Tạ Duy Anh - Đồng chí ta, đồng chí địch

<div class="boxleft200"><img
src="http://4.bp.blogspot.com/-w_LNrFhGRhA/U6Tnh_itIOI/AAAAAAAAjrY/YhC164Xu4XE/s1600/TA+ANH.jpg"
/><div class="textholder">Nhà văn Tạ Duy Anh</div></div>Chỉ cần
điểm qua cách xưng hô cũng thấy hiện lên một phần lịch sử
quan hệ vừa bi vừa hài giữa Việt Nam và Trung Quốc, mà can
dự rõ nhất là danh từ đồng chí.

Tình đồng chí giữa lãnh đạo hai nước đạt độ nồng ấm
nhất vào những năm 60 của thế kỷ hai mươi.

<a name="more"></a> Khi đó, mặc dù gần trăm triệu người dân
Trung Quốc chết hoặc trước sau cũng chết bởi cuộc đại
cách mạng văn hóa, thì nó vẫn không ngăn được Tố Hữu, vì
tình đồng chí, viết: <i >Trung Quốc đó bàn tay nào huyền
diệu/ Đã nắn lại cả dung nhan dáng điệu/Mặt đồng khô xóa
sạch những bờ ngăn/ Như mặt người tươi giãn những đường
nhăn</i>.

Thân tình đến nỗi, trẻ con Việt Nam cũng gọi ông Mao là
"Bác". Đây là giai đoạn Trung Quốc muốn Việt Nam "đánh
Mỹ đến người cuối cùng", vì thế họ sẵn sàng là "hậu
phương bao la của Việt Nam" như lời ông Mao! Nhưng hóa ra từ
khi ấy, khi là đồng chí thắm thiết của nhau, khi "cùng chí
hướng" giải phóng nhân loại, xóa bỏ biên giới, "Bác
Mao" đã chuẩn bị kỹ càng để chiếm đoạt biển đảo của
"con cháu Bác" ở bên Việt Nam. Cú lừa để có cái Công hàm
1958 đầy bi hài là một bằng chứng.

Năm 1974, Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa, lúc ấy do chính phủ
Việt Nam cộng hòa kiểm soát. Vì là <b >đồng chí</b> nên Miền
Bắc bắt buộc phải im lặng, như là chẳng liên quan gì đến
mình, như là việc của hai quốc gia láng giềng*. Dân chúng
miền Bắc không hề có bất cứ thông tin gì, cảm xúc gì vì
vậy họ không có chút cảm giác nào về chuyện mất mát lãnh
thổ. Hoặc nếu có bộ phận nào biết thì lại thấy như là
điều may mắn vì kẻ thù (Việt Nam cộng hòa mà miền Bắc
gọi là Ngụy quyền), mất đi một vị trí chiến lược có
thể thọc vào sườn hậu phương xã hội chủ nghĩa! Danh từ
đồng chí cho phép xác định Trung Quốc là bạn, còn người anh
em phía Nam bị mặc nhiên coi là thù! Liệu có biến cố nào bi
hài và thê thảm hơn trong lịch sử người Việt?**

Điều gì phải đến sẽ đến, mọi thứ nham hiểm của Trung
Quốc nấp sau danh từ đồng chí cuối cùng cũng lộ mặt. Hơn
50 mười ngàn "con cháu bác Mao" (số ước tính của Hoa Kỳ)
ở cả hai bên bị chết trong cuộc tắm máu nhau dọc 6 tỉnh
biên giới, trong đó cứ một người rưỡi Tầu đổi một
mạng An Nam. Năm 1979 Hà Nội ra sách trắng về quan hệ
Việt-Trung, tố cáo Trung Quốc phản bội, chơi đểu, lợi dụng
Việt Nam khó khăn để mưu thôn tính từ từ. Thế là chẳng có
anh em con cháu gì nữa, chỉ đích danh "bè lũ phản độngMao"
là những kẻ chủ mưu ăn thịt người Việt, sau khi đã no
thịt người Hán. Trong Hiến pháp Việt Nam năm 1980 thậm chí
còn ghi rõ Trung Quốc là kẻ thù trực tiếp, lâu dài, nguy
hiểm. Những nhà lãnh đạo Bắc Kinh đương nhiên là những kẻ
xâm lược. Có bài báo gọi đám con cháu của Tần Thủy Hoàng
là "những con chó Trung Nam Hải", còn Đặng Tiểu Bình thì
là "thằng lùn cao bồi". Chế Lan Viên, tác giả của câu thơ
nôm na nổi tiếng <i >"Bác Mao không ở đâu xa/ Bác Hồ ta đó
chính là bác Mao" </i>thì lúc ấy có hẳn cả một bài thơ
"Vịnh thằng lùn", viết về Đặng Tiểu Bình, khá dài, theo
thể tự do, trong đó có câu, đại ý: Thằng lùn mặc quần bò/
Thằng lùn thích súc-cù-là…(Có lẽ vì lịch lãm nên nhà thơ
không nỡ bảo thằng lùn thích cứt Mỹ nữa thôi!). Bài thơ
này, nếu tôi nhớ không lầm thì in trong tập "Hoa trên đá".
Nhưng không riêng Chế Lan Viên- chỉ là nghệ sĩ,- nhạy cảm
với thời tiết chính trị, trong vô số phát biểu của các
chính trị gia chuyên nghiệp lúc ấy cũng không ngần ngại gọi
các đồng chí một thời ở Bắc Kinh là lũ phản động quốc
tế, những tên lính gác cho bọn tư bản….

Năm 1985, khi đó tôi đang đóng quân ở Lào Cai, vẫn còn thấy
sáng nào hai bên cũng chĩa loa vào nhau qua sông Hồng, một bên
réo Tập đoàn phản động Mao-Đặng, gán cho đủ thứ tội,
một bên át đi bằng loa công suất lớn gấp bội, ồm ồm chỉ
đích danh "bè lũ Lê Duẩn" kèm theo hàng chục kết án. Chúng
tôi được quán triệt nhất nhất gọi Trung Quốc là bọn bành
trướng Bắc Kinh. Trong 10 bài hát mà mỗi quân nhân phải thuộc
hồi ấy, gọi là 10 bài hát điều lệnh, có bài <b ><i >Tiếng
súng đã vang trên bầu trời biên giới</i></b> của nhạc sĩ
Phạm Tuyên, trong đó có câu: "Quân xâm lược bành trướng dã
man". Ngày nào trước mỗi cuộc tụ tập, liên hoan, tất cả
lại đồng loạt gào lên: "Quân xâm lược bành trướng dã
man".

Danh từ "đồng chí" biến mất khỏi mọi văn bản của
Việt Nam, khỏi ngôn ngữ đời sống xã hội khi gắn với Trung
Quốc. Ai dám cả gan dùng nó để gọi Trung Quốc thì đích thị
là kẻ vô loài, thiếu văn hóa chính trị tối thiểu, có dã
tâm bán nước. Không ai lại cùng chí hướng với kẻ thù
truyền kiếp!

Cho đến sau năm 1990, mà rồi lịch sử sẽ hé lộ và vì
thế mà chúng ta biết có cuộc gặp Thành Đô. Các nhà lãnh
đạo của chúng ta, những người rõ ràng là rất lép vế trong
hội nghị đó, có thể sẽ còn bị lịch sử chế giễu vì
mất cảnh giác, khờ khạo nhưng tôi tin là họ có cả phần
trong sáng nữa. Họ tin rằng chủ nghĩa xã hội cần phải
được bảo vệ bằng mọi giá và xem ra chỉ còn Trung Quốc-dù
là gã láng giềng hay chơi bẩn-nhưng khả dĩ làm nơi cố thủ
an toàn cho giáo lý Mác. Vì, như ông Nguyễn Đức Bình, nhà lý
luận hàng đầu của Đảng khẳng định: <i >"Nếu thời đại
hiện nay không còn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư
bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới nữa,
thì đất nước Việt Nam chúng ta, Đảng Cộng sản Việt Nam
từ nay sẽ đi theo con đường nào?". </i>Tức là số phận dân
tộc bị đóng đinh câu rút, phải đi qua duy nhất một con
đường hầm tên là "quá độ lên CNXH", mà một đầu là
thần chết! Không có lối thứ hai! Nguy cấp thế kia mà. Dọa
nhau thế ai chả sợ, nhất là những người quen đánh nhau hơn
là đọc sách! Hoặc quá độ lên CNXH, hoặc chết! Các nước
khác, như Nhật, Hàn, Singopore có cả ngàn lối đến tương lai,
cũng kệ họ, không được phép ngó nghiêng. Ai bảo sinh ra là
người Việt? Những người chủ trương như ông Nguyễn Đức
Bình chỉ quên (hoặc cố tình không biết) một điều: các
đồng chí Trung Quốc của họ chưa bao giờ coi chủ nghĩa xã
hội là thứ gì quan trọng. Chúng ta hãy đọc lời giáo huấn
đầy tính mỉa mai sau đây của Mao về giáo lý Mác, với cấp
dưới ông ta: <i>"Sở dĩ chúng ta nghiên cứu thuyết Các Mác
không phải vì luận điệu tốt đẹp của nó, cũng không phải
vì nó đựng một phép thần diệu để trừ ma quỉ. Nó không
đẹp, nó cũng không thần diệu. <b >Nó chỉ ích lợi</b>.(</i>TDA
nhấn mạnh<i>) Có nhiều người cho nó là thần dược trừ bách
bệnh. Chính những người này đã xem thuyết Các Mác là một
giáo lý. Phải nói cho những người này hiểu rằng <b >giáo lý
của họ không có ích lợi bằng phân bón</b>. Phân bón còn làm
giàu ruộng đất, giáo lý không làm được việc đó."</i>

Hội nghị Thành Đô đã đưa danh từ đồng chí trở lại
trong quan hệ hai nước, tạo ra một giai đoạn hòa bình tương
đối không thể nói là không quan trọng*** cho Việt Nam, nhưng
về cơ bản nó gây nên những thay đổi âm thầm số phận
người Việt theo hướng tiêu cực là chính. Vì là đồng chí
nên mọi việc lớn bé Việt Nam đều phải tham vấn Trung Quốc.
Phụ thuộc toàn diện. (Như tiết lộ mới đây của cụ Nguyễn
Trọng Vĩnh về sự can thiệp của Trung Quốc vào vấn đề nội
bộ nhất không chỉ của Việt Nam, mà của bất cứ quốc gia
nào, là vấn đề chọn nhân sự lãnh đạo đất nước). Trung
Quốc âm thầm và ráo riết chuẩn bị mọi mặt để chiếm
biển Đông nhưng lấy tình đồng chí làm vật che mắt Việt
Nam. Vì tình đồng chí Việt Nam không dám công khai vạch tội
Trung Quốc ăn hiếp ngư dân Việt, luôn phải gọi chệch đi.
Tầu Trung Quốc rành rành nhưng phải gọi là "tầu lạ".
Suốt bao nhiêu năm Việt Nam không dám chọn bạn tốt để chơi
(bất cứ quốc gia nào cũng tốt với Việt Nam hơn Trung Quốc),
dù biết là có lợi lâu dài cho đất nước, chỉ đơn giản vì
những người bạn ấy đều không cùng hội cùng thuyền với
Trung Quốc. Bất cứ ai nhắc đến dã tâm của Trung Quốc cũng
bị coi là làm ảnh hưởng đại cục, phá quấy an ninh! Trung
Quốc tận dụng triệt để cái hàm thiếc đồng chí để kìm
hãm Việt Nam, cả trong đối ngoại lẫn đối nội. Chưa bao
giờ danh từ đồng chí mang lại nhiều lợi lộc cho Trung Quốc
như giai đoạn hai chục năm vừa qua. Tất nhiên người thiệt
hại to lớn là Việt Nam.

Viết đến đây tôi bỗng muốn dừng lại để tìm về
nguồn gốc của danh từ đồng chí. Nó là bùa chú gì mà giam
hãm Việt Nam trong vòng cương tỏa của Trung Quốc đơn giản
đến thế, khiến số phận dân tộc cứ vật vã tơi bời bởi
họ lâu đến thế và liệu nó còn tự tung tự tác đến bao
giờ?

Hầu như mọi ngôn ngữ lớn đều có từ đồng chí và chắc
chắn lúc khởi thủy nó không mang mầu sắc chính trị. Nó
được dùng tại Trung Quốc từ hàng ngàn năm trước khi xuất
hiện những người theo chủ nghĩa cộng sản. Trong những bang
hội, những tổ chức xã hội đen có tổ chức, những băng
nhóm chính trị hoạt động ngoài vòng pháp luật như Hội tam
hoàng ở phương Đông, tổ chứ 3K chuyên giết người tàn bạo
ở Mỹ vì phân biệt chủng, các thành viên đều là những
người cùng chí hướng. Đảng Quốc Xã của Hitler, các đảng
viên cũng xưng với nhau là đồng chí. Tình đồng chí đậm
nhất có lẽ thuộc về đảng của Pôn-pốt. Cùng đi ăn cướp
cũng là đồng chí. Chỉ đơn giản vì nó là <b ><i >cùng chí
hướng</i></b>, một khái niệm thuần túy ngôn ngữ. Nó chẳng
hề có xuất thân danh giá như nhiều người vẫn tưởng. Về
sau nó được chính trị hóa và trở nên "linh thiêng" như ta
đang thấy.

Sau sự kiện giàn khoan HD-981, số phận của từ đồng chí
lại một lần nữa trở nên mong manh và bi hài. Các báo của
nhà nước đều dùng từ ông, ngài để gọi các lãnh đạo
Trung Quốc. Lần đầu tiên sau hơn 20 năm, Đài truyền hình
Việt Nam không dùng từ đồng chí trước tên Dương Khiết Trì
khi đưa tin ông này sang Hà Nội. Bởi vì chính Trung Quốc đã
làm cho từ đồng chí trở nên rất giả dối, sống sượng,
đồng nghĩa với từ lừa lọc. Chả lẽ qua ngần ấy biến
cố, lộ rõ bộ mặt đểu cáng, dã tâm độc ác của Trung
Quốc, lại vẫn là đồng chí (cùng chí hướng) của nhau thì
thật lố bịch? Cả trăm triệu người dân Việt đầy lòng tự
trọng "quyết không đổi chủ quyền thiêng liêng lấy thứ
hữu nghị viển vông" chắc chắn sẽ cảm thấy bị làm nhục
và nổi giận. Xác đồng bào của họ vẫn còn bập bềnh trên
biển Đông bởi súng đạn Trung Quốc. Chẳng ai chấp nhận cùng
chí hướng với kẻ cướp chính đất nước mình, giết anh em,
đồng bào, người thân của mình, ngoại trừ phải gọi rõ ra
là <b ><i >đồng chí địch</i></b><i >!</i>

Lịch sử quan hệ hai quốc gia suốt hàng ngàn năm qua (ít
nhất là đến trước năm 1949) cho thấy chưa bao giờ người
Việt <b ><i >cùng chí hướng </i></b>với người Hán. Đơn giản
vì lợi ích lãnh thổ của Trung Quốc luôn đi kèm với việc
thôn tính hoặc gặm nhấm Việt Nam. Trong hoàn cảnh phải sống
cạnh một gã khổng lồ thì hòa hiếu luôn là điều kiện
sống còn để Việt Nam tồn tại và phát triển. Nhưng cũng
chính lịch sử cho thấy, Việt Nam muốn có hòa hiếu thực sự
với Trung Quốc thì phải độc lập tối đa với họ. Mà muốn
vậy thì <b >Dân tộc</b> phải là <b >lợi ích cao nhất </b>của
mọi tính toán chính trị, được thể hiện trong chiến lược
quốc gia tầm nhìn hàng trăm năm****, là sản phẩm của tầng
lớp trí thức tinh hoa chưa bị nhiễm độc bởi bất cứ khẩu
hiệu mang tính phô diễn lập trường nào, nghĩa là hoàn toàn
tự do và trong sạch. Không có cách nào khác. Mọi ảo tưởng
về sự mật thiết dựa trên tương đồng ý thức hệ hoặc
sự gắn bó mang tính đảng phái, rốt cuộc chỉ là cách tự
sát từ từ.

-----------------------------------------------------------------------

*Trong một liệu nào đó mà tôi không nhớ, cho rằng sau khi
Trung Quốc làm chủ hoàn toàn Hoàng Sa, Hà Nội có gửi điện
"cảm ơn" Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã "giải phóng
giúp" miền Bắc một phần lãnh thổ khỏi tay kẻ thù? Trung
Quốc im lặng. Nếu quả thực có chuyện như vậy thì có thể
coi đó là bằng cớ gián tiếp xác định chủ quyền của phía
Việt Nam với quần đảo này. Nhưng chưa thấy thông tin chính
thức nào xác nhận chuyện đó.

** Quan hệ giữa Trung Quốc đại lục và Đài Loan y như quan
hệ giữa Bắc và Nam Việt Nam về mức độ thù địch và ý
thức hệ. Nhưng khi Mao lệnh đánh chiếm Hoàng Sa, chính quyền
Đài Loan, dựa theo lợi ích của người Hán, nhanh chóng ngầm
tạo điều kiện để hải quân Trung Quốc thuận lợi trong
việc di chuyển tiếp cận vị trí tác chiến. Cứ nghĩ thế mà
thấy cay đắng cho người Việt mình!

*** Chúng ta cần thêm cả một chút công bằng khi phán xét
Hội nghị Thành Đô. Tình thế đất nước lúc đó đã như
trứng để đầu gậy, cần phải có hòa bình để tìm cách
thoát hiểm. Đáng trách là ở những gì diễn ra sau đó, kéo
dài mấy chục năm, bỏ lỡ cơ hội vàng hòa nhập với thế
giới văn minh, hiện đại hóa đất nước, tạo sức mạnh cả
quân sự, ngoại giao, uy tín quốc tế… đặng xác lập quan hệ
bình đẳng với Trung Quốc.

**** Chừng nào còn chưa có một <b >Chiến lược quốc gia
</b>trong phát triển, Việt Nam sẽ chỉ là một đất nước
nghiệp dư trong giải quyết mọi vấn đề, may ăn, rủi chịu,
thua thiệt là chính.


***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://www.danluan.org/tin-tuc/20140621/ta-duy-anh-dong-chi-ta-dong-chi-dich),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét