấy trắng mực đen – xuất hiện khá
muộn, hàng ngàn năm sau công nguyên. Hai lý do chủ yếu: chữ
viết xuất hiện muộn và cả một thiên niên kỷ mất độc
lập được gọi là <i>"thời kỳ Bắc thuộc"</i> – một
ngàn năm Bắc thuộc. Lịch sử Việt Nam trong những năm tháng
này còn là một phần lịch sử Trung Hoa, điều dù muốn hay
không cũng phải thừa nhận. Và dù muốn hay không cũng phải
thừa nhận, với Việt Nam một ngàn năm ấy là một ngàn năm
không bình yên, nói một cách khiêm tốn. Liệu có cần thiết
phải nhắc lại những chuyện <i>"sát phu, hiếp phụ", "bỏ
xác cho hổ đói lên rừng bắt chim chả, chặt ngà voi; chịu
để giao long ăn thịt xuống biển mò ngọc trai, kiếm đồi
mồi"</i> cung phụng các quan cai trị? Rồi một ngàn năm độc
lập, những cuộc xâm lược từ phương Bắc đã để lại
những gì tưởng chỉ cần nhắc đến một câu của thi hào
Nguyễn Trãi thế kỷ thứ XV, <i>"Nướng dân đen trên ngọn
lửa hung tàn / Vùi con đỏ dưới hầm tai họa"</i>, viết trong
<i>"Đại cáo bình Ngô"</i>. Những cuộc xâm lược của
Tống, Nguyên, Minh, Thanh trong kỷ nguyên độc lập của Việt Nam
đều hết sức khốc liệt, đâu có phải quan hệ giữa hai
nước trong thời kỳ này <i>"trên tổng thể là hòa bình, hữu
nghị"</i>. Tác giả của <i>"Diễn biến quan hệ Việt –
Trung trước năm 1949" </i>chỉ thừa nhận một cuộc xâm lược
đến từ phía Bắc, đó là cuộc xâm lược của nhà Nguyên
trong thời kỳ này (và lịch sử chính thống của Trung Quốc
cũng chỉ thừa nhận như vậy) còn thì <i>"phần nhiều những
cuộc xung đột và chiến tranh giữa hai nước là do giới phong
kiến Việt Nam quấy nhiễu biên giới Trung Quốc gây ra"</i>.
Cần phải nói rõ những điều này. Một, chỉ một lần duy
nhất nhà nước phong kiến Việt Nam có cuộc Bắc phạt và cũng
chỉ với một mục đích duy nhất là phá cuộc chuẩn bị xâm
lược Việt Nam của nhà Tống. Đó là vào ngay thời kỳ đầu
sau Bắc thuộc, năm 1075, nhà Lý (Việt Nam) phát hiện nhà Tống
(Trung Quốc) lập các tiền đồn tích trữ binh lương ở Quảng
Tây nhằm chuẩn bị tiến đánh <i>"Giao Châu"</i> (nước
Việt) nên đã xuất quân, đánh xong lập tức rút ngay về phòng
ngự mà vẫn không tránh khỏi cuộc tiến quân ồ ạt sau đó
của nhà Tống. Hai, có lẽ chỉ dựa vào chính sử do các triều
đại phong kiến Trung Quốc để lại mà các tác giả của
<i>"Những điều không thể không nói ra"</i> không thừa nhận
có các cuộc xâm lược Việt Nam của Tống, Minh, Thanh. Bởi vì
<i>"chính sử"</i> luôn tìm cách mô tả đấy là những cuộc
hành binh khôi phục trật tự, lập lại ngôi vương chính danh
được các triều đình phong kiến Trung Quốc thừa nhận (nhưng
là những phế để, phế triều đã bị sóng triều lịch sử
Việt Nam gom về bến rác). Sự thực như thế nào? Lấy ví dụ
cuộc tiến quân dưới danh nghĩa <i>"phù Trần, diệt Hồ"</i>
của nhà Minh đầu thế kỷ XV. <i>"Phù Trần diệt Hồ"</i>
ở chỗ nào khi diệt xong cha con Hồ Quý Ly rồi liền bắt các
kỳ hào, bô lão ký vào một tờ biểu dâng lên rằng: <i>"Nay
họ Trần không còn ai nữa, vả đất An Nam vốn là Giao Châu
ngày trước, xin được đặt lại quận huyện như cũ"</i>
(theo "Minh sử"). Nhưng có một thực tế là con cháu nhà
Trần vẫn nổi lên ầm ầm chống lại quân Minh, lập nên một
triều đại được lịch sử gọi là <i>"kỷ Hậu Trần"</i>
thì người Minh lại gọi là <i>"giặc"</i> và phái binh đàn
áp! Một thời kỳ <i>"Bắc thuộc mới"</i> kéo dài 20 năm
với chính sách đồng hóa quyết liệt (tất cả sử sách nước
Nam đều bị thu hết về Kim Lăng), với sưu cao thuế nặng,
bắt phu khai mỏ vàng mỏ bạc rồi <i>"chim trả, ngà voi"</i>
tận thu tận diệt khiến dân tình vô cùng khổ sở. Phải một
cuộc kháng chiến gian khổ máu xương dằng dặc 10 năm của Lê
Lợi – Nguyễn Trãi cuối cùng mới đưa được <i>"cuộc phù
Trần"</i> về bên kia biên giới. Làm sao có thể nói trong kỷ
nguyên độc lập của Việt Nam ở thiên niên kỷ thứ hai,
<i>"giới thống trị Trung Quốc bấy giờ hoàn toàn không chủ
động can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam"</i>
được? Và ngay trong thời kỳ được coi là giao kết hòa hiếu
giữa hai nước trong quan hệ <i>"tông phiên"</i> thì các
triều đình phong kiến Việt Nam vẫn luôn bị sách nhiễu, áp
lực. Chỉ riêng việc đòi hỏi cung phụng, cống nạp – nhất
là những sản vật quý hiếm – cũng trở thành gánh nặng tài
chính cho nước Việt, gánh nặng khổ ải cho thứ dân, không
thể nói là <i>"không đáng kể", "tổng giá trị (của các
đồ cống nạp) luôn thấp hơn đồ "hồi tặng" (từ phía
triều đình Trung Quốc)"</i> được.
Năm 1950, khi đích thân tiếp và tiễn đoàn cố vấn quân sự
của nước Trung Hoa nhân dân sang giúp Việt Nam kháng Pháp, Chủ
tịch Mao Trạch Đông căn dặn: <i>"Các đồng chí phải nói
với nhân dân Việt Nam rằng tổ tiên chúng ta đã có lỗi với
Việt Nam, chúng ta xin tạ tội và nguyện một lòng một dạ ra
sức giúp Việt Nam đánh bại thực dân Pháp"</i> (trích Hồi
ký bằng tiếng Hán của các Cố vấn Trương Quang Hoa, Vũ Hóa
Thẩm, Đặng Kim Ba). Thủ tướng Chu Ân Lai trong lần đầu tiên
sang thăm Việt Nam năm 1955, việc đầu tiên mà ông làm là đến
thắp hương Đền thờ Hai Bà Trưng, những nữ tướng Việt Nam
kiệt xuất trong thế kỷ thứ nhất cầm quân nổi dậy chống
quân xâm lược nhà Hán và đã anh dũng hy sinh. Thiết nghĩ không
cần phải dẫn thêm những ý kiến phát biểu của các nhà lãnh
đạo khác như Diệp Kiếm Anh, Vi Quốc Thanh… xung quanh vấn
đề này.
Tuy nhiên, cũng cần phải khẳng định, mối quan hệ tổng thể
giữa hai nước láng giềng Việt Nam và Trung Quốc suốt mấy
ngàn năm lịch sử không phải là một bức tranh tối màu, nhất
là quan hệ dân gian. Trong sự phát triển và trưởng thành của
mình, người Việt, nước Việt đã tiếp thu và học tập
được nhiều từ nền văn hóa – văn minh Trung Hoa. Đấy cũng
là một trong nguyên nhân dẫn đến sự gần gụi, hiểu biết
giữa nhân dân hai nước. Đấy cũng là thực tế hiển nhiên
không thể phủ định. Không thể có chuyện giới nghiên cứu
khoa học, nghiên cứu lịch sử Việt Nam trong trăn trở tìm về
nguồn cội lại bỏ qua những giá trị xác định để thay
bằng những lập luận <i>"khoác lác", "hư cấu"</i>? Càng
không thể tưởng tượng ra rằng nó có mục đích <i>"đưa
vào nội dung giáo dục quốc dân"</i> để làm băng hoại quan
hệ hữu nghị giữa hai nước, hai dân tộc.
Nửa sau của thế kỷ trước (thế kỷ XX), Việt Nam đã phải
liên tục chiến đấu chống lại hai cuộc chiến tranh không cân
sức: Kháng Pháp và kháng Mỹ. Cùng với nhân dân toàn thế
giới, Trung Quốc đã có sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn, có
hiệu quả về cả vật chất lẫn tinh thần cho cuộc kháng
chiến của nhân dân Việt Nam. Vào thời kỳ cao điểm, khi Mỹ
trực tiếp đổ quân vào tham chiến – có lúc lên đến hơn
nửa triệu – nhiều chính phủ và tổ chức nhân dân trên thế
giới đã tuyên bố sẵn sàng gửi quân chí nguyện đến giúp
đỡ Việt Nam, nếu được phía Việt Nam chấp nhận. Với tinh
thần tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính và cũng
xét tới các hệ lụy, Chính phủ Việt Nam không chủ trương
nhận quân tình nguyện chiến đấu, đặc biệt là bộ binh, và
đã bày tỏ sự cảm ơn chân thành của mình đến thiện chí
năm châu. Những quân nhân nước ngoài có mặt ở phía Bắc
Việt Nam lúc ấy bao gồm một số lượng hạn chế các cố
vấn và chuyên gia quân sự Liên Xô trong các binh chủng kỹ
thuật (tên lửa phòng không, không quân… ), một vài biên đội
không quân của CHDCND Triều Tiên mà lãnh đạo nước này mong
muốn được đưa sang để thực tập chiến đấu. Chính phủ
Trung Quốc cũng đã nhiều lần bày tỏ thiện chí sẵn sàng
gửi quân tình nguyện đến Việt Nam trong các tuyên bố công
khai cũng như trong những lần gặp gỡ trực tiếp lãnh đạo
Việt Nam. Kết quả là đã dẫn tới các ký kết giữa hai
nước về việc đưa bộ đội hậu cần (công binh) của Quân
Giải phóng Nhân dân Trung Quốc vào giúp việc khắc phục giao
thông bị phá hoại bởi cuộc chiến tranh phá hoại của không
quân Mỹ ở Miền Bắc. Trung Quốc cũng đề nghị đưa vào cả
bộ đội pháo cao xạ để bảo vệ lực lượng công binh tác
nghiệp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất quan tâm đến lực
lượng này. Người yêu cầu các nhà lãnh đạo Quân đội Việt
Nam không đưa bộ đội Trung Quốc đến những vùng quá khó
khăn ác liệt vì bạn chưa quen. Thời kỳ đó, không quân Mỹ
chia chiến trường Bắc Việt Nam thành ba vùng tác chiến: Vùng
đánh phá tự do suốt ngày đêm từ Thanh Hóa trở vào vĩ tuyến
17, là vùng ác liệt nhất. Vùng thứ hai, vùng đánh phá có
trọng điểm bao gồm Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và các vị
trí chiến lược phía nam đường số 5. Vùng thứ ba, đánh phá
có chọn lọc, là các tuyến giao thông phía bắc đường số 5.
Chấp hành chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bộ đội Trung
Quốc đã được bố trí tác nghiệp trong vùng từ phía bắc
đường số 5 đến biên giới Việt – Trung. Các lực lượng
chí nguyện Quân Giải phòng Trung Quốc đã chiến đấu, phục
vụ chiến đấu dũng cảm, quên mình vì nghĩa lớn, đồng cam
cộng khổ với nhân dân Việt Nam, không chỉ góp phần khắc
phục đường sá bị phá hoại, giúp Việt Nam làm mới nhiều
con đường, nhiều công trình mà còn tham gia chiến đấu, trực
tiếp bắn rơi hơn 100 máy bay Mỹ. Tổng cộng đã có hơn 310.000
lượt bộ đội Trung Quốc có mặt trên chiến trường miền
Bắc Việt Nam từ năm 1965 đến năm 1968 (nói chung, 6 tháng thay
quân một lần) trong đó hơn 1000 chiến sĩ hy sinh (hơn 4000, bao
gồm cả các chiến sĩ bị thương). Theo đề nghị của phía
Trung Quốc, các liệt sĩ Trung Quốc đã được chôn cất tại
trên 40 nghĩa trang ở Việt Nam và hiện nay vẫn được chính
quyền và nhân dân các địa phương coi sóc, tu tạo.
3. Phía Trung Quốc từng xuất bản một cuốn sách công bố 7
lần xuất quân ra nước ngoài của Quân Giải phóng Nhân dân
từ sau ngày thành lập nước CHND Trung Hoa, trong đó quá nửa là
xuất quân sang Việt Nam. Điều đau lòng là, hầu hết những
lần xuất quân đến Việt Nam ấy đều được mô tả là để
<i>"đánh trả", "trừng phạt"</i> cái quốc gia mà Trung
Quốc từng coi là anh em (đến bây giờ có lẽ vẫn là <i>"anh
em"</i> vì lãnh đạo hai bên nói chung vẫn ôm hôn nhau theo
kiểu <i>"các nước anh em"</i> thường làm).
Chúng tôi sẽ không đề cập đến ở đây bản chất các
cuộc <i>"đánh trả"</i> và <i>"trừng phạt"</i> ấy – xin
trở lại một dịp khác, nếu cần thiết – mà chỉ xin trao
đổi những gì liên quan được nêu ra từ các bài viết trong
<i>"Những điều không thể không nói ra"</i>.
<i>Thứ nhất,</i> phải khẳng định rằng, trừ cuộc
<i>"tiến quân"</i> trong giai đoạn 1965 -1968 nhằm chi viện
nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ mà tôi vừa
đề cập, <i>tất cả các cuộc tiến quân khác (1974: đánh
chiếm Hoàng Sa – Trung Quốc gọi là Tây Sa; 1979: Chiến tranh
biên giới Việt – Trung; 1983 – 1984: đánh chiếm các điểm cao
chiến lược ở tỉnh Hà Giang – Trung Quốc gọi là Lão Sơn
(và xung quanh); 1988: đánh chiếm một số đảo ở Trường Sa –
Trung Quốc gọi là Nam Sa) đều do Trung Quốc âm thầm khởi binh
rồi bất ngờ đánh úp, nhằm lúc đối phương chưa sẵn sàng
chuẩn bị.</i> Tất cả đều giống nhau, không ngoại lệ. Làm
gì có cái gọi là <i>"sự xâm lăng, khiêu khích từ phía Việt
Nam"</i>? Mưu kế chiến tranh từ thời Tôn Tử đã chẳng lạ
gì phương sách mà sau này L.Hart và nhiều tác gia quân sự đông
tây phải ngả mũ, <i>"Nguyên cớ ư? Ở ta!".</i>
Thêm nữa, sau năm 1975, mặc dù giành được nguyện vọng ngàn
đời là độc lập dân tộc, thống nhất non sông, Việt Nam
hoàn toàn bị kiệt quệ bởi ba mươi năm chiến tranh (nền kinh
tế Việt Nam bị tụt đến đáy trong thập niên 75 – 85 là
một minh chứng). Lo ăn, lo mặc cho dân mình còn chưa xong lẽ
nào Việt Nam còn muốn mang sức kiệt đi đánh nước người?
Mà đó lại là quốc gia hùng mạnh Trung Quốc và còn hơn thế
nữa, một đất nước đã có sự ủng hộ to lớn cho Việt Nam
trong kháng chiến! Ơn vừa mới đó mà đã quên được ư?
Trọng ơn là truyền thống của dân tộc này, không ai có thể
bới ra được chứng cứ ngược lại!
Và do đó phải thừa nhận là Việt Nam đã bị bất ngờ khi
cuộc chiến tranh tháng 2/1979 xảy ra. Có thể có xung đột
cường độ thấp nhưng là cả một cuộc chiến tranh với sự
tiến quân ồ ạt của hàng chục sư đoàn đối phương trên
toàn tuyến biên giới là điều chưa được phía Việt Nam tiên
liệu.
<i>Thứ hai,</i> cần phải nói rõ một điều: Việt Nam chưa bao
giờ tuyên bố Trường Sa và Hoàng Sa (Nam Sa và Tây Sa) là của
một quốc gia nào khác ngoài Việt Nam. Và càng không có việc
Việt Nam đã <i>"hoàn toàn thay đổi lập trường"</i> về
vấn đề này. Câu chuyện như sau: Năm 1958, sau khi Trung Quốc
tuyên bố chủ quyền về lãnh hải 12 hải lý, Thủ tướng
Phạm Văn Đồng đã gửi thư cho Thủ tướng Chu Ân Lai bày tỏ
sự ủng hộ tuyên bố ấy, chỉ đơn giản như vậy. Sự ủng
hộ đó là thiện chí nếu tính tới cuộc xung đột giữa
nước Trung Hoa nhân dân với Đài Loan trong vùng Kim Môn, Mã Tổ
lúc bấy giờ. Còn trong năm 1974, khi xảy ra sự việc Trung Quốc
đánh chiếm Hoàng Sa (Tây Sa), chính các bên đang quản lý thực
tế vùng biển này là Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa
Miền Nam Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã lên
tiếng phản đối.
<i>Thứ ba.</i> Bắt đầu từ sự xâm lược của thực dân Pháp
thế kỷ XIX lập nên xứ Đông Dương thuộc Pháp rồi tiếp
đến là cuộc chiến tranh do Mỹ gây ra giữa thế kỷ XX mà mà
vận mệnh của ba nước Đông Dương gắn chặt với nhau: chung
một kẻ thù, chung một mục đích giải phóng và độc lập dân
tộc. Trong cuộc đấu tranh chung, Việt Nam đã nhận được sự
ủng hộ và giúp đỡ to lớn của nhân dân Lào, nhân dân
Campuchia anh em và Việt Nam cũng hết lòng vì đất nước và
nhân dân bạn. Làm theo lời dạy đầy ý nghĩa của Chủ tịch
Hồ Chí Minh: <i>"Giúp bạn là giúp mình"</i>, hàng chục vạn
chiến sĩ Quân tình nguyện Việt Nam đã không tiếc xương máu
chiến đấu quên mình trên đất nước Lào và đất nước
Campuchia, không nhằm một mục đích tiểu bá, đại bá hay Liên
bang Đông Dương nào hết. Một khi chiến tranh kết thúc, tình
hình yên ổn trở lại và được nhân dân bạn cho phép, tất
cả các lực lượng này đã rút hết về nước, bao gồm cả
những liệt sĩ đã nằm xuống trên đất Lào, Campuchia cũng
được quy tập về đất mẹ Việt Nam (con số được quy tập
đến nay đã là gần 50.000 liệt sĩ). Việt Nam, Lào, Campuchia
ngày nay lại cùng đoàn kết, giúp đỡ nhau phát triển đất
nước mình, với tư cách là những quốc gia độc lập, có chế
độ chính trị riêng biệt, điều mà cả thế giới đều thấy
rõ.
Đáng ngạc nhiên là trong bài <i>"Vấn đề biên giới trên
bộ và trên biển giữa Việt Nam và các nước Đông Nam
Á"</i>,tác giả gợi lại vấn đề không có thực là
<i>"lãnh thổ K.K.K"</i> và <i>"một phần đất đai Campuchia
bị mất vào tay Việt Nam"</i>. Với mục đích gì vậy? Tác
giả có biết rằng trong tháng 8 năm 2012 vừa qua chính đại
diện của nước CHND Trung Hoa tại Liên Hợp quốc đã bỏ
phiếu bác bỏ yêu cầu được có tiếng nói tại tổ chức
quốc tế này của cái gọi là <i>"phong trào K.K.K"</i>? Sự
trung thực cộng sản – nếu có thể gọi như vậy – là ở
chỗ nào?
<i>Thứ tư.</i> Có những sự thực ít người biết đến, nhưng
chẳng lẽ những người chủ trì một tạp chí có tên tuổi
trong ngành như <i>"Thế giới tri thức"</i> lại ở trong
trường hợp như vậy? Tôi muốn đề cập câu chuyện về
điểm cao khống chế 1509 mà Trung Quốc gọi là Lão Sơn. Trong
bài <i>"Quan hệ Việt – Trung từ năm 1949 đến nay"</i>, tác
giả đã mô tả những trận đánh đẫm máu, ác liệt để
giành khu vực này vào năm 1984 như là cuộc chiến đấu vinh
quang chống lại sự xâm lược của quân đội Việt Nam. Hơn
nữa, chúng tôi còn được biết, nơi đây nay đang trở thành
một điểm du lịch của phía Trung Quốc với những trưng bày
và thuyết minh bất chấp chân lý, bất chấp mọi sự nhẫn
nhịn, trên thực tế phá hoại quan hệ Việt-Trung mà các bạn
bày tỏ muốn vun đắp. Liệu có cần phải đánh thức <i>"sự
thật lịch sử"</i>?
Cuối cùng, về câu chuyện hoang đường <i>"Việt Nam bắt
nạt Trung Quốc", "Việt Nam luôn áp dụng phương châm đối
đầu trực diện với Trung Quốc, một bước không lùi"</i>,
để thay lời kết luận, tôi xin kể hai chuyện nhỏ: Tháng
1/1979, khi quân đội Việt Nam mở chiến dịch phản công đánh
trả cuộc xâm lấn toàn diện của chế độ Pôn Pốt với một
tốc độ tiến quân mà các hãng thông tin trên thế giới mô
tả là nhanh như điện sẹt, các mũi tiến công và vu hồi đã
sẵn sàng khép chặt biên giới Campuchia – Thái Lan trong
<i>"tích tắc"</i>, thì lập tức nhận được lệnh buông
lỏng, nhờ đó mà bộ sậu lãnh đạo Khơme đỏ chạy thoát.
Nhưng mục đích đã đạt được: Không để một ai trong số
hàng ngàn chuyên gia cố vấn quân sự và dân sự <i>"người
nước ngoài"</i> bị kẹt lại hoặc bị bắt giữ. Câu chuyện
thứ hai là tháng 2 năm ấy (1979), bị bất ngờ bởi cuộc tấn
công của Quân đội Trung Quốc, các lực lượng phòng ngự
Việt Nam tạm thời bị đẩy lui khỏi tuyến biên giới. Nhưng
ngay sau cuộc phòng ngự, bộ đội Việt Nam đã tổ chức phản
công và một chiến dịch – chiến lược tiến công quy mô với
lực lượng mạnh cả xung lực lẫn hỏa lực nhằm vào đối
phương đang tập trung ở một thành phố biên giới đã được
triển khai. Mọi sự đã sẵn sàng và đây chắc chắn là một
đòn giáng trả mạnh mẽ, gây thương vong nặng nề. Chỉ ít
giờ trước thời điểm nổ súng, chiến dịch được hủy bỏ
khi phía Trung Quốc tuyên bố bắt đầu cuộc triệt thoái.
Thẳng thắn và mà nhìn nhận, quan hệ Việt Nam – Trung Quốc
bản chất là một mối quan hệ tích cực và cần phải như
vậy. Xin được đề cập đến vào một dịp khác. Bài viết
này của tôi không có mục đích tranh luận, ngay cả về phương
diện học thuật. Nó đơn giản chỉ là <i>"những điều không
thể không nói ra"</i>, không thể không làm rõ vậy thôi.
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://www.danluan.org/tin-tuc/20140807/mo-lang-viet-trung-nhung-su-that-tran-trui),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét