<div class="boxright300"><img
src="https://fbcdn-sphotos-b-a.akamaihd.net/hphotos-ak-prn1/71870_530993050283378_1739710633_n.jpg"
/><div class="textholder">Tranh Medi Belortaja</div></div>
Hầu như đại đa số người Việt Nam chúng ta, sâu trong tiềm
thức, thường có khuynh hướng đánh giá mọi vấn đề chính
trị, đặc biệt là chính trị quốc tế, trên căn bản tình
cảm và đạo lý, theo công thức lưỡng chuẩn: yêu-ghét, bạn
thù, tốt-xấu, đúng-sai, thiện-ác, chánh-tà, v.v… Người
viết tạm đặt tên cho lối lượng định dựa trên tiêu chuẩn
đạo đức như vậy là lối nhận định Nhị Nguyên, một lối
nhận định gói ghém nhiều cảm tính chủ quan, bắt nguồn từ
thói quen chia hai trong tư duy và trong thế giới quan lưỡng cực,
di sản của văn hoá Khổng Giáo cộng với não trạng Chiến
Tranh Lạnh. Lối nhận định đó thường dẩn đến sai lạc, và
dễ khiến con người có khuynh hướng cực đoan. Trong khi đó
phương thức xem Quyền lực như là động cơ, hay yếu tố
chính, trong quan hệ quốc tế là một phương cách lý tính khách
quan, xuất phát từ thực chất vụ lợi của mối quan hệ ấy
và bản chất cố hữu của con người. Việc lượng định các
mối bang giao quốc tế dựa trên Quyền lực sẽ giúp người
quan sát giữ được thái độ vô tư, thăng bằng, không để
bị tình cảm, đạo đức, hay ý hệ, chi phối sự phán đoán
của mình, từ đó giúp tiếp cận được thực chất của các
biến cố quốc tế một cách chính xác hơn, tránh được lầm
lẫn gây ra do tình cảm hay định kiến ý hệ.
Chính trị quốc tế, xét cho cùng, chỉ là đỉnh cao của cuộc
đấu tranh sinh tồn của loài người. Điều làm cho cuộc đấu
tranh ấy của con người mang dáng vẻ cao siêu chính là văn hoá.
Văn hoá chính là bộ áo quần sặc sở che dấu phần trần
trụi hết sức thô tục và tàn bạo của nhân loại. Nhưng dù
thế nào đi nữa, thì áo quần chỉ là vật che bọc bên ngoài,
dù có đẹp đẽ bao nhiêu cũng không đổi thay được thực
chất ở bên trong. Thực chất ấy, trong chính trị quốc tế,
là mỗi quốc gia đều cố gắng hết sức, bằng mọi biện
pháp có thể, thâu đạt cho bằng được, càng nhiều càng tốt,
quyền lợi về cho mình. Quyền lợi ấy bao gồm tất cả: quân
sự, chính trị, ngoại giao, tài nguyên, và kinh tế, v.v...Trong
mối bang giao ấy thì cứu cánh biện minh cho phương tiện, mạnh
được yếu thua, cá lớn nuốt cá bé, kẻ mạnh làm ra luật và
viết nên lịch sử. Chẳng có gì gọi là CÔNG LÝ, và nếu có
chăng, thì cũng chỉ được đề cập đến bởi kẻ chiến
thắng sau cùng. Kể cả lịch sử thì cũng chỉ đáng kể khi
được người thắng cuộc viết ra. Và tất cả đó là điều
tự nhiên, nếu không muốn nói là luật tự nhiên. Trước đây,
trong thời thuộc địa, đã không hề có cái gọi là KHAI HOÁ
VĂN MINH, thì ngày nay cũng không có việc TRUYỀN BÁ và BẢO VỆ
TỰ DO-DÂN CHỦ. Mỗi quốc gia trong quan hệ với quốc gia khác
luôn nhắm đến một mục tiêu duy nhất; đó là bảo vệ sự
sống còn của mình và trở nên mạnh hơn, để nếu không
thống trị được thì ít nhất cũng lấn át được, nước kế
bên. Và để đạt mục tiêu đó, mỗi quốc gia phải luôn tìm
cách gia tăng Quyền Lực của mình và nếu được thì tìm cách
giảm thiểu, hay vô hiệu hoá, quyền lực của quốc gia bên
cạnh.
Khả năng quân sự là sự thể hiện của quyền lực vừa nói,
đồng thời cũng là phương tiện bảo vệ và phát huy Quyền
Lực. Nhưng nền tảng của quân sự lại là kinh tế, hay đúng
hơn là sự giàu mạnh về vật lực và nhân tài. Chính do nền
tảng kinh tế của quyền lực mà chế độ thuộc địa khai
sinh; và cũng chính trên nền tảng kinh tế đó mà sự toàn cầu
hoá, thừa kế chế độ thuộc địa, ra đời.
Trước đây, những đế quốc lững lẫy như Anh, Pháp, Tây Ban
Nha, Bồ Đào Nha, Đức, Ý, Nhật, v.v…đã tìm cách gia tăng
sức mạnh kinh tế, tức nền tảng của quyền lực, bằng cách
đi xâm chiếm các nước nhược tiểu, chiếm đoạt nguồn tài
nguyên, nhân lực của các nước ấy, phục vụ cho kinh tế của
mình. Trong quá trình xâm chiếm thuộc địa ấy, các cường
quốc cạnh tranh và tìm cách loại trừ lẫn nhau, hay chí ít
cũng làm cho cường quốc bên cạnh yếu hơn mình. Các cuộc
thế chiến là đỉnh cao của những cạnh tranh như vậy. Đặc
điểm của chế độ thuộc điạ là sự chiếm đóng bằng quân
sự và sự cai trị trực tiếp của cường quốc đối với
thuộc địa.
Các cuộc thế chiến, tuy khủng khiếp, nhưng giúp các cường
quốc rút ra một bài học quan trọng; đó là việc chiếm đóng
và cai trị của cường quốc đối với thuộc địa, tuy có mang
lại những lợi ích lớn lao về kinh tế cho mẫu quốc, nhưng
xét dưới góc độ doanh lợi thì đó không phải là phương
thức tối ưu để gia tăng quyền lực cho cường quốc; nó có
những nhược điểm lớn, chẳng hạn như phải chi phí tốn kém
cho việc chiếm đóng và bình định, và cả cai trị nữa, và
không thuận tiện về mặt tuyên truyền. Mặt khác sự cạnh
tranh giữa các cường quốc trong việc giành thuộc địa đã
đưa đến những hậu quả thảm khốc; lợi bất cập hại.
Việc đem quân chiếm đóng, cử người cai trị, là rất tốn
kém; ngay cả với chế độ thuộc điạ hiệu năng cao nhất như
của Anh Quốc: chỉ cần 100,000 quân sĩ và viên chức, mà cai
trị được cả một Ấn Độ đông đến 300 triệu, cũng không
còn được xem là phương thức tối ưu. Một phương thức theo
đó không cần có quân đội chiếm đóng và bổ nhiệm nhân
viên cai trị, nhưng vẫn bảo đảm cho cường quốc thu hút
được tài nguyên và khai thác được nhân lực của các nước
nhược tiểu phục vụ nền kinh tế của mình, là phương thức
hay hơn, nếu không muốn nói là tối ưu, phù hợp hơn với mức
độ tiến bộ của khoa học-kỹ thuật. Bài học đó đã
được các cường quốc rút tỉa với kết quả là một hệ
thống quan hệ quốc tế mới ra đời, và cường quốc sinh sau
đẻ muộn, nhưng giàu mạnh vượt lên trên hết sau Đệ Nhị
Thế Chiến là Mỹ, là người thực hiện việc xây dựng hệ
thống mới đó.
Trong hệ thống đó, Liên Hiệp Quốc, cùng các cơ quan quốc tế
khác, không có thực quyền của một cơ quan quốc tế tối cao,
hoạt động trên nguyên tắc Dân Chủ và Bình Đẳng, với chức
năng thúc đẩy sự hợp tác và duy trì hoà bình thế giới như
đã được đề ra rất đẹp trong Hiến Chương, mà chỉ là
một diễn đàn thừa hành quyết định của các siêu cường,
ở đó các quốc gia nhỏ yếu không có tiếng nói. Nói cách
khác, đại biểu của các quốc gia, tuy bề ngoài là bình đẳng
khi đầu phiếu đối với những vấn đề quốc tế thông
thường, lại bất bình đẳng, và đa số là vô quyền, trong
những vấn đề quốc tế quan trọng. Chẳng hạn, quan trọng
nhất trong quan hệ quốc tế là vấn đề an ninh, nhưng vấn
đề này không thuộc quyền của Đại Hội Đồng Liên Hiệp
Quốc, mà thuộc quyền quyết định của Hội Đồng Bảo An
Liên Hiệp Quốc, trong đó tập trung vào 5 quốc gia có quyền
phủ quyết tối cao; đó là Mỹ, Anh, Pháp, Nga và Trung Quốc.
Đặc điểm của cơ cấu phủ quyết này đã khiến thực quyền
duy trì hoà bình thế giới không nằm trong tay đông đảo các
quốc gia thành viên của LHQ, mà nằm trong tay của 5 cường
quốc có quyền phủ quyết; và chỉ cần 1 cường quốc phủ
quyết là đủ để Liên Hiệp Quốc không đạt được một
quyết nghị cuối cùng nào trước một vấn đề an ninh quốc
tế chung. Mặt khác cơ cấu của Hội Đồng Bảo An rõ ràng là
thiên vị, dành ưu thế cho Mỹ và hai đồng minh của Mỹ. Anh,
Pháp hiện nay, xét về năng lực kinh tế, vai trò và ảnh
hưởng quốc tế đang thua kém khá xa các quốc gia Nhật, Đức,
Ấn Độ, và Ba Tây, nhưng vẫn ngồi đó trong Hội Đồng Bảo
An với quyền phủ quyết tối cao ảnh hưởng sinh mệnh của
mọi quốc gia trên thế giới! Đó là chưa kể trên bình dịên
kinh tế, các quyết định quan trọng về tài chánh, tiền tệ,
hối suất, tín dụng, mậu dịch, v.v…đều không thuộc về
LHQ, mà thuộc về World Bank, IMF, và WTO của hệ thống Bretton
Woods, được lập ra tại hội nghị do Anh-Mỹ chủ trì ở
Bretton Woods, bang New Hampshire năm 1944.
Đặc điểm của các cơ quan kinh tế-tài chánh vừa nói là
không có sự đầu phiếu bình đẳng theo nguyên tắc dân chủ;
mà mọi quyết định quan trọng đều đến từ cường quốc có
bách phân vốn đóng góp cao nhất. Tất cả điều lệ của WTO
cũng không phải do sự thỏa thuận chung của các thành viên, mà
là do những cường quốc khai sáng tiền thân của nó là ITO
(International Trade Organization) đặt ra. World Bank, lúc khởi sự
có nhiệm vụ chính là tái thiết Âu Châu, nhưng dần dà về sau
mở rộng ra đảm đương việc xây dựng hạ tầng cơ sở cho
các quốc gia thứ ba không thuộc khối Cộng sản. IMF là cơ quan
có nhiệm vụ chính trong việc quản trị hệ thống tiền tệ
quốc tế. Ba cơ quan này là ba trụ cột dựng lên nền kinh tế
toàn cầu ngày nay; một hệ thống lấy nền kinh tế thị
trường, hay đúng hơn, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa làm nòng
cốt.
Ngoài ba cơ quan trên, một yếu tố khác của hệ thống thế
giới mới; đó là đồng dollars. Dollars, do vị trí của người
chủ nợ lớn nhất thế giới sau Đệ Nhị Thế Chiến, nghiễm
nhiên trở thành tiền tệ quốc tế. Các đồng tiền khác như
Đức Mark, Bảng Anh, đồng France, v.v…mất hầu hết địa vị
quốc tế của mình. Ngay cả các cường quốc đầu tiên của
IMF vẫn phải quy phần tiền tệ đóng góp của mình thành
đồng dollars. Các quốc gia khác thì, khỏi nói, họ phải kiếm
mọi cách thu góp, tích trữ càng nhiều dollars càng tốt cho các
thanh toán tài chánh quốc tế, cũng như cho dự trữ ngoại hối
của mình, và duy trì sự ổn định nền kinh tế của mình
bằng cách gia tăng khối dự trữ ngoại hối bằng dollars đó.
Mọi giao dịch quốc tế đều bằng dollars: vay mượn, mua bán
tài nguyên thiên nhiên, sản phẩm, hàng hoá, các dịch vụ ngân
hàng, công việc kế toán, thống kê, v.v… tất cả đều bằng
dollars hoặc căn cứ trên dollars. Giai đoạn đầu dollars sử
dụng vàng làm bản vị; nghĩa là người ta có thể đem dollars
đổi lấy vàng ở ngân hàng. Nhưng đến năm 1971, TT Nixon của
Mỹ đơn phương huỷ bỏ kim bản vị và thả nổi đồng
dollars. Có một điều quan trọng là tuy không còn dùng kim bản
vị, nhưng dollars vẫn giữ nguyên địa vị quốc tế của mình,
vì một trong những hàng hoá quan trọng nhất của thế giới,
được gọi là <em>"máu"</em> của nền văn minh, là dầu hoả
vẫn phải được mua bán bằng dollars! Dollars được gọi là
đồng tiền thế giới, đơn giản vì ngoài Mỹ ra, tất cả các
quốc gia trên thế giới, từ những cường quốc như Trung
Quốc, Nhật, Nga, Ấn Độ, Anh, Đức, Ý, Pháp, Ba Tây,v.v…, các
nước sản xuất dầu hoả đứng đầu thế giới như Saudi
Arabia, Iran, Iraq, rồi đến các nước nhược tiểu như Việt
Nam, Lào, Campuchia, v.v…tất thảy đều đua nhau dự trữ dollars,
và dùng lượng dollar dự trữ ấy để duy trì sự ổn định
cho kinh tế của mình.
Với IMF, World Bank, WTO và với vị trí quốc tế của dollars,
người ta quan sát thấy một điều hết sức thú vị. Đó là
các cường quốc, đứng đầu là Mỹ, không cần phải đưa
quân chiếm đóng hay đặt quan cai trị ở các nước nhược
tiểu ở Á-Phi và Nam Mỹ, nhưng tài nguyên và nhân lực lao
động của các nước này vẫn cứ tuôn chảy về phục vụ cho
nền kinh tế của các cường quốc. Mức độ toàn cầu hoá kinh
tế càng cao, người ta càng nhận rõ hiện tượng thú vị đó
hơn. Chẳng hạn, các cường quốc không cần chiếm đóng VN,
nhưng dầu thô, hải sản, lâm sản quý, cao su, hàng tiểu thủ
công, hàng may mặc, v.v… của Cộng Hoà XHCNVN vẫn tìm cách
tuôn nhập vào nước Mỹ, vào Âu Châu, Nhật bản và Trung
Quốc; sức lao động rẽ mạt của công nhân Việt Nam vẫn
được các công ty ngoại quốc tận dụng cho quá trình sản
xuất sản phẩm để đưa về phục vụ giới tiêu thụ của
các cường quốc. Và không những không than oán hay chống đối,
Việt Nam còn vui vẻ tự nguyện để làm như vậy. Và không ai
dám cả quyết rằng hàng hoá và nhân lực bán cho các cường
quốc trong hệ thống mới ngày nay được giá hơn, một cách
tương đối, với giá trong thời thuộc địa hay không. Nhưng
điều chắc chắn là các nước nhược tiểu ngày nay, trong đó
có Việt Nam, tuy được độc lập và có chủ quyền hành chánh,
vẫn không có khả năng chủ động, hay ngay cả ảnh hưởng,
trong cơ cấu giá cả trên thị trường quốc tế; nghĩa là họ
không có quyền quyết định giá bán hàng hoá-sản phẩm của
họ, và lại càng không có khả năng để mặc cả khi mua những
sản phẩm khoa học-kỹ thuật, quân sự và y tế cao cấp của
Tây Phương.
Mấy chục năm qua, từ ngày Đổi Mới, Việt Nam đã bán dầu
thô, phần lớn là cho Mỹ, để thu ngoại tệ; dầu thô đã
tạo một bách phân rất lớn trong xuất cảng của Việt Nam.
Nhưng Việt Nam đã bán dầu thô ấy theo giá nào? Giá do chính
phủ Việt Nam Cộng Sản ấn định chăng? Chắc chắn là không.
Cơ cấu thiết định giá cả dầu thô thuộc về một hệ
thống giá cả quốc tế rất phức tạp, vượt khỏi khả năng
kiểm soát và mặc cả của người sản xuất. Ngay cả khối
OPEC, Tổ Chức Các Quốc gia Sản Xuất Dầu, cũng không toàn
quyền chủ động ấn định giá dầu thô do mình sản xuất ra
được, nói gì đến Việt Nam với trữ lượng dầu quá nhỏ.
Mặt hàng thứ hai, cũng xuất cảng qua Mỹ, thu ngoại tệ quan
trọng cho Việt Nam và thu hút một lượng nhân công đông đảo,
là hàng may mặc. Và Việt Nam cũng đã cạy cục lắm mới nhập
được hàng may mặc vào Mỹ mà không bị hàng của Trung Quốc
đè bẹp. Nhưng dù vậy, người công nhân may mặc Việt Nam chỉ
hưởng được một khoản thu nhập rất nhỏ, so với lợi
nhuận lớn lao thu về của các nhà đầu tư ngoại quốc;
người công nhân Việt Nam và chính phủ mang danh là Xã hội
Chủ Nghĩa của họ, ngay cả cũng không có năng lực để mặc
cả đồng lương của mình trên thị trường quốc tế. Và
ngoài các nhà đầu tư tư bản ngoại quốc, người hưởng lợi
cuối cùng vẫn là giới tiêu thụ Mỹ.
Vắn tắt, kết luận rút ra từ những điều vừa bàn trên là
trong thời đại ngày nay, với hệ thống kinh tế-tài chánh thế
giới Bretton Woods, Mỹ hay các cường quốc, không cần phải đem
quân qua chiếm đóng Việt Nam, không cần phải cho lính canh giữ
các mỏ dầu thô, hoặc giám sát các thợ may mặc, dầu thô và
giá nhân công rẻ mạt của hàng may mặc Việt Nam vẫn tự
động tuôn vào thị trường Mỹ-Âu Châu, mang lại lợi nhuận
cho các nhà tư bản và hàng hoá giá rẻ cho giới tiêu thụ của
các quốc gia đó. Thực tế mậu dịch quốc tế giữa các quốc
gia về hình thức, tất nhiên phức tạp và rối rắm hơn, nhưng
thực chất vẫn chỉ là mối quan hệ đế quốc-thuộc điạ tuy
thể hiện dưới dạng khác và mục tiêu sau cùng vẫn là Quyền
Lực.
Việc nhấn mạnh đến yếu tố Quyền Lực trong bang giao quốc
tế cũng sẽ giúp chúng ta, chẳng hạn, nhìn về Chiến Tranh
Lạnh với con mắt khác.Lâu nay chúng ta vẫn thường cho rằng
Chiến Tranh Lạnh là sự đối đầu về Ý thức hệ giữa hai
khối Cộng Sản và Tư Bản. Đúng là có sự tương tranh
đó.Nhưng có rất nhiều người, khi nói như vậy, một cách vô
thức, đã giả định rằng động cơ của sự tương tranh là do
sự khác biệt về các giá trị lý tưởng của hai hệ thống.
Thực tế không phải vậy, động cơ sâu xa của sự tranh chấp
không gì khác hơn là Quyền Lực. Chiến Tranh Lạnh chỉ là một
cuộc tương tranh Quyền lực giữa hai siêu cường hàng đầu
của thế giới nhằm giành ngôi bá chủ, trong đó mọi biện
pháp bá đạo đều đã được cả hai bên tận dụng. Bên nào
cũng đều gây ra đảo chánh, đàn áp đối lập và can thiệp
vũ lực vào nội bộ của các quốc gia khác, chà đạp lên
quyền tự quyết dân tộc của nước nhược tiểu. Bên nào
cũng huy động tối đa hệ thống tuyên truyền của mình để
dương cao các giá trị lý tưởng, nhưng mỗi bên đều sẳn
sàng hy sinh những giá trị ấy cho các mục tiêu thực tiễn.
Chẳng hạn Liên Xô đã sẵn sàng để tấn công người đồng
chí thân cận là Trung Quốc, hoặc xua quân tràn vào Tiệp Khắc,
khi thấy quyền lợi và ảnh hưởng của mình bị đe doạ.
Ngược lại Mỹ cũng đã từng nhúng tay lật đổ các chế độ
dân chủ ở Nam Mỹ, hay cả ở Nam Việt Nam, khi thấy diễn
tiến tình hình có vẻ đe doạ quyền lợi và ảnh hưởng của
mình; hoặc sau cùng đã rời bỏ Việt Nam, nơi mà Mỹ đã không
ngớt tuyên truyền cho một tiền đồn của Thế giới Tự Do,
để bắt tay với một Trung Hoa CS.
Nghĩa là không hề có cái gọi chiến tranh ý thứ hệ mà chỉ
có sự tương tranh Quyền lực; không hề có vấn đề
TỐT-XẤU, THIỆN-ÁC, CHÁNH-TÀ trong quan hệ quốc tế mà chỉ
có có cuộc đấu tranh sinh tồn trong đó mỗi quốc gia phải
tận dụng mọi phương thế để tự cứu lấy mình trong một
thế giới hỗn mang (anarchy). Một chính khách người Anh, Lord
Palmerston (1784-1865) hồi thế kỷ 19 đã tuyên bố một câu, tuy
đơn giản, nhưng rất sâu sắc, nói lên yếu tính của quan hệ
quốc tế giữa các quốc gia: <em>"Các quốc gia không có bạn
hay đồng minh vĩnh cữu, họ chỉ có quyền lợi vĩnh cửu"</em>
(nations have no permanent friends or allies, they only have permanent
interests). Đơn giản là vậy, nhưng tiếc rằng các lãnh tụ
người Việt của chúng ta mãi đến thế kỷ 20-21 vẫn không
nhận chân ra, mà cứ tự xem đất nước mình hoặc là tiền
đồn của phe Xã Hội Chủ Nghĩa và đề cao tinh thần quốc tế
vô sản, hoặc là tiền đồn của Thế giới Tự Do và đề cao
tư bản chủ nghĩa, để rồi đưa Đất Nước vào nội chiến,
gây cảnh nồi da xáo thịt, kiệt quệ và hận thù nhau mải cho
đến ngày nay!
Lối nhận định nhị nguyên, đặt nền tảng trên những cặp
giá trị lý tưởng tương khắc, cũng khiến nhiều người trong
chúng ta trở nên mơ hồ đối với tình hình quốc tế hiện
nay. Ngoài những lạc quan hời hợt trước các biến động
hiện nay ở Trung Đông, một số cảm ứng đối với vài động
thái ngoại giao của Mỹ hồi năm ngoái ở Việt Nam cũng là do
kết quả của lối nhận định ấy mà ra. Đã có không ít
người hí hững mong đợi ngày Mỹ <em>"trở lại"</em>. Hoặc
một số khác, tuy khá hơn, thì lại trong mong rằng Việt Nam sẽ
đi với Mỹ để được bảo vệ khỏi sự uy hiếp của Trung
Quốc.
Lối nhận định đặt căn bản trên sự tương tranh Quyền lực
trong quan hệ quốc tế sẽ lượng định tình hình hoàn toàn
khác. Như nhìn về tình hình và vai trò của Mỹ hiện nay ở Á
Châu, chẳng hạn. Xét trên căn bản Quyền lực, sẽ dễ dàng
nhận ra rằng trong tư cách siêu cường (hegemon), Mỹ vẫn nổ
lực duy trì tư thế khống chế đối với mọi đối thủ tiềm
tàng trong phạm vi khu vực cũng như toàn cầu. Một trong những
phương cách để thực hiện nổ lực ấy là duy trì sự cân
bằng quyền lực tại từng khu vực nhằm tạo ra một sự kìm
chế lẫn nhau giữa các cường quốc trong khu vực đó, để
không một cường quốc khu vực nào sẽ ngoi được lên vị
thế bá chủ khu vực, rồi từ đó tranh hùng với Mỹ ở quy mô
thế giới. Đối với Á Châu và sự vươn lên của Trung Quốc,
Mỹ sẽ đóng vai trò một kẻ cân bằng (balancer) giữa các
cường quốc khu vực là Trung Quốc, Nhật, Ấn Độ, và Triều
Tiên (sẽ thống nhất sau này). Sự cân bằng đó có mục đích
là sẽ không để cho cường quốc nào trong các cường quốc
đó lấn át hoàn toàn được các cường quốc còn lại để
trở nên bá chủ Á Châu. Duy trì thành công sự cân bằng đó
sẽ giúp Mỹ giữ vững vị thế bá chủ thế giới của mình,
mà không cần phải trực tiếp can thiệp một cách tốn kém.
Trong bàn cờ cân bằng đó, khối ASEAN nói chung, và Việt Nam
nói riêng, là những quân cờ hữu ích, nhưng không nằm ở tầm
chiến lược quốc tế; hay đúng hơn là không thuộc phạm vi
trách nhiệm chính của Mỹ. Mỹ vẫn duy trì quan hệ chặt chẽ
với khối này và Việt Nam, nhưng chỉ về mặt kinh tế và ở
mức chiến lược hạn hẹp thôi. Việt Nam, và cả khối ASEAN,
không có giá trị chiến lược thế giới để Mỹ sẳn sàng vì
đó mà chấp nhận một cuộc đụng độ quân sự với Trung
Quốc. Trong tương quan với Trung Quốc, Mỹ sẽ để cho Nhật
Bản, Ấn Độ và Triều Tiên hành xử như những đối trọng
với Trung Quốc, vì điều đó phù hợp với nhu cầu thiết thân
của ba cường quốc đó trong khu vực Á Châu. Chính Nhật Bản
mới là kẻ quan tâm nhất và sẳn lòng phản ứng quyết liệt
đối với sự vươn lên của Trung Quốc ở Thái Bình Dương.
Nói cách khác trong quan hệ với Trung Quốc thì Nhật Bản, chứ
không phải Mỹ, có nhiều quyền lợi gắn bó, tương đồng
với Việt Nam hơn.
Mặt khác, cũng trên căn bản Quyền Lực, xét về khía cạnh
địa lý chính trị, Biển Đông chưa hẳn đã quan trọng hơn
Đài Loan, vốn được xem là một hàng không mẫu hạm (tàu sân
bay) không chìm (unsinking carrier) của Mỹ. Có thể quan sát phản
ứng của Mỹ đối với Đài Loan để suy diễn phần nào thái
độ của Mỹ đối với Biển Đông. Những lần căng thẳng
gần đây nhất ở Đài Loan cho thấy là khả năng để Mỹ can
thiệp mạnh bằng quân sự nhằm bảo vệ hòn đảo ấy ngày
càng giảm tương xứng với sức mạnh ngày càng tăng của Trung
Quốc. Chẳng hạn như trong vụ căng thẳng năm 1995-1996, để
phản ứng với việc tập trận bằng hoả tiển thật, chuyển
quân và thực tập đổ bộ trong vùng rất gần với Đài Loan
của Trung Quốc, phía Mỹ tuy có đưa hai hàng không mẫu hạm
(HKMH) Nimitz và Interdependence đến vùng biển, nhưng chỉ đứng
xa thôi, chứ không dám tiến gần tầm tác xạ tập trận của
Trung Quốc. Phản ứng đó của Mỹ rõ ràng yếu hơn nhiều so
với phản ứng cách trước đó chỉ chừng 10 năm. Trung Quốc
ngay cả đã ngầm tung ra trước dư luận câu hỏi về việc
liệu Mỹ có sẳn sàng coi trọng Đài Loan hơn Los Angeles và hai
HKMH kia của mình không; ám chỉ rằng quân đội Trung Quốc (PLA)
đã có hoả tiển liên lục điạ đủ khả năng để tiêu diệt
các HKMH và bắn đến tận lãnh thổ của Mỹ nếu tranh chấp
bùng nổ lớn. Trước đó, năm 1995, Trung Quốc đã áp lực
chính phủ Mỹ không được cấp chiếu khán chính thức cho TT
Đài Loan, ông Lee Teng Hui, viếng thăm trường Đại học Cornell
khi trường này mời ông ta với tư cách là cựu sinh viên tốt
nghiệp ở đó. Ông Hui đã phải, nhân đang trên đường đi Nam
Phi, ghé lại phi trường quân sự ở Honolulu, ngũ lại trên phi
cơ, sau đó đến trường Cornell, không được chào đón bằng
nghi lễ quốc khách nào cả!
Những sự kiện trên đây về mối quan hệ Mỹ-Trung Quốc-Đài
loan một lần nữa khẳng định vai trò quan trong của yếu tố
Quyền Lực trong quan hệ quốc tế. Cũng từ trên nền tảng
Quyền Lực đó, có thể dự đoán rằng trong tương lai, nếu
sự vươn lên của Trung Quốc vẫn giữ được như đà hiện
nay, Đài Loan rồi sẽ vuột khỏi tầm khống chế của Mỹ, rơi
vào tay Trung Quốc, và đến lúc đó khả năng để Mỹ có thể
giúp Việt Nam và khối ASEAN kìm hảm được sức bành trướng
ảnh hưởng của Trung Quốc ra vùng ĐNA sẽ xuống rất thấp,
nếu không muốn nói là zero! Ngay cả Philippines cũng sẽ khó mà
hoàn toàn được sự che chở của Mỹ để bảo toàn chủ
quyền của mình trên các đảo nhỏ ở ngoài khơi Thái Bình
Dương.
Tóm lại, về mặt hình thức tuy mối bang giao giữa các quốc
gia trên thế giới có thay đổi, hệ thống đế quốc-thuộc
địa cũ của thế kỷ 19 đã không còn, và thế giới từ giữa
thế kỹ 20 đã chuyển qua một hệ thống mới hơn. Nhưng bản
chất của các quan hệ quốc tế giữa các quốc gia, cũng giống
như bản chất của cuộc đấu tranh sinh tồn của loài người,
đã không hề thay đổi, vẫn là mối quan hệ tranh chấp đặt
căn bản trên sự theo đuổi quyền lợi vị kỷ. Phương tiện
chính yếu để đạt được và bảo vệ quyền lợi ấy của
từng quốc gia là Quyền Lực (power). Tùy theo mức quyền lực
thủ đắc mà các quốc gia có được điạ vị quốc tế của
mình, các cường quốc hoặc sẽ thuộc về loại cường quốc
khu vực hay siêu cường toàn cầu. Chính là mối tương tranh
quyền lực này đã định hình toàn bộ lịch sử bang giao quốc
tế cho đến nay chứ không phải là những giá trị mang tính lý
tưởng hay đạo đức nào khác. Chỉ có đứng trên quan điểm
về Quyền Lực này mới giúp chúng ta hiểu rõ và giải thích
đúng đắn các diễn biến chính trị hiện nay, nhận ra những
sai lầm trong thế giới quan của thế hệ đi trước, và soi
rọi đường hướng mới cho các thế hệ tương lai.
<strong>Trương Đình Trung</strong>
Ngẫu hứng khi đọc một số bài bình luận thời sự Việt
Ngữ.
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20131001/quyen-luc-trong-bang-giao-quoc-te),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét