<strong>DẪN NHẬP
</strong>
Cuốn sách của Địch Cường,<em> Trung Quốc và Những Cuộc
Chiến tranh Việt Nam, 1950-1975</em> là một đóng góp nổi bật
cho lịch sử quốc tế về Chiến tranh Lạnh nói chung và cho
lịch sử quốc tế về cuộc Chiến tranh Việt Nam nói riêng.
Các nhà sử học từ lâu đã phỏng đoán về mối quan hệ
giữa Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc và Việt Nam Dân chủ Cộng
hoà trong một phần tư thế kỷ chiến tranh tại Đông Dương,
kéo dài từ 1950 đến 1975. Cho đến khi cuốn sách này xuất
bản thì chúng ta mới biết được thực sự.
Với lối viết rõ ràng và thông suốt đáng ngưỡng mộ, Địch
Cường đã dùng hàng loạt những nguồn thông tin đầy ấn
tượng từ văn khố Trung Quốc vừa được công bố, các hồi
ký, nhật ký, và tuyển tập tài liệu để kể lại việc Trung
Quốc đã giúp đỡ Cộng sản Việt Nam trong cuộc đấu tranh
chống lại nguời Pháp và sau đó là người Mỹ. Sau đây là
một số khám phá nổi bật từ nghiên cứu của ông:
Rằng Mao Trạch Đông nhìn nhận phong trào giải phóng dân tộc
của Việt Nam trên khía cạnh ý thức hệ lẫn địa chính trị.
Cuộc đấu tranh này nhận được hỗ trợ mạnh mẽ vì nó là
một phần của chiến lược lớn hơn của ông ta trong việc
thiết lập một trật tự thế giới chống đế quốc, nhưng
cùng lúc ông cũng không sẵn sàng tách mục đích này ra khỏi
quyền lợi của Trung Quốc trong việc cân bằng sự đối chọi
giữa Liên Sô và Hoa Kỳ. Đây là một nghiên cứu nổi bật về
sự giao thoa giữa quyết tâm cách mạng và chính sách thực
dụng trong suy tính của Mao.
Rằng viện trợ quân sự của Trung Quốc thì rất quan trọng
đối với Việt Minh trong cuộc kháng chiến chống Pháp trước
khi có những thoả thuận từ hiệp định Geneva 1954. Mức độ
của nguồn viện trợ này thật là đáng ngạc nhiên vì lúc ấy
Trung Quốc cũng đang tham dự vào Chiến tranh Triều Tiên.
Rằng người Nga và người Trung Quốc đã, như chúng ta vốn nghi
ngờ từ lâu, ép buộc Việt Minh phải chấp nhận việc chia
cắt đất nước vào năm 1954, nhưng rồi sau đó Trung Quốc lại
hối tiếc, thái độ độ này đã góp phần vào sự chia rẽ
Trung-Sô cũng như việc Bắc Kinh ủng hộ Bắc Việt leo thang
chiến tranh với người Mỹ và Nam Việt Nam trong những năm
đầu 1960.
Rằng Trung Quốc đã gửi khoảng 320 nghìn quân hậu thuẫn đến
Bắc Việt trong giai đoạn 1965-68, và hơn một nghìn người trong
họ đã bị thiệt mạng ở đó, và Mao đã sẵn sàng đánh nhau
trực tiếp với người Mỹ vào năm 1968 nếu họ đổ bộ lên
Bắc Việt.
Rằng Bắc Việt đã không tham vấn Trung Quốc khi họ bắt đầu
đàm phán với người Mỹ vào năm 1968, và ảnh hưởng của
Trung Quốc đối với Bắc Việt đã giảm thiểu từ đấy, trong
khi ảnh hưởng của Liên Sô tăng dần.
Rằng Trung Quốc đã gặp khó khăn rất lớn trong việc giải
thích với Bắc Việt về chuyến thăm Bắc Kinh của Nixon vào
năm 1972, rằng họ đã tìm cách bù đắp bằng cách tăng cường
tiếp tế quân sự cho Hà Nội trong giai đoạn cuối của quá
trình đàm phán ngưng bắn, và rằng - bất chấp mối giao hảo
với người Mỹ - Mao vẫn mạnh mẽ hậu thuẫn việc Pol Pot và
Khmer Đỏ nắm chính quyền tại Cambodia vào năm 1975.
Rằng giờ đây ta biết được cuộc Chiến Trung-Việt năm 1979
bắt nguồn từ mối rạn nứt của liên minh Trung-Việt từ
cuối thập niên 1960 và đầu 1970.
Đây chỉ là vài điểm sáng tỏ có được từ tài liệu nghiên
cứu mang tính mở đường này. Lần đầu tiên nó đã làm nổi
bật vai trò quan trọng của Trung Quốc trong Chiến tranh Việt
Nam. Trên cả mọi thứ, "Lịch sử Mới của cuộc Chiến tranh
Lạnh" dựa vào việc xem xét lại những gì chúng ta từng cho
rằng mình đã hiểu bằng cách truy cập các tài liệu lưu trữ
của "phía bên kia". Cuốn sách này là khuôn mẫu của những
nghiên cứu thuộc dạng này. Chắc chắn nó sẽ định hình
kiến thức của chúng ta đối với cuộc Chiến tranh Lạnh tại
Đông nam Á trong nhiều thập niên tới.
<strong>John Lewis Gaddis</strong>
<em>Tháng Năm 1999</em>
<strong>GIỚI THIỆU</strong>
Quá trình thăng trầm của liên minh Trung-Việt là một trong
những diễn tiến quan trọng nhất đối với lịch sử Chiến
tranh Lạnh tại Châu Á nói chung và với quan hệ ngoại giao Trung
Quốc nói riêng [1]. Trong một phần tư thế kỷ sau khi nước
Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc (CHNDTQ) ra đời vào năm 1949, Bắc
Kinh đã giúp đỡ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (VNDCCH) đấu tranh
chống lại hai kẻ thù hùng mạnh là Pháp và Mỹ. Trong những
năm 1950, các công thức của Trung Quốc được dùng làm khuôn
mẫu cho Đảng Lao động Việt Nam (ĐLĐVN) trong cuộc kháng
chiến chống Pháp và trong nỗ lực tái xây dựng miền bắc.
Trong những năm 1960, Bắc Kinh đã cung cấp rất nhiều viện
trợ để giúp Hồ Chí Minh chống lại Hoa Kỳ. Hậu thuẫn của
Trung Quốc rất quan trọng trong việc ĐLĐVN đánh thắng người
Pháp vào năm 1954 cũng như trong khả năng chống trả áp lực
của Mỹ trong cuộc Chiến tranh Đông dương Lần 2. Vào thời
điểm đoàn kết nhất giữa VNDCCH và Trung Quốc, Hồ Chí Minh
đã xem quan hệ giữa hai bên "vừa là đồng chí vừa là anh
em." Tuy nhiên, trong đầu thập niên 1970, khi cuộc chiến tranh
Việt Nam bắt đầu giảm cường độ và Trung Quốc đang sắp
xếp lại các ưu tiên chiến lược của mình bằng cách cởi
mở với Hoa Kỳ nhằm cân bằng mối đe doạ từ Liên Sô, mối
quan hệ của Bắc Kinh với Hà Nội bắt đầu rạn nứt, với
hệ quả là cuộc giao tranh trực tiếp vào năm 1979.
Nói chung, tầm quan trọng của Trung Quốc trong hai cuộc chiến
tranh Việt Nam đã bị bỏ qua hoặc bị đánh giá thấp trong các
tài liệu của Việt Nam lẫn phương Tây.[2] Các tác giả Việt
Nam thường cố ý bác bỏ vai trò của Trung Quốc để nhằm
tạo ra một "lịch sử mang tính dân tộc,"[3] trong khi việc
khó truy câp các tài liệu lưu trữ tại Trung Quốc đã khiến
giới học giả phương Tây giảm thiểu vai trò của Bắc Kinh
trong mâu thuẫn Đông Dương.[4] Không có một nghiên cứu đầy
đủ nào về quan hệ giữa Trung Quốc với VNDCCH trong giai đoạn
1950-1975. Cuốn sách này cố gắng bù đắp sự thiếu hụt ấy
bằng cách trích dẫn những tài liệu mới có từ Trung Quốc
để trình bày một cách đầy đủ quá trình chuyển hoá trong
mối quan hệ Trung Quốc-VNDCCH giữa hai cuộc chiến tranh Đông
Dương, trong đó chú trọng vào những khía cạnh chiến lược,
chính trị và quân sự của mối quan hệ trên.
Nghiên cứu này phân tích nguồn gốc chính sách Đông Dương
của Bắc Kinh bằng cách đặt nó vào bối cảnh lịch sử,
địa phương và quốc tế, nơi nó được thảo ra. Nghiên cứu
này cũng điều tra các nguyên nhân dẫn đến sự thăng trầm
trong quan hệ Trung Quốc-Việt Nam. Đặc biệt là nó trả lời
một số câu hỏi quan trọng trong việc Trung Quốc dính líu
đến Đông Dương. Một số vấn đề này liên quan đến bản
chất những mục tiêu của Bắc Kinh đối với Việt Nam và quá
trình thực hiện các chính sách của họ. Tại sao Mao lại
quyết định công nhận nước VNDCCH và cung cấp cố vấn quân
sự và viện trợ cho Việt Minh ngay sau khi giành được quyền
lực ở Trung Quốc? Các cố vấn Trung Quốc đóng vai trò gì
trong việc Hồ Chí Minh đánh thắng người Pháp? Tại sao Bắc
Kinh lại tham gia vào Hội nghị Geneva năm 1954 và cổ vũ cho
việc chia cắt Việt Nam? Trung Quốc đã đóng vai trò gì trong
nỗ lực khôi phục miền bắc của VNDCCH sau 1954? Trung Quốc đã
phản ứng ra sao với quyết định của Hà Nội trong việc vực
dậy cuộc chiến tranh cách mạng tại miền nam vào năm 1959? Mao
đã phản ứng ra sao khi Washington leo thang chiến tranh tại Việt
Nam vào giữa thập niên 1960? Và mong muốn của Mao trong việc
tái tổ chức đất nước và xã hội Trung Quốc đã ảnh
hưởng đến các quyết định về Việt Nam của ông ra sao?
<center><img src="https://danluan.org/files/u28/indochinamap.png" />
<em>Bản đồ Đông Dương. Nguồn: Jacques Dalloz, Chiến tranh Đông
Dương 1945-54 (Dublin: Gill & Macmillan, 1987)</em></center>
Những câu hỏi sâu hơn nổi lên từ những tương tác giữa
Trung Quốc với các đồng minh Sô Viết và Việt Nam. Liệu đã
có sự phân chia nhiệm vụ giữa Mao và Stalin trong những năm
đầu Trung Quốc can dự vào Việt Nam? Mâu thuẫn Trung-Sô đã
ảnh hưởng đến chính sách của Bắc Kinh và quan hệ của nó
với Hà Nội như thế nào? Trung Quốc và VNDCCH đã có những
dị biệt gì trong việc phát động chiến tranh và theo đuổi
hoà bình? Việc Trung Quốc chuyển hướng chiến lược đầu
thập niên 1970 đã ảnh hưởng đến quan hệ với VNDCCH ra sao?
Và những dị biệt văn hoá, truyền thống nghi kỵ trong lịch
sử và tranh chấp khu vực đã ảnh hưởng thế nào đến mối
hợp tác Trung-Việt?
Cả hai nước Lào và Cambodia tồn tại trong dưới cái bóng của
các cuộc chiến tại Việt Nam, và tranh chấp tại Việt Nam
thường lan sang hai quốc gia này. Nghiên cứu này cũng đề cập
đến phản ứng của Bắc Kinh đối với những tiến triển
tại Lào và Cambodia, đặc biệt là khi chúng có liên quan đến
những sự kiện tại Việt Nam. Nó đặt phản ứng của Bắc
Kinh vào bối cảnh của chính sách ngoại giao tổng thể cũng
như những quan tâm đặc biệt riêng đối với Việt Nam.
Nhìn rộng hơn, chúng ta rút ra được điều gì từ chính sách
ngoại giao của Mao qua việc phân tích cụ th thái độ và hành
động của Trung Quốc đối với Việt Nam? Xa hơn, chúng ta rút
ra được kết luận gì về việc xây dựng và quản lý đồng
minh của phe Cộng sản trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh qua việc
điều tra chi tiết quá trình thăng trầm của mối quan hệ Bắc
Kinh-Hà Nội?
Các chương kế tiếp sẽ nhận diện những động cơ đầy
phức tạp phía sau chính sách Đông Dương của Bắc Kinh. Việc
cân nhắc những thực thế địa chính trị là một yếu tố
trọng tâm trong tính toán của Mao. Trong suốt thập niên 1950 và
hầu hết thập niên 1960, Mao đã xem Hoa Kỳ là mối đe doạ
chủ yếu đối với nền an ninh và cách mạng Trung Quốc. Vì
thế việc hậu thuẫn Hồ chí Minh và Pathet Lào giúp Mao thoả
mãn mục đích làm suy yếu ảnh hưởng của Mỹ tại Đông nam
Á và đẩy lùi nỗ lực kềm chế Trung Quốc của Washington. Vào
cuối thập niên 1960 đầu 1970, khi Mao nhận thức mối đe doạ
lớn hơn từ Liên Sô và đe doạ nhỏ hơn từ Hoa Kỳ tại Việt
Nam, ông bắt đầu sửa đổi lại chính sách của mình và
khuyến khích Bắc Việt thoả thuận một giải pháp hoà bình.
Tinh thần trách nhiệm quốc tế và nghĩa vụ phải giúp đỡ
một đảng Cộng sản anh em cũng như việc đẩy mạnh cuộc
cách mạng chống đế quốc tại châu Á là một yếu tố quan
trọng, thường mang tính quyết định trong chính sách của Mao
về Việt Nam. Những hành động của Bắc Kinh về Đông Dương
thường được thúc đẩy bởi viễn kiến của Mao về vị trí
của Trung Quốc trên thế giới. Khi cống hiến cả đời cho
cách mạng, Mao nhắm vào việc thay đổi không chỉ nước Trung
Quốc cũ mà cả trật tự thế giới cũ. Thể chế thực dân
Pháp tại Đông Dương bao gồm thành phần của một trật tự
thế giới bất công và sai trái mà Mao mong muốn dẹp bỏ. Trong
suy nghĩ của Mao, nếu không có một thay đổi chống lại hệ
thống quốc tế hiện thời, chiến thắng vừa có được của
Cộng sản tại Trung Quốc sẽ không được bảo đảm, củng
cố và chính danh. Trong khi trật tự quốc tế cũ đã khiến
Trung Quốc phải chịu đau khổ và nhục nhã, thì việc thành
lập một trật tự mới sẽ đóng góp cho sự tái sinh và thịnh
vượng của Trung Quốc. Mao đặt nền an ninh và thịnh vượng
trong nước ngang hàng với việc phát triển phong trào phản đế
và các cuộc cách mạng vô sản trên thế giới. Một thế giới
gồm các quốc gia Cộng sản cùng chí hướng sẽ là một bảo
đảm tốt nhất cho chính quyền của Mao tại Trung Quốc. Mao xen
lẫn các quan tâm về vấn đề an ninh với ý thức hệ trong suy
nghĩ của mình. Mao và các đồng sự xem cuộc cách mạng của
mình tương tự với các phong trào giải phóng dân tộc khác
tại các quốc gia đang phát triển và cho rằng khuôn mẫu Trung
Quốc thì quan trọng đối với các phong trào ấy. Xa hơn, Mao can
thiệp vào Đông Dương để tự tạo dựng hình ảnh Trung Quốc
trên thế giới.
Tuy nhiên Mao không theo đuổi những mục tiêu cách mạng của
mình tại Đông nam Á với cùng cường độ trong khoảng thời
gian được đề cập trong cuốn sách này. Mặc dù đồng cảm
với phong trào chống đế quốc thực dân trên thế giới, Mao
cũng không muốn gây chiến với Hoa Kỳ. Vị lãnh tụ Trung Quốc
này là một người thực tế, có đủ khả năng để chỉnh
sửa chính sách khi gặp phải những khó khăn kinh tế trong
nước hoặc những áp lực từ nước ngoài. Ông có khả năng
vượt qua những thoái bộ chiến thuật trong nhiều lần nhưng
luôn giữ vững lập trường của mình. Ví dụ như từ năm 1954
đến 1960, ông giảm bớt sự ủng hộ của Bắc Kinh đối với
phong trào phản kháng tại Đông Dương để Trung Quốc có thể
tập trung phát triển kinh tế trong nước. Mao không ngần ngại
đề xuất chiến thuật ôn hoà hoặc nhượng bộ nếu thấy
thế lực phản động đang quá mạnh để phong trào cách mạng
có thế tiếp tục đấu tranh. Đấy là lý do tại sao ông đã
chấp nhận một chia rẽ hoà bình tại Việt nam tại Hội nghị
Geneva năm 1954 và can ngăn nỗ lực thống nhất đất nước của
Hồ Chí Minh lúc ấy. E sợ việc Mỹ can thiệp vào Việt Nam
nếu chiến tranh tiếp diễn, Mao không muốn Trung Quốc dính líu
đến một cuộc chiến tương tự như tại Triều Tiên, vốn sẽ
làm Trung Quốc trệch hướng quá trình tái xây dựng rất cần
thiết trong nước. Nỗi lo trước sự can thiệp của Mỹ cũng
giải thích được quyết định của Mao trong việc đưa Lào
trở lại tình trạng trung lập trong Hội nghị Geneva 1961-62. Mao
ủng hộ hình thức trung lập của Lào lúc ấy không phải vì
ông muốn tạo ra tình trạng trung lập vĩnh viễn ở nước này,
như Liên Sô mong muốn, mà bởi vì ông muốn tạo thêm thời gian
để Pathet Lào củng cố và phát triển lực lượng, tiến đến
giành lấy quyền lực. Trong tính toán của Mao, nhượng bộ và
ôn hoà không có nghĩa là từ bỏ; cách mạng cần phải qua
từng giai đoạn. Mao hiểu rõ câu châm ngôn của Lenin "một
bước lùi hai bước tiến" khi tiến hành cách mạng. Và từ
kinh nghiệm của chính mình, ông kết luận rằng việc chuẩn
bị cho chuyển biến cách mạng là một cuộc đua đường dài
chứ không phải là cự ly ngắn.
Tính cách cá nhân là yếu tố quan trọng thứ ba trong quá trình
hình thành thái độ của Bắc Kinh đối với cách mạng Việt
Nam. Khi cân nhắc viện trợ cho Việt Minh, giới lãnh đạo ĐCSTQ
không thể bỏ qua mối quan hệ cá nhân mật thiết và tình
đoàn kết cách mạng mà họ và Hồ Chí Minh đã có được trong
những năm cùng nhau chiến đấu trước đây. Có cùng những giá
trị và niềm tin giống nhau, họ đã trải qua những khó khăn
trở ngại tương tự nhau. Hồ đã làm bạn với những đảng
viên ĐCSTQ kỳ cựu như Chu n Lai, Lưu Thiếu Kỳ, Hoành Nhược
Phi, Bành Phái, và Lý Phú Xuân từ những năm 1920, khi ông hoạt
động trong Đảng Cộng sản Pháp và sau đó đóng vai đại
diện của Đệ Tam Quốc tế hỗ trợ phong trào công nhân và
nông dân tại Quảng Đông. Trong thời kỳ nội chiến ở Trung
Quốc vào những năm cuối 1940, chính quyền của Hồ đã cung
cấp nơi trú ẩn cho quân đội ĐCSTQ từ miền nam Trung Quốc khi
họ rút quân sang Việt Nam để tránh quân đội Quốc Dân Đảng
tấn công. Qua quyết định giúp đỡ Việt Minh vào năm 1950, Mao
nhấn mạnh tầm quan trọng của việc trao đổi tình hữu nghị
giữa hai bên.
Cuối cùng, chủ ý sử dụng cuộc đấu tranh quốc tế để
phát triển lịch trình chính trị trong nước thường được
đặt ở vị trí quan trọng trong các cân nhắc của Mao về
Việt Nam. Việc này thể hiện rõ rệt vào năm 1962 khi Mao chỉ
trích những đề xướng được xem là xét lại trong chính sách
đối ngoại từ nội bộ đảng và nhấn mạnh lần nữa sự
cần thiết phải chống lại chủ nghĩa đế quốc và ủng hộ
phong trào giải phóng dân tộc, bao gồm cuộc đấu tranh tại
Việt Nam. Sự tái nhấn mạnh việc ủng hộ sự nghiệp phản
đế trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng đã
tạo cho Mao một công cụ hữu hiệu để vận động hậu thuẫn
từ trong nước cho quá trình "diễn tiến cách mạng" của
ông, và để dẹp bỏ những chướng ngại bên trong giới lãnh
đạo đảng, vốn đang bị chia rẽ bởi những thảm hoạ của
chương trình Bước Đại Nhảy Vọt. Tương tự, giữa những
năm 1965 và 1966 Mao đã dùng nguyên cớ cần thiết phải ủng
hộ cuộc chiến tranh của Hà Nội chống lại Hoa Kỳ để phát
động một chiến dịch chống đế quốc trong nước, để phục
hồi tinh thần cách mạng cấp tiến và để vận động quần
chúng đấu tranh chống lại những lãnh đạo "xét lại" trong
đảng, những người đang muốn đi theo con đường của Liên Sô
nhằm phục hồi chủ nghĩa tư bản tại Trung Quốc. Nói chung,
chính sách Đông Dương của Bắc Kinh là kết quả của một
tổng thể bao gồm thực tế địa chính trị, niềm tin ý thức
hệ, tính cách cá nhân, và các hoàn cảnh chính trị.
Cuốn sách này nhấn mạnh vai trò của khía cạnh con người
trong việc làm nên lịch sử. Trước hết là Mao đầy quyền
lực với những ý tưởng và tầm nhìn kiến tạo cơ cấu chung
cho chính sách về Việt Nam của Trung Quốc. Ông là người
quyết định việc giúp đỡ Hồ Chí Minh, thương thảo với các
cường quốc phương Tây, đối đầu với áp lực từ Mỹ, bác
bỏ những đề nghị của Liên Sô, hoặc tăng cường quan hệ
với Washington trong những thời điểm quan trọng. Kế đến là
những đồng sự thân tín của Mao và những lãnh đạo thứ nhì
trong đảng, bao gồm Chủ tịch nước Lưu Thiếu Kỳ, Thủ
tướng Chu n Lai, tổng bí thư đảng Đặng Tiểu Bình, Bộ
trưởng Ngoại giao Trần Nghị, Đại sứ La Quí Ba, các tướng
Trần Canh và Vi Quốc Thanh, những nhân vật đã trung thành thực
thi những quyết định ngoại giao và quân sự của Mao đối
với Việt Nam. Những chương kế tiếp sẽ liệt kê và đánh
giá cụ thể một Mao Trạch Đông đầy lôi cuốn như là một
nhà cách mạng nhìn xa trông rộng, một Lưu Thiếu Kỳ cẩn
trọng như một nhà tổ chức kỹ lưỡng việc tiếp tế cho
Việt Minh, một Chu n Lai lão luyện trong vai trò của nhà ngoại
giao thông minh tại các hội nghị quốc tế, một Đặng Tiểu
Bình cứng rắn khi thương lượng với Bắc Việt, một Trần
Nghị thẳng thắn là tiếng nói của Mao trong các vấn đề
quốc tế, và Trần Canh cùng Vi Quốc Thanh dày dạn trận mạc
trong vai trò cố vấn quân sự trên chiến trường Việt Nam. Họ
đã đạt được chiến thắng nhưng cũng mắc phải sai lầm.
Tiếng nói của họ làm nên chính sách của Trung Quốc và ứng
xử của họ để lại dấu ấn sâu đậm trong mối quan hệ
Trung-Việt.
Quan hệ Bắc Kinh-Hà Nội bao gồm cả đồng thuận lẫn mâu
thuẫn, hợp tác và đối đầu. Nghiên cứu này sẽ tìm hiểu
bản chất và các động lực của mối quan hệ này và đặt nó
vào trong bối cảnh lịch sử phức tạp của chính nó. Trong
suốt lịch sử của mình, người Việt có một thái độ
yêu/ghét đối với Trung Quốc. Một mặt, họ có truyền thống
hướng về Trung Quốc để tìm kiếm khuôn mẫu và nguồn cảm
hứng. Các vua chúa Việt Nam đã bắt chước và vận dụng
những phương pháp và tổ chức của Trung Quốc để biến mình
thành một lực lượng chính danh. Bày tỏ lòng kính nể đối
với triều đình bề trên Trung Quốc là con đường duy nhất
để tránh chiến tranh của người Việt, và chấp nhận những
định chế văn hoá của Trung Quốc đã trở thành thói quen của
giới cầm quyền Việt Nam. Mặt khác, người Việt luôn mong
muốn gìn giữ độc lập cũng như truyền thống văn hoá của
mình.
Trong những thập niên 1950 và 1960, Cộng sản Việt Nam phải
đối diện với những kẻ thù hùng mạnh là người Pháp và
người Mỹ khi tìm cách thống nhất đất nước. Hồ Chí Minh
đã tích cực tìm kiếm tham vấn và vũ khí từ Trung Quốc.
Nhưng thái độ nghi ngờ vẫn hề biết mất. Ví dụ Trung Quốc
nghi ngờ Hà Nội muốn sát nhập Lào and Cambodia vào với mình
thành một "Liên bang Đông Dương" trong khi Bắc Việt cũng dè
chừng mối "quan hệ đặc biệt" với Lào khi Trung Quốc tăng
cường viện trợ cho Pathet Lào.
Quan hệ CHNDTQ-VNDCCH bao gồm việc hội nhập và chia sẻ quyền
lợi. Hai quốc gia có cùng một triển vọng ý thức hệ và một
quan tâm chung về sự can thiệp của người Mỹ vào Đông
Dương, nhưng giới lãnh đạo Hà nội muốn tránh xa mối nguy
hiểm của việc phải vướng vào mối quan hệ phụ thuộc với
Trung Quốc. Một khi giới lãnh đạo Hà Nội và Bắc Kinh vẫn
còn có các mục tiêu chung là chấm dứt sự hiện diện của Hoa
Kỳ trong khu vực, những quyền lợi riêng rẻ trên sẽ nhượng
bộ cho các điểm thoả thuận của hai bên. Nhưng vào năm 1968
mối quan hệ Trung-Việt đã chuyển nhanh sang chiều hướng xấu
khi Washington vừa đưa ra một bước thăm dò trong việc nới
lỏng cam kết với Nam Việt. Trong tình hình mới, quyền lợi
chiến lược của Bắc kinh bắt đầu có sự khác biệt cơ bản
so với Hà Nội. Trong khi lúc này Trung Quốc xem Hoa Kỳ như là
một tiềm năng đối trọng để chống lại Liên Sô, những
đồng chí Việt Nam vẫn tiếp tục xem Washington là đối thủ
nguy hiểm nhất. Sau khi quân đội Hoa Kỳ rút quân khỏi Việt
Nam và đất nước được thống nhất, những tranh chấp song
phương giữa Hà Nội và Bắc Kinh về Cambodia, về bất đồng
lãnh thổ trên biển Đông và việc đối xử với người gốc
Trung Quốc tại Việt Nam bắt đầu gia tăng, dẫn đến cuộc
chiến tranh biên giới vào năm 1979.
Nghiên cứu này lần đầu tiên vận dụng những nguồn tài
liệu do Trung Quốc công bố trong vài năm gần đây. Những tài
liệu mới này được xếp vào bốn loại: nguồn hồ sơ lưu
trữ, các tuyển tập tài liệu đã được xuất bản, hồi ký
và nhật ký, và các tài liệu gián tiếp dựa trên các nguồn
lưu trữ.
<strong>
Nguồn Hồ sơ Lưu trữ</strong>
Trong khi các nhà nghiên cứu không được truy cập những tài
liệu lưu trữ quan trọng như Văn khố Trung ương ĐCSTQ và Văn
khố Bộ Ngoại giao tại Bắc Kinh, các văn khố địa phương
của đảng tại các tỉnh thì ít nghiêm ngặt hơn và hợp tác
hơn với các học giả. Trong thời gian 1995 và 1996, tôi đã có
hai chuyến đi nghiên cứu đến Văn khố Chính quyền Nhân dân
tỉnh Giang Tô. Kho tài liệu này bao gồm các chỉ thị do Uỷ ban
Trung ương ĐCSTQ tại Bắc Kinh gửi cho các lãnh đạo tỉnh
giải thích vai trò của Trung Quốc trong hàng loạt những vấn
đề quốc tế bao gồm Đông Dương. Từ năm 1958 đến 1966, Văn
phòng Đối ngoại ca Uỷ ban Nhà nước triệu tập các cuộc
họp hàng năm về công tác đối ngoại tại Bắc Kinh, trong đó
các cán bộ từ trung ương đảng và các cơ quan chính quyền
như Ban Liên lạc Quốc tế ĐCSTQ, Bộ Ngoại giao và Uỷ ban
người Hoa Nước ngoài báo cáo và giải thích cho các cán bộ
chuyên về ngoại giao cấp tỉnh những diễn tiến mới của quan
hệ ngoại giao Trung Quốc. Nhiều bài phát biểu và tài liệu
nội bộ từ những hội nghị này được lưu giữ tại Văn
khố tỉnh Giang Tây. Những tài liệu này trình bày quan điểm
và phản ứng của lãnh đạo Trung Quốc đối với những diễn
biến trên thế giới nói chung và Đông Dương nói riêng chính
xác hơn so với các tường thuật từ báo chí Trung Quốc thời
kỳ ấy.
<strong>Các Tuyển Tập Tài Liệu Đã Xuất Bản</strong>
Trong những năm gần đây Bắc Kinh đã xuất bản nhiều tuyển
tập gồm các bản thảo, bài viết, trao đổi và phát biểu
của các lãnhđạo như Mao, Lưu Thiếu Kỳ, Chu n Lai. Những bộ
sách này bao gồm vô số những bức điện tín từ các lãnh
đạo trên gửi đến các cố vấn Trung Quốc tại VNDCCH cũng
như vô số những ghi chép từ các trao đổi giữa họ và đối
tác Việt Nam. Những bộ sách quan trọng nhất cho cuộc nghiên
cứu này gồm <em>Kiến quốc Dĩ lai Mao Trạch Đông Văn
cảo</em> (Bản thảo của Mao Trạch Đông từ khi lập nước cho
đến nay) gồm 18 bộ (Bắc Kinh XB 1987-98), <em>Mao Trạch Đông
Quân sự Văn tập</em> (Tuyển tập các bài viết quân sự của
Mao Trạch Đông) 6 bộ (Bắc Kinh XB 1993), <em>Mao Trạch Đông
Ngoại giao Văn tuyển</em> (Tuyển tập các bài viết ngoại giao
của Mao Trạch Đông) (Bắc Kinh XB 1994), <em>Chu Ân Lai Niên Phả,
1949-1976</em> (Biên niên ký của Chu Ân Lai) 3 bộ (Bắc Kinh XB
1997), <em>Chu Ân Lai Ngoại giao Văn tuyển</em> (Tuyển tập các
bài viết ngoại giao của Chu Ân Lai) (Bắc Kinh XB 1990), <em>Chu Ân
Lai Ngoại giao Hoạt động Đại Sự ký, 1949-1975</em> (Ký sự
những hoạt động ngoại giao của Chu Ân Lai) (Bắc Kinh XB 1993),
<em>Lưu Thiếu Kỳ Niên Phả </em>(Biên niên ký của Lưu Thiếu
Kỳ), 2 bộ (Bắc Kinh XB 1996).
<strong>Hồi Ký Và Nhật Ký</strong>
Nhiều quan chức đảng, chỉ huy quân sự, nhà ngoại giao, thư
ký và thông dịch viên về hưu đã xất bản những hồi ký và
nhật ký cá nhân của mình trong thập niên vừa qua. Trong vài
trường hợp, các tác giả nhờ vào những phụ tá trẻ giúp
họ đối chứng tài liệu trong các văn khố. Những nhật ký và
hồi ký này thường cho thấy những động cơ và tính toán
ngầm đằng sau những trường hợp đơn thuần về chính sách.
Không những chúng cung cấp những bằng chứng mới về những
lời phát biểu của Mao vốn thường không tìm thấy ở nơi
khác, mà còn là một cửa sổ quan trọng cho thấy những gì ông
đã đọc. Từ đó ta có thể tự do tìm hiểu mối tương giao
trong các hoạt động của Mao với những đồng sự cao cấp và
thư ký của mình. Từ những câu chuyện này, ta có thể nhận
hiểu được quá trình thảo chính sách cũng như quan điểm của
Mao. Những nhật ký và hồ ký cá nhân có ích nhất cho cuộc
nghiên cứu này bao gồm Bạc Nhất Ba, Trần Canh, Hu Zhengqing, Lý
Việt Nhiên, La Quí Ba, Shi Zhe, Tong Xiaopeng, Vương Bỉnh Nam, Ngũ
Tu Quyền, Hùng Hướng Huy, Zeng Sheng, và Zhang Dequn[5].
<strong>Những Bài Viết Gián Tiếp</strong>
Kể từ giữa thập niên 1980, một số lớn các tài liệu gián
tiếp dựa trên các nguồn lưu trữ đã xuất hiện tại Trung
Quốc. Chúng bao gồm lịch sử tổng quát về đảng, quân đội,
và ngoại giao, các tiểu sử, chuyên khảo và bài viết. Tác
giả của chúng đa số từ Bắc Kinh, hoặc là một tập thể
các tác giả do đảng tập hợp hoặc các học giả làm việc
riêng rẻ được phép truy cập các kho lưu trữ. Những tác
phẩm này thường trích dẫn các tài liệu lưu trữ nổi bật.
Nhưng vì những cấm đoán của đảng, họ chỉ đề cập đến
các nguồn tài liệu này mà không nói rõ nơi lưu trữ chúng.
Khi tìm hiểu những nguồn tài liệu mới đã nói ở trên, tôi
đã tránh không để lòng phấn chấn về việc khám phá ra chúng
làm ảnh hưởng đến thái độ nghiêm khắc cũng như tính nhạy
cảm của mình đối với nội dung vốn vô cùng quan trọng trong
việc xem xét bất kỳ bộ phận nào của các thông tin lịch
sử. Khi sử dụng các tuyển tập tài liệu đã xuất bản, tôi
hoàn toàn biết rõ rằng chúng đã được giới biên tập viên
của đảng lựa chọn, thường là với mục đích chính trị,
và chúng có thể không phải là những tài liệu hoàn hảo. Tôi
đã cố gắng làm việc một cách cẩn trọng với những bộ
văn tuyển này, loại bỏ một lượng lớn những cường điệu
và bí ẩn. Tôi cũng đã đối xử với các hồi ký với sự
cẩn trọng tương tự, hoàn toàn nhận thức được rằng ký
ức của con người thì rời rạc và có thể không đúng sự
thật và hồi tưởng của các cá nhân thường là để tự đề
cao mình. Mỗi khi có thể, tôi đã đối chiếu và xác nhận các
câu chuyện, chỉ ra những dị biệt và mâu thuẫn. Khi làm việc
với các tài liệu gián tiếp dựa trên văn bản lưu trữ, tôi
nhận thức rõ rằng mình phải dựa vào sự xét đoán của các
tác giả cũng như sự thiếu sót trong các nguồn tài liệu mà
các tác giả ấy được phép truy cập.
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20140102/dich-cuong-trung-quoc-va-nhung-cuoc-chien-tranh-viet-nam-1950-1975),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét