Tống Văn Công - Kính gửi Hội nghị Trung ương 8: Đất nước đòi hỏi phải đổi mới chính trị!

<center><h2>A. ĐẤT NƯỚC ĐANG LÂM VÀO KHỦNG HOẢNG TOÀN
DIỆN</h2></center>

Hội nghị lần thứ 8 của BCH TƯ Đảng Cộng sản VN sẽ kiểm
điểm việc thực hiện Nghị quyết ĐH11 và các nghị quyết
TƯ, trên cơ sở đó sẽ quyết định các việc trọng đại
của đất nước. Đối chiếu thực tế cuộc sống đang diễn
ra so với các Nghị quyết của Đảng, xin gửi tới Hội nghị
bài viết với nỗi niềm trăn trở.

<strong>I. KINH TẾ SUY SỤP, DO "YẾU KÉM NỘi TẠI, CƠ CẤU LẠC
HẬU"</strong>

<blockquote><strong>Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011)
viết</strong>: <em>"Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển.
Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở
thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân."</em>

<strong>Chiến lược phát triển kinh tế xã hội viết</strong>:
<em>"Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành
nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Để đạt mục tiêu
đó, phải tăng trưởng GDP hàng năm bình quân từ 7 đến 8%; GDP
năm 2020 bằng 2,2 lần so với năm 2010; GDP bình quân đầu
người khoảng 3000 USD.Tỉ trọng công nghiệp, dịch vụ chiếm
85% trong GDP. Giá trị sản phẩm công nghệ cao và ứng dụng
công nghệ cao khoảng 45% trong GDP. Giá trị sản phẩm công
nghiệp chế tạo khoảng 40% trong sản xuất công
nghiệp."</em></blockquote>

Ngay năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết ĐH11, nền kinh tế
Việt Nam vấp phải khó khăn lớn nhất sau 20 năm, kể từ năm
1991. Mục tiêu tăng trưởng đề ra 7,5% chỉ đạt được 5,8%;
Quốc hội đề ra mức lạm phát 7%, thực tế lên tới 19%; hơn
48000 doanh nghiệp phá sản; các tập đoàn kinh tế nhà nước
được kỳ vọng là "quả đấm thép" của nền kinh tế thua
lỗ nặng nhất, chỉ riêng Vinashin đã gây ra nợ 4 tỉ USD; thị
trường bất động sản đóng băng; hàng trăm vụ vỡ nợ tín
dụng đen; nợ xấu chiếm 15% tổng tín dụng; nhập siêu10 tỉ
USD; Khả năng cạnh tranh của nền kinh tế sút giảm nghiêm
trọng vì tham nhũng, lãng phí làm cho chỉ số ICOR (số đồng
vốn bỏ ra để thu 1 đồng lãi) tăng vọt xấp xỉ 2 con số
(chỉ số ICOR của các nước trong vùng chỉ từ 3 đến 4). Kinh
tế nhà nước là gánh nặng của nhân dân, nhận vào 65% tổng
tín dụng để làm ra 28% tổng sản phẩm!

Cuối năm 2011, Đảng và Chính phủ đề ra chủ trương tái cấu
trúc nền kinh tế để cứu vãn: Tái cấu trúc các tập đoàn,
tổng công ty nhà nước; tái cấu trúc hệ thống ngân hàng và
hệ thống thể chế tài chính, giải quyết nợ xấu; tái cấu
trúc đầu tư công. Diễn đàn Mùa thu 2012 ở TP Vũng Tàu nhận
định: "Những nguy cơ mang tính cơ cấu và hệ thống đang đe
dọa nền kinh tế". Viện trưởng Viện kinh tế Việt Nam Trần
Đình Thiên cho rằng "Cần phải đổi mới về cải cách đất
đai,tiếp theo là cải cách doanh nghiệp Nhà nước theo nghĩa
thị trường; sau đó là cải cách ngân hàng Nhà nước một
cách quyết liệt; tất cả phải công khai, minh bạch". Cam kết
với WTO phát triển nền kinh tế thị trường , nhưng thực tế
dùng nhiều biện pháp hành chính và ngắn hạn, nhiều loại giá
cơ bản phi thị trường. Các nhóm lợi ích bất chính đang là
lực cản của tái cơ cấu nền kinh tế, chi phối chính sách
ngày càng trắng trợn. Diễn đàn kinh tế mua thu năm 2013, ở
Huế, Viện trưởng Trần Đình Thiên mở đầu tham luận, cho
rằng "Kinh tế thế giới đã bước vào quỹ đạo phục hồi,
nhưng Việt Nam không nằm trong quỹ đạo đó.Những "điểm
đen" như nợ xấu, sở hữu chéo trong các ngân hàng vẫn còn
nguyên, tái cơ cấu kinh tế nhà nước vẫn nằm trên giấy. Kinh
tế vẫn trong lộ trình "xuống đáy" và nằm bẹp ở
đấy". Giáo sư Võ Đại Lược đề nghị bán các doanh nghiệp
nhà nước như bia,rượu, nước giải khát, đất đai của Tổng
công ty Thương mại Hà Nội… lấy tiền làm việc có ích.

Nhiều nhà nghiên cứu kinh tế cho rằng mục tiêu đưa Việt Nam
đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng
hiện đại không thể nào đạt được.Cho đến nay Việt Nam
chỉ có nền công nghiệp gia công và là bãi thải công nghiệp
của các nước.

<blockquote><strong>Hội nghị TƯ 3 (10-10-2011) nhận định</strong>:
"Do yếu kém nội tại của nền kinh tế với mô hình tăng
trưởng và cơ cấu kinh tế lạc hậu, kém hiệu quả, tích tụ
kéo dài…." Ngày 5-9 2013, tại diễn đàn Việt Nam-Nhật Bản,
ông Bùi Quang Vinh, Ủy viên TƯ Đảng, Bộ trưởng Bộ KH-ĐT
phát biểu: "Kinh tế Việt Nam mấy năm qua gặp phải những
khó khăn do tác động bên ngoài và chịu ảnh hưởng bởi suy
thoái kinh tế thế giới, tuy nhiên nguyên nhân chủ yếu xuất
phát từ những yếu tố của kết cấu bên trong, những yếu
kém của nội bộ".</blockquote>

Đúng vậy! Cũng trong tình hình kinh tế thế giới suy thoái, kinh
tế của các nước trong khu vực vẫn phát triển, nước lớn
như Trung Quốc GDP năm 2011 là 9,2 %, năm 2012 là 7,8%; nước nhỏ
như Campuchia năm 2011 GDP là 7,5%, năm 2012 là 7%, năm 2013 dự
kiến 7,6%.).

Cuối năm 2013, vốn đầu tư nước ngoài có tăng lên so với hai
năm trước, đã đem lại nhiều hy vọng cải thiện cho kinh tế
Việt Nam, tuy nhiên vấn đề chính như ông Bùi Quang Vinh nói là
"những yếu tố kết cấu bên trong, những yếu kém nội
bộ" vẫn chưa được giải quyết! "Yếu tố và kết cấu"
đó là gì? Phải chăng đó là điều mà nhiều nhà nghiên cứu
khuyến nghị: Trả lại quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân
và tư nhân hóa, cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước?

<strong>2. GIAI CẤP CÔNG NHÂN SỐNG DƯỚI MỨC SỐNG TỐI THIỂU
40%!</strong>

<blockquote><strong>"Cương lĩnh" viết</strong>: "Xây dựng giai
cấp công nhân lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng;
là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong là
Đảng Cộng sản Việt Nam, giai cấp tiên phong trong sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩa xã hội."(Văn kiện ĐH 11, trang 80).

<strong>Báo cáo chính trị</strong>: "Gắn tiền lương của
người lao động với hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp"
(Văn kiện, trang 228).

<strong>Nghị quyết 20 /NQ-TƯ về xây dựng giai cấp công nhân
viết</strong>: "Xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa tăng
trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã
hội và chăm lo xây dựng giai cấp công nhân; đảm bảo hài hòa
lợi ích giữa công nhân, người sử dụng lao động, Nhà nước
và toàn xã hội; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần của công nhân."</blockquote>

Hơn 20 năm qua, giai cấp công nhân đã phát triển nhanh chóng.
Họ là những nông dân nghèo khó nhất rời đồng ruộng đến
các khu kinh tế công nghiệp tìm việc. Theo số liệu của Tổng
Liên đoàn Lao động Việt Nam năm 2013, có 15 triệu người lao
động làm công ăn lương, có 7,9 triệu đoàn viên công đoàn,
ở khu vực vốn đầu tư nước ngoài có hơn 1,7 triệu người.
Hai mươi năm qua có ba lần cải cách chế độ tiền lương,
nhưng lương tối thiểu cho đến nay vẫn chỉ đáp ứng được
60% mức sống tối thiểu của người lao động. Luật Lao động
cho doanh nghiệp được phép buộc công nhân làm thêm 300
giờ/năm. Các chủ doanh nghiệp căn cứ mức lương tối thiểu
do Nhà nước quy định để trả cho công nhân. Do đó hình ảnh
của giai cấp công nhân hiện nay, theo báo cáo của Viện nghiên
cứu Công nhân, Công đoàn: Có 94% công nhân phải làm thêm ca,
thêm giờ mà vẫn không đủ sống; Có 26,5 % nam công nhân và
31,8 % nữ công nhân suy dinh dưỡng; Có 19,2 % công nhân thiếu
máu; 70% thiếu iốt; Có 20% công nhân bỏ một bữa ăn trong
ngày. Công nhân coi được làm thêm giờ như một ân huệ.
Nhiều ông chủ doanh nghiệp phạt công nhân bằng hình thức
không cho làm thêm giờ! (Ông Thee Hong Bae ở Công ty Yujin Vina TP
HCM cắt tăng ca vĩnh viễn đối với công nhân Dương Văn Tam
để phạt anh về <em>"tội"</em> sau đình công, mọi người
đã đi làm mà 2 ngày sau anh mới có mặt! Cán bộ quản lý doanh
nghiệp thường kiếm cớ để phạt hoặc làm nhục công nhân:
Ngày 20-5-2013, ở Công ty Yujin Vina (TP HCM) anh Hậu lúc tan ca
không xếp vào hàng, đã bị ông quản lý Chu bóp miệng, nắm
cổ áo lôi đi; tháng 7-2013, anh HVT ở Prex - Vinh (Nghệ An) bị
cán bộ quản lý ném phế phẩm vào mặt và đè đầu dúi vào
máy; ngày 18-7-2013 các chị Đặng Thiên Trang, Chu Thị Vân nghỉ
phép quá 1 ngày đã bị quản lý Công ty dệt may Thái Dương (TP
HCM) phạt trừ lương và phụ cấp 700.000 đồng!...

Từ năm 1995 đến nay đã xảy ra hơn 5000 cuộc đình công, có
những cuộc huy động hơn 10.000 công nhân (như ở Công ty Keyhing
Toys Đà Nẵng năm 2005, Công ty Pouchen Biên Hòa năm 2010). Tất
cả các cuộc đình công đều bị coi là bất hợp pháp, vì
không có công đoàn lãnh đạo. Những người được công nhân
đình công cử làm đại diện đối thoại với chủ, sau khi ổn
định đều bị sa thải mà không được các cơ quan chức năng
bảo vệ! Cách đây 5 năm, Viện Khoa học Xã hội thực hiện
cuộc điều tra tại 24 doanh nghiệp, cho thấy có 84% người lao
động không thấy công đoàn có vai trò giải quyết tranh chấp.
Báo cáo của Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt
Namtại Đại hội 11 Công đoàn Việt Nam nhận khuyết điểm:
<em>"Công đoàn cơ sở chưa lãnh đạo được đình công theo
quy định của pháp luật, tham gia giải quyết tranh chấp lao
động, ngừng việc tập thể, đình công còn bị lúng
túng."</em>

Chỉ cần đọc bài <a
href="http://congannghean.vn/NewsDetails.aspx?NewsID=29480">"Công nhân
đồng loạt đình công đòi quyền lợi"</a> trên báo Công An
Nghệ An ngày 20-7-2013 cũng đã có thể hình dung tình cảnh khốn
cùng, bị chà đạp nhân phẩm của giai cấp công nhân hiện nay.
Bài báo kể trong một ngày tỉnh Nghệ An có 2 cuộc đình công
ở Công ty Prex Vinh và Công ty May Hanosimex. Bài báo kể một số
chi tiết: Bắt làm thêm giờ mà trả lương rất bèo, tổng thu
nhập trung bình là 1650000 đồng/ tháng, nhiều công nhân bị bị
ném phế phẩm vào mặt. Có người <em>"yêu cầu quản lý
không nên có thái độ như vậy"</em> lập tức bị đuổi
việc, công nhân bấm thẻ chấm công sớm 30 giây, bị trừ cả
ngày công, 1900/ 2500 công nhân đã vào công đoàn, nhưng gửi
kiến nghị lên, công đoàn không trả lời; chủ doanh nghiệp
yêu cầu công nhân đình công cử đại diện đối thoại, nhưng
cuộc đình công hồi năm ngoái, cả 8 người được cử làm
đại diện đối thoại với chủ sau đó đều bị đuổi việc,
cho nên lần này không ai dám nhận làm đại diện!

Bộ Lao Động, Thương Binh và Xã Hội kiên trì quan điểm
<em>"Nếu điều chỉnh lương tối thiểu đảm bảo ngay nhu
cầu tối thiểu thì rất nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là
doanh nghiệp dệt may, da giày gia công sẽ phá sản."</em> Quan
điểm này vừa trái với các nghị quyết nói trên của Đảng,
vừa sai với thực tế (thời gian qua có nhiều cuộc đình công
ở các doanh nghiệp dệt may, da giày gia công đều được chủ
doanh nghiệp giải quyết yêu sách tiền lương mà họ không hề
bị phá sản) và trái với lý luận: <em>"Giá trị sử dụng
của thứ hàng hóa đặc biệt sức lao động là ở chỗ nó sinh
ra một giá trị lớn hơn giá trị của chính bản thân nó. Do
đó người sử dụng lao động phải trả mức lương tối
thiểu không chỉ đủ nuôi sống bản thân người lao động mà
còn phải có dư để nuôi sống gia đình anh ta, đảm bảo tái
sản xuất sức lao động"</em> (Marx, Engels T23, trang 252). Ý
kiến chưa thể tăng lương tối thiểu đủ mức sông tối
thiểu giống như đại diện nhóm lợi ích của các ông chủ tư
bản hoang dã. Thế mà tại sao họ không bị khiển trách? Ngành
dệt may,da giày gia công còn được cho ưu tiên làm thêm giờ!

Từ năm 1930 cho đến trước Đổi Mới, những người cộng
sản Việt Nam luôn luôn lấy khẩu hiệu đòi ngày làm 8 giờ
để vận động công nhân. Tại sao ngày nay, sau 28 năm Đổi
Mới, trong khi Tổ chức Lao động Quốc tế đòi ngày làm 7
giờ, tuần làm 5 ngày, tức 35 giờ/tuần thì Nhà nước Việt
Nam lại có chính sách bảo trợ chủ doanh nghiệp buộc công
nhân làm thêm 300 giờ, nhưng thực tế còn cao hơn nhiều, với
đồng lương chết đói? Tại sao chúng ta thừa lao động, nhất
là lao động giản đơn mà không buộc các doanh nghiệp dệt may,
da giày gia công là những ngành sử dụng lao động giản đơn
giá rẻ, nếu thiếu nhân công thì phải tuyển dụng thêm , cấm
họ buộc công nhân làm thêm giờ và đòi họ phải trả lương
theo hợp đồng thỏa thuận với người lao động?

<strong>3. NÔNG DÂN KHIẾU KIỆN, TỰ TỬ VÀ BẮT ĐẦU DÙNG
SÚNG!</strong>

<blockquote><strong>Cương lĩnh viết:</strong> "Xây dựng, phát huy
vai trò chủ thể của giai cấp nông dân trong quá trình phát
triển nông nghiệp, nông thôn."

<strong>Phương hướng nhiệm vụ 5 năm (2011-2015)</strong>: "Phát
triển nông nghiệp toàn diện hiệu quả, bền vững theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát huy ưu thế của nền
nông nghiệp nhiệt đới gắn với giải quyết tốt vấn đề
nông dân, nông thôn."

<strong>Nghị quyết 26/NQ-TƯ (về nông nghiệp, nông dân, nông
thôn) mục tiêu</strong>: "Không ngừng nâng cao đời sống vật
chất tinh thần của dân cư nông thôn, hài hòa giữa các vùng,
tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn;
nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng
với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính
trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới…"</blockquote>

Sau Đổi Mới, nông dân đã đưa đất nước từ thiếu đói
trở thành nước xuất khẩu gạo thứ nhì thế giới. Nhưng có
nghịch lý là từ đó đến nay cuộc sống của nông dân ngày
càng khốn khó. Đặc biệt là nông dân vùng đồng bằng sông
Cửu Long, vựa lúa lớn nhất nước, chưa bao giờ sống khổ
như bây giờ: Được mùa rớt giá, càng làm càng lỗ; mỗi năm
buộc phải đóng từ 30 đến 40 loại phí; học vấn thấp
nhất; nhắm mắt xếp hàng cho người Đài Loan, Hàn Quốc chọn
vợ để cứu gia đình; sang Campuchia bán thân; đóng phí rất
nặng để đi xuất khẩu lao động, bị đánh đập, cưỡng
hiếp. Mới đây, báo Tuổi Trẻ đăng tình cảnh lao động Việt
Nam cư trú bất hợp pháp ở Malaysia phải trốn chui trốn nhũi
vô cùng thê thảm. Nhiều năm qua, nông dân bị thu hồi đất
không được đền bù thỏa đáng, phải cơm đùm cơm nắm đi
khiếu kiện lên quận, rồi lên tỉnh, lên Trung ương, nằm chờ
chực ngoài vườn hoa, trên vỉa hè và bị đuổi đánh tàn tệ.

Cuối cùng tức nước vỡ bờ, lúc đầu là tự thiêu, tự tử
để tỏ sự phẫn uất một cách bất lực, sau đó là nổ súng
hoa cải để cảnh báo nỗi bất bình, nay thì nổ súng sát
thương. Những phát súng của Đặng Ngọc Viết không phải
nhằm bắn vào người có oán thù với riêng anh mà có ý nghĩa
biểu tượng bắn vào chế độ ruộng đất bất công, phi lý,
chống lại lợi ích giai cấp nông dân của anh.

Tại sao những mục tiêu cao đẹp từ các nghị quyết của
Đảng không thể trở thành hiện thực mà ngược lại? Những
nhà khoa học và cán bộ quản lý gắn bó với nông dân đã
phát hiện những nguyên nhân chủ yếu nhưng không được lắng
nghe. Gần 20 năm, giáo sư Võ Tòng Xuân nhiều lần lặp đi lặp
lại câu hỏi <em>"Bao giờ nông dân mới giàu?"</em> Và ông
trả lời, nông dân không thể thoát nghèo, bởi đầu ra của
hạt lúa bị Hiệp hội lương thực độc quyền thao túng. Giáo
sư Đào Thế Tuấn nói: <em>"Nghịch cảnh thay nông dân từng
là quân chủ lực của cách mạng giải phóng dân tộc, cũng là
người lặng lẽ âm thầm khởi xướng công cuộc đổi mới,
nhưng lại ít được hưởng lợi nhất sau đổi mới!"</em>;
và <em>"nông dân thiếu chủ quyền về đất đai, mất đất
mà không có ai bênh vực"</em>; và <em>"Đáng lo thay, nông dân
là bộ phận yếu thế nhất trong xã hội, không có quyền mặc
cả trên thị trường không được tham gia quyết định giá cả
nông sản, vì thiếu nghiệp đoàn nông dân"</em> (báo Nông
Nghiệp Việt Nam xuân Tân Mão). Nguyên chủ tịch tỉnh An Giang,
ông Nguyễn Minh Nhị phân tích nguyên nhân các chỉ tiêu không
đạt được, đã cho rằng: <em>"Nói những điều to tát như
tạo nền kinh tế bền vững, tái cấu trúc, tăng GDP… không
bằng có những chủ trương, quyết sách, hành động sát thực
tế để nông dân có đất canh tác, có đời sống ấm no, sung
túc bền vững"</em>. Ông phân tích <em>"Thời kháng chiến
chúng tôi, những cán bộ, đảng viên cùng với nông dân có
chung một lợi ích. Sau khi cầm quyền, chúng tôi với nông dân
bắt đầu có sự phân chia, "tuy một mà hai". Sự phân chia
dễ thấy là chúng tôi – tức chính quyền bắt đầu ra lệnh,
ngay như tổ chức Đảng, các đoàn thể cũng ra lệnh được.
Nông dân từ chỗ là chủ sở hữu đất, chủ sở hữu ruộng,
sau khi cải tạo xã hội chủ nghĩa thì đất là sở hữu nhà
nước… Có độc lập rồì bỗng dưng mất hết hai cái quyền
sống còn là quyền sở hữu ruộng đất và quyền sản xuất…
Rồi họ dắt díu nhau lên Sài Gòn, Bình Dương làm công nhân,
lại tiếp tục bơ vơ giữa các khu công nghiệp, vắt sức với
đồng lương bèo bọt..."</em>. Mang nỗi niềm của người mắc
nợ nông dân, ông đi Đài Loan, Malaysia, Thái Lan để quan sát và
ngạc nhiên kêu lên: <em>"Nhìn cách họ tổ chức sản xuất
nông nghiệp mà phát thèm: Nhà nước, nhà nông, nhà doanh
nghiệp, nhà khoa học phối hợp rất chặt chẽ, trong đó nhà
nông ở vị trí trung tâm, được nhà nước và doanh nghiệp lo
cho từ sản xuất tới tiêu thụ sản phẩm. Thái Lan có công ty
tổ chức sản xuất nông nghiệp lo cho cả đầu vào cả đầu
ra. Chính phủ hỗ trợ chính sách rất rõ ràng"</em> (báo Pháp
Luật TP HCM xuân Tân Mão). Tiến sĩ Đặng Kim Sơn Viện trưởng
Viện Nghiên cứu Nông nghiệp cho rằng <em>"Nông dân, nông thôn
bị lấy đi quá lớn so với được trả lại"</em>. Mới đây,
trên báo Nông nghiệp Việt Nam, nhà văn của nông dân Nguyễn
Khắc Trường, tác giả "Mảnh đất lắm người nhiều ma"
nổi tiếng, có bài viết về tình trạng nông dân ngày nay. Bài
viết có những điểm rất đáng quan tâm: Nông dân xưa chất
phác nền nếp lắm. Làng xóm xưa thanh bình lắm. Nông thôn bây
giờ chẳng những nghèo về vật chất mà còn nghèo tinh thần.
Nay không chỉ có trộm cướp mà còn có người nghiện hút,
tình làng nghĩa xóm phai nhạt. Cái gốc của nông dân là ruộng
đất mà giờ người ta không còn yêu quý đất nữa! (Thực ra
họ không còn yêu đất chỉ vì đất không còn là của họ
nữa mà là của <em>"toàn dân"</em>!). Ông so sánh với vài
nước xung quanh và cho rằng nông dân Trung Quốc khổ hơn ta, nhà
cửa họ lụp xụp hơn, mặt họ sầu não hơn. Nhưng nông dân
Thái Lan thì sướng hơn, giàu có hơn nông dân ta. Ông kết
luận: <em>"Nói theo nghĩa nào đó nông dân chưa thực sự
bước ra khỏi vũng bùn!"</em>

Hơn nửa thế kỷ trước, nhà thơ cách mạng Nguyễn Đình Thi
đã tự hào viết câu thơ: <em>"Nước Việt Nam từ máu lửa,
Rũ bùn đứng dậy sáng lòa!"</em> Đất nước của hơn 90%
nông dân ngày ấy sáng lòa, bởi họ đã rũ bùn đứng dậy.
Cớ sao sau 68 năm họ phải trở lại vũng bùn?!

<strong>4. KHOẢNG CÁCH GIÀU NGHÈO TĂNG NHANH THỨ 2 CHÂU Á!</strong>

<blockquote><strong>Báo cáo chính trị ĐH 11</strong>: "Xây dựng
xã hội dân chủ, kỷ cương, đồng thuận, công bằng,văn
minh." Và " Có chính sách và các giải pháp phù hợp nhằm
hạn chế phân hóa giàu nghèo, giảm chênh lệch mức sống giữa
nông thôn và thành thị."</blockquote>

Tuy nhiên, sau Đại hội 11 khoảng cách giàu nghèo đã tăng tốc.
Hai giai cấp lớn của xã hội là công nhân và nông dân chính
là nguồn bổ sung cho số người nghèo đang phình to này.Theo
Tổng cục Thông kê năm 2008 khoảng cách giàu nghèo là 8,9 lần;
năm 2009 tăng lên 9,2 lần. Gần đây báo chí phát hiện nhiều
chuyện "lương khủng" ở các tập đoàn, công ty nhà nước.
Vụ lương khủng ở TP HCM khoảng cách thu nhập của cán bộ
lãnh đạo và công nhân hơn 200 lần. Dư luận cho rằng vụ này
chỉ là phần nổi của tảng băng chìm.

Trong những năm kinh tế đất nước sa sút, số người siêu
giàu (có tài sản 30 triệu USD) vẫn cứ tăng nhanh: Năm 2010 có
100 người; năm 2011 tăng lên 170 người nhanh thứ hai châu Á.
Ngày 15-9-2013, nhiều tờ báo đưa tin: Công ty tư vấn tài sản
Wealth-X và Ngân hàng Thụy Sĩ UBS cho biết: <em>"Mặc cho nền
kinh tế Việt Nam đang lâm vào khó khăn, số người siêu giàu
của nước này vẫn tăng gần 15% so với năm trước, từ 170
lên 195 người với tổng tài sản 20 tỉ USD. Trong khi đó Việt
Nam có khoảng 8,1 triệu dân nghèo đói phải tìm đến cái chết
để thoát khổ đau."</em>

Xin nêu hai trường hợp người nghèo đi tìm cái chết mà nguồn
tin trên đã nói đến:

Tháng 4-2012, chị Lê thị Ngọc Nhãn ở khóm 2, phường 1, TP Cà
Mau, trước khi tự tử đã gửi cho Trung tá Diện bức thư, có
đoạn: <em>"Sau khi cháu chết rồi, xin chú giúp cho các con của
cháu được vào cô nhi viện. Cháu xin đội ơn chú đời
đời".</em>

Tháng 5-2013, chị Nguyễn thị Mỹ Nhân, 48 tuổi, ở xã An Xuyên,
TP Cà Mau, trước khi treo cổ, đã viết bức thư gửi chính
quyền: <em>"Xin các cấp chính quyền thấu hiểu hoàn cảnh
không có lối thoát của gia đình chúng tôi hiện nay, đồng ý
cấp sổ hộ nghèo cho chồng con tôi có thể sống những ngày
còn lại".</em>

Trong bài nói về xây dựng Đảng hồi tháng 2-2012, Tổng bí thư
Nguyễn Phú Trọng nói: <em>"Bây giờ trong Đảng cũng có sự
phân hóa giàu nghèo, có người giàu lên rất nhanh, cuộc sống
cách xa người lao động; liệu rồi người giàu có nghĩ giống
người nghèo không? Mai kia Đảng này là Đảng của ai? Có còn
giữ được bản chất là đảng cách mạng của giai cấp công
nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc không?".</em>

Thưa Tổng bí thư, cứ nhìn tình cảnh của hai giai cấp công
nhân và nông dân và các chính sách làm cho họ bần cùng, chắc
không khó tìm câu trả lời!

<strong>5. ĐẠO ĐỨC XÃ HỘI BĂNG HOẠI CHƯA TỪNG CÓ</strong>

<blockquote><strong>ĐH 11 quyết định</strong>: "Xây dựng nền
văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; gia đình ấm no
tiến bộ,hạnh phúc;con người phát triển toàn diện về trí
tuệ,đạo đức,thể chất, năng lực sáng tạo, ý thức công
dân, tuân thủ pháp luật" (Văn kiện trang 105).</blockquote>

Tuy nhiên ba năm qua đạo đức tiếp tục băng hoại ngày càng
dữ dội! Hàng ngày báo đưa tin chém giết, trộm cướp, cưỡng
hiếp xảy ra khắp mọi nơi. Người ta chém giết nhau chỉ vì
những lý do lãng xẹt. Đáng lo nhất là tình trạng con cháu
đánh đập, chém giết cha mẹ ông bà, anh em, vợ chồng giết
nhau. "Đinh tặc" rải đinh đánh bẫy người đi xe gắn máy,
để vá xe, bán lốp,vỏ xe với giá cắt cổ. Thanh, thiếu niên
ném đá lên tàu hỏa, lên ô tô như thú vui. Mới đây một nhà
phê bình có bài viết tựa đề <a
href="http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Thoi-su-suy-nghi/568794/nguoi-viet-hung-han.html">"Người
Việt hung hãn"</a>. Có những hiện tượng bất thường đang
nãy sinh: Người ta <em>"tự xử"</em>, bởi không còn tin khả
năng quản lý của chính quyền, cũng không tin công lý từ tòa
án! Bắt được kẻ trộm chó, cả xóm ra tay tự xử bằng gậy
gộc. Mới đây, xã Vĩnh Thành, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang
vừa có <em>"sáng kiến"</em> lập rào làng, làm bốn cổng
để chống trộm!

Nhà văn Nguyễn Khải người đầu tiên phát hiện tệ nói dối
đang phát triển trong xã hội. Từ đó đến nay tình trạng nói
dối bùng lên như một đại dịch, lan tràn từ trong Đảng tới
các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, các đoàn thể, nay
nhiễm vào trẻ con. Tại diễn đàn kinh tế mùa Thu đang diễn ra
ở Huế, nhiều tham luận nói về tệ báo cáo láo khiến không
thể biết đúng <em>"bệnh"</em>: nợ xấu bao nhiêu,thất
nghiệp bao nhiêu, GDP của các tỉnh có tăng thực vậy không.
Một trung tâm xã hội học vừa công bố kết quả điều tra:
Trẻ học cấp 1 có tỉ lệ nói dối là 22%; trẻ ở cấp 2 có
tỉ lệ nói dối 50%; cấp 3 là 64%; sinh viên đại học là 80%!
Có thể hình dung được, đội ngũ cán bộ tương lai sẽ vượt
xa cha anh về tài nói dối!

Có người giải thích đây là mặt trái của cơ chế thị
trường. Nên nhớ rằng, trước khi thực hiện cải tạo xã
hội chủ nghĩa, đất nước ta đã từng sống trong cơ chế
thị trường.

Dân tộc ta nổi tiếng hiền hòa. Ông cha ta từng <em>"lấy
đại nghĩa mà thắng hung tàn", "lấy chí nhân mà thay cường
bạo"</em>. Thời hai cuộc kháng chiến, nhà nhà đêm không cài
cửa, ra ngõ gặp anh hùng. Một dân tộc như vậy, nguyên nhân
nào đã biến thành <em>"ra ngõ gặp trộm cướp, giết
chóc"</em>?

Triết gia Immanuel Kant cho rằng <em>"Tự do là cơ sở tồn tại
của quy luật luân lý, còn quy luật luân lý là cơ sở nhận
thức của tự do"</em> (Phê phán lý tính thực hành (Đạo
đức học), Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải, nxb Tri thức.
chú thích ở trang 2-3). Có lẽ nên xem lại phương thức tổ
chức quản lý xã hội đang có những gì bất cập so với các
nước văn minh?

<strong>6. GIÁO DỤC TIẾP TỤC TỤT HẬU</strong>

<blockquote><strong>ĐH11 quyết định</strong>: "Phát triển giáo
dục là quốc sách hàng đầu.Đổi mới căn bản toàn diện
nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa,
xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó
đổi mới cơ chế quản lý giáo dục , phát triển đội ngũ
giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt" (Văn kiện
trang 130, 131).</blockquote>

Cách đây 20 năm nền giáo dục Việt Nam đã được nhận diện
những điểm không bình thường: Trường chuyên, lớp chọn; thi
cử phức tạp; nhồi nhét, không chú trọng rèn luyện tư duy
sáng tạo; học thuộc lòng các bài mẫu; dạy thêm học thêm lu
bù; sách giáo khoa in lại liên tục, nhưng nội dung không đổi
mới; chất lượng giáo viên mỗi năm thêm sa sút; lương giáo
viên không đủ sống... Có nhiều cấp ủy Đảng chỉ thị
ngành giáo dục phải soạn giáo án tuyên truyền chủ trương
chính sách: đưa vào chương trình phổ thông 13 luật thuế,
luật phòng chống tham nhũng...

Nhiều cuộc hội thảo huy động trí tuệ các nhà giáo dục góp
ý xây dựng. Nhiều nhà giáo dục giàu tâm huyết và trí tuệ
như Hoàng Tụy, Hồ Ngọc Đại, Văn Như Cương… phân tích mổ
xẻ ung nhọt của ngành giáo dục, đề xuất nhiều kiến nghị
như: Khuyến khích sáng tạo; coi trọng óc tưởng tượng; công
bằng , dân chủ trong giáo dục; tôn trọng cá tính học sinh;
Bắt buộc cấp tiểu học, tiến tới trung học và mở cửa
đại học; chú trọng bồi dưỡng nhân tài… Tuy nhiên giáo
dục cứ như cỗ xe tụt dốc! Dù cho được tăng tỉ lệ đầu
tư, nhưng hiệu quả thì xuống thấp. Chất lượng Đại học
Việt Nam không được quốc tế công nhận.

Càng ngày càng có nhiều bậc cha mẹ cố tìm cách cho con đi
học ở nước ngoài, ban đầu chỉ đi học cấp đại học, nay
đưa đi học nước ngoài ngay từ cấp phổ thông. Xã hội đã
quen với cụm từ <em>"tị nạn giáo dục"</em> nói về tình
trạng này.

Nguyên Bộ trưởng Trần Hồng Quân nói: <em>"Nền giáo dục
hiện nay có nhiều lỗi hệ thống"</em>. Giáo sư Văn Như
Cương nói: <em>"Tính dối trá tràn ngập nền giáo
dục"…</em>

Mới đây, Diễn đàn Kinh tế thế giới công bố bản báo cáo
<em>"Năng lực cạnh tranh toàn cầu 2013-2014"</em> thực hiện
ở 148 nước. Kết quả xếp hạng các hạng mục lớn của báo
cáo cho thấy: Về chất lượng giáo dục phổ thông và đại
học Việt Nam đều thua kém các nước trong khu vực Châu Á. Ở
bậc tiểu học Việt Nam có tỉ lệ đi học cao nhưng chất
lượng giáo dục thua kém nhiều nước trong khối ASEAN. Theo ông
Trịnh Ngọc Thạch, phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục
Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội thì đưa
trẻ đến trường nhiều chưa nói lên được chất lượng
tốt. Nói chất lượng phải tính mấy yếu tố: Thứ nhất là
chương trình có tốt không. Thứ hai là giáo viên có tốt không.
Thứ ba là cơ sở vật chất có tốt không. Cả ba cái này chúng
ta đều yếu. Bà Nguyễn Thị Bình nguyên phó chủ tịch nước,
nguyên Bộ trưởng Giáo dục năm 1976 nói: <em>"Các tổ chức
quốc tế đều đánh giá, trong chiến tranh, Việt Nam là tấm
gương về giáo dục. Song bây giờ giáo dục Việt Nam hầu như
xếp hạng chót. Có tổ chức còn đánh giá giáo dục Việt Nam
kém hơn cả Campuchia, Lào."</em>

Có hai vấn đề cốt lõi: Một là, mấy chục năm qua, thầy
giáo không chỉ bị đãi ngộ vật chất quá thấp kém mà quan
trọng hơn, trong một xã hội chính trị hóa, người thầy không
còn được coi trọng như trong xã hội dân sự trước kia. Nấc
thang giá trị của thầy giáo ở dưới các cán bộ Đảng và
tất cả các cán bộ đoàn thể. Hai là nền giáo dục Việt Nam
bị chính trị hóa sâu sắc, bị chỉ đạo bởi ý thức hệ,
nhằm đào tạo ra những công cụ trung thành phục vụ chế
độ. Giáo điều, triệt tiêu tự do tư tưởng, cắt cánh
tưởng tượng sáng tạo, không tôn trọng cá tính... đều xuất
phát từ đó. Sản phẩm của một nền giáo dục như vậy sẽ
không thể hội nhập được với nhân loại hiện đại và
chắc cũng không thể là nguyên khí quốc gia trong sự nghiệp
hiện đại hóa. Trong thời đại toàn cầu hóa, dù quan tâm
đến thực tế đất nước, nhưng không nên tạo ra một nền
giáo dục dị biệt với thế giới. Giáo dục phải tuân theo
các giá trị phổ quát của nhân loại, tự do dân chủ, bình
đẳng. Những nước đi sau như chúng ta rất cần tham khảo,
học theo các nền giáo dục tiên tiến.

<strong>7. "VÌ SAO CÔNG TÁC XÂY DƯNG ĐẢNG ĐƯỢC TƯ RẤT COI
TRỌNG, ĐÃ CÓ NHIỀU NGHỊ QUYẾT, CHỈ THỊ RẤT ĐÚNG, RÂT HAY,
NHIỀU CUỘC VẬN ĐỘNG SÂU RỘNG, NHƯNG KẾT QUẢ VẪN CHƯA
ĐẠT YÊU CẦU?... VƯỚNG MẮC CHÍNH LÀ Ở CHỖ NÀO?" (TBT
NGUYỄN PHÚ TRỌNG).</strong>

<blockquote><strong>Cương lĩnh</strong>: "Để đảm đương được
vai trò lãnh đạo, Đảng phải vững mạnh về chính trị, tư
tưởng và tổ chức, thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh
đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, bản lĩnh chính trị
phẩm chất, đạo đức và năng lực lãnh đạo".

<strong>Chiến lược phát triển kinh tế, xã hội 2011-2020,
Chương V, mục 3</strong>: "Thực hiện kiên trì, kiên quyết, có
hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí là
nhiệm vụ rất quan trọng, vừa cấp bách vừa lâu dài của
công tác xây dựng Đảng".</blockquote>

Sau một năm, ngày 26-12-2011, Hội nghị TƯ 4 nhận định: bình,
tự phê bình <em>"Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính
trị, đạo đức, lối sống, tệ tham nhũng,lảng phí, hư hỏng
trong một bô phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả ở
cấp cao, chưa được đẩy lùi mà thậm chí ngày càng có chiều
hướng nghiêm trọng hơn, làm xói mòn niềm tin đối với
Đảng"</em>. Hội nghị TƯ 4 đề ra <em>"những việc cần và
có thể làm ngay" là tiến hành trong toàn Đảng tự giác,
gương mẫu kiểm điểm, phê bình, tự phê bình".</em>

Sau gần hai năm thực hiện nghị quyết TƯ 4, tình hình tham
nhũng không giảm mà đang tăng lên và diễn biến rất phức
tạp, đáng lo ngại:

- Ngày 5-12- 2012 Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency
International) xếp Việt Nam về kết quả chống tham nhũng tụt 11
bậc, xuống 123/182 nước.

- Từ tháng 9-2012 đến 3-2013 Tổ chức Minh bạch quốc tế tổ
chức khảo sát và kết luận: 55% người dân Việt Nam cho rằng
tham nhũng đang tăng, tham nhũng nghiêm trọng xảy ra ở các cơ
quan chức năng, ở lĩnh vực đất đai. Điều đáng lo là chỉ
có 38% người dân Việt Nam nói mình dám tố cáo tham nhũng, tỉ
lệ thấp nhất so với người dân trong khu vực ASEAN (bình quân
là 63%). Tại sao vậy? Rất dễ hiểu thôi, xin kể 2 vụ việc
trong hằng trăm vụ việc như thế: Theo báo Người Cao tuổi: Ở
Ninh Bình có ông cựu chiến binh Đinh Văn Phiêu tố giác ông Ủy
viên TƯ, Bí thư tỉnh Ninh Bình Đinh văn Hùng, tham nhũng, buôn
trống đồng. Lập tức ông bị bắt đưa ra tòa xử 5 năm tù
giam vì tội vu khống. Ông Lê Đăng đảng viên 60 tuổi Đảng
tố cáo Thành phố Biên Hòa làm trái Quyết định 227 của Thủ
tướng về quy hoạch, lập tức ông bị khai trừ Đảng. Người
dân thường cứ nhìn vào đó mà liệu giữ mình!

- Mới đây các cơ quan thanh tra Việt Nam khảo sát cho biết có
70% doanh nghiệp chủ động đưa hối lộ, trong 20 vụ tham nhũng
lớn nhất thì 50% xảy ra ở doanh nghiệp nhà nước.

- Ngày 18-9-2013, trong cuộc họp UBTV Quốc hội, chủ tịch
Nguyễn Sinh Hùng nói <em>"Không tham nhũng lấy tiền đâu mà
chạy chức?"</em>, và ông đặt câu hỏi gây chấn động dư
luận xã hội: <em>"Có tham nhũng trong lực lượng chống tham
nhũng không?"</em>

Cuộc họp cho rằng rất cấp thiết phải trả lời câu hỏi:
Vì sao tham nhũng không giảm mà cứ tiếp tục tăng?

Tại Hội nghị TƯ 5, TBT Nguyễn Phú Trọng đặt ra một loạt
câu hỏi để tìm câu trả lời: <em>"Phải chăng do các cấp
ủy, chính quyền và người đứng đầu chưa phát huy đầy đủ
ý thức và bản lĩnh chính trị, tinh thần trách nhiệm trong
chỉ đạo và tổ chức thực hiện? Do sức chiến đấu của
nhiều tổ chức Đảng quá yếu? Do sự kém tu dưỡng rén luyện
của của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên
chức? Do chưa phát huy mạnh mẽ vai trò giám sát của nhân dân,
của công luận? Do những bất cập trong việc ban hành, thực thi
các văn bản quy phạm pháp luật? Do mô hình tổ chức và hoạt
động của Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng chưa phù hợp?
Do sự yếu kém, tiêu cực trong công tác phát hiện và xử lý
các vụ tham nhũng lãng phí?"</em>

Các câu hỏi của TBT Nguyễn Phú Trọng đều chính xác, tuy
nhiên chưa phải là câu hỏi chủ yếu nhất cần phải đặt ra.
Tại Hội nghị TƯ 4, TBT Nguyễn Phú Trọng nói: <em>"Đặc
biệt, có một câu hỏi lớn, rất day dứt, trăn trở lâu nay,
cần được trả lời cặn kẽ là: "Vì sao công tác xây dựng
Đảng được Trung ương rất coi trọng, đã có nhiều nghị
quyết, chỉ thị rất đúng, rất hay, nhiều cuộc vận động
sâu rộng, nhưng kết quả vẫn chưa đạt yêu cầu?.....Vướng
mắc chính là ở chỗ nào?"</em>

Đây mới thực là câu hỏi rất lớn, do đó chúng tôi cho rằng
phải tìm câu trả lời theo cách mà TBT Nguyễn Phú Trọng nhiều
lần nhấn mạnh là phải <em>"đột phá"</em>!

Xin thưa với Tổng bí thư: Có thể đoan chắc rằng, trong lịch
sử không có một đường lối, chính sách nào rất đúng, rất
hay lại được vận động sâu rộng mà đi tới thất bại cả!
Hay, đúng thì phải sát thực tế, tạo ra được thiên thời,
địa lợi, nhân hòa. Bất cứ giải pháp nào đưa tới thất
bại, hơn nữa lại là thất bại rất nhiều lần, kéo dài hàng
chục năm thì cần phải thực sự cầu thị, để nhận thức
rằng đó là một giải pháp sai!

Nhà nước ta đã ký kết tham gia Công ước Liên Hiệp Quốc về
chống tham nhũng từ 1-7-2009. Công ước này là tập trung trí
tuệ và kinh nghiệm của nhiều quốc gia tiên tiến đúc kết
nên. Trong đó, không có kinh nghiệm nào chống tham nhũng thành
công từ tự phê bình, phê bình cả!

Công ước này đặt 2 điều đầu tiên cho chính sách và thực
tiễn chống tham nhũng là:

(1) <em>"Thúc đẩy sự tham gia của xã hội và thể hiện các
nguyên tắc của chế độ pháp quyền"</em>.

(2) Về <em>"cơ quan phòng chống tham nhũng"</em> thì điều
đầu tiên là có <em>"sự độc lập cần thiết"</em> để
<em>"thực hiện chức năng của mình một cách hiệu quả và
không chịu bất kỳ sự ảnh hưởng trái pháp luật nào".</em>

Tiếc thay cả hai vấn đề quan trọng nhất của Công ước này,
đều không được Việt Nam vận dụng!

Câu hỏi của Chủ tịch Nguyễn Sinh Hùng sẽ được trả lời
không khó khăn nếu tổ chức Đảng và cơ quan Nhà nước đều
phải đặt dưới pháp luật.

Trước khi kiến nghị các giải pháp khắc phục tình trạng
khủng hoảng toàn diện kể trên, xin trích dẫn ý kiến của
Engels đại diện cho K.Marx viết lời tựa bản Tuyên ngôn tiếng
Đức năm 1883: <em>"Trong mỗi thời đại lịch sử, sản xuất
kinh tế và cơ cấu xã hội ̶̶ cơ cấu này tất yếu phải do
sản xuất kinh tế mà ra – cả hai cái đó cấu thành cơ sở
của lịch sử chính trị và lịch sử tư tưởng của thời
đại ấy"</em>. Nền sản xuất kinh tế đa thành phần phát
triển đã làm cho chiếc áo toàn trị quá chật, đòi hỏi phải
thay bằng chiếc áo dân chủ.

<h2><center>B. KIẾN NGHỊ CÁC GIẢI PHÁP</center></h2>

<strong>1. Đại hội 6 chủ trương "Đổi mới toàn diện bắt
đầu từ đổi mới kinh tế". Đại hội 11 quyết định:
"KIÊN TRÌ VÀ QUYẾT LIỆT THỰC HIỆN ĐỔI MỚI. ĐỔI MỚI
CHÍNH TRỊ PHẢI ĐỒNG BỘ VỚI ĐỔI MỚI KINH TẾ"…</strong>

Thật đáng tiếc là cho đến nay thể chế, hệ thống chính
trị nước ta hầu như vẫn giữ y nguyên khuôn mẫu của chủ
nghĩa xã hội kiểu xô viết. Nền móng tự do dân chủ đã có
từ Tuyên ngôn độc lập và Hiến pháp 1946 đã không được
thực hiện, phát huy. Các quyền tự do cơ bản như tự do báo
chí, tự do ngôn luận, tự do hội họp và lập hội, tự do
biểu tình đều khất <em>"nợ"</em> nhân dân suốt 68 năm!
Đại hội 6 đã trả lại cho nhân dân quyền tự do kinh tế bị
tước mất sau cải tạo xã hội chủ nghĩa. Nhờ đó mà người
Việt Nam năng động sáng tạo hẳn lên, vượt qua đói nghèo,
đạt được mức sống trung bình thấp. Tuy nhiên do chưa được
đổi mới chính trị, nhân dân chưa có quyền tự do xây dựng
một nhà nước pháp quyền thể chế hóa các quyền tự do.
Không có nhà nước pháp quyền đúng nghĩa thì tự do kinh tế
không được bảo trợ về pháp lý, bị vướng mắc bởi thể
chế chính trị lạc hậu thao túng, chi phối, làm suy giảm năng
lực phát triển. Tình trạng ốm yếu của nền kinh tế Việt
Nam là vì vậy. Không có tự do chính trị cũng hạn chế tự do
văn hóa, không thể tiếp thu được tinh hoa văn hóa của nhân
loại, thậm chí không phân biệt thuần phong mỹ tục với hũ
tục. Nhiều cán bộ chính trị tự cho mình quyền kiểm duyệt,
cấm đoán tác phẩm của các nghệ sĩ bậc thầy. Thiếu tự do
chính trị là nguyên nhân gây hạn chế đồng thuận, chia rẽ
dân tộc, bất ổn xã hội. Tình trạng khủng hoảng toàn diện
của đất nước là báo động đỏ cho sự chậm trễ đổỉ
mới chính trị.

Có người lo ngại đổi mới chính trị sẽ gây ra nguy cơ bất
ổn xã hội, đe dọa quyền lãnh đạo của Đảng cộng sản,
nói như vậy là không tin nhân dân, hoặc coi nhân dân là
<em>"thần dân"</em>. Đổi mới chính trị chính là tin nhân
dân, tôn trọng nhân dân, cùng nhân dân thảo luận, lựa chọn,
xây dựng một thể chế thực sự của dân, do dân, vì dân,
điều mà Đảng cộng sản thường nêu lên như tâm nguyện cao
cả nhất từ những ngày đầu cách mạng. Đổi mới chính trị
sẽ loại bỏ được nguyên nhân đã làm cho các nghị quyết
của Đảng suốt nhiều nhiệm kỳ cứ phải lặp đi lắp lại:
<em>"Quyền làm chủ của nhân dân ở một số nơi một vài lĩnh
vực còn bị vi phạm. Việc thực hành dân chủ còn mang tính
hình thức"</em> (Văn kiện ĐH 11, trang 171). Được như vậy
thì uy tín của Đảng, tình trạng nhân dân mất niềm tin vào
Đảng sẽ được ngăn chặn.


<strong>2. KHÔNG NÊN THÔNG QUA DỰ THẢO HÍÊN PHÁP NẾU CHƯA ĐẠT
YÊU CẦU ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ!</strong>

Sửa đổi Hiến pháp 1992 chính là cơ hội vàng để đổi mới
chính trị! Do đó, không nên tùy tiện phủ quyết những ý
kiến không hợp với quan điểm bảo thủ, giáo điều mà cần
tổ chức tranh luận công khai trên mọi cơ quan truyền thông.

Kiến nghị 72 nhằm xây dựng bản Hiến pháp bảo đảm toàn
vẹn lãnh thổ, phát triển bền vững đất nước, mang lại tự
do, hạnh phúc cho các thế hệ hiện tại và tương lai, gồm 7
điểm quan trọng:

1- Lời nói đầu phải làm rõ mục tiêu đảm bảo an toàn, tự
do hạnh phúc cho mọi người dân, hạn chế sự lạm quyền,
hướng đến hạnh phúc của các thế hệ tương lai. Quyền lập
hiến phải thuộc về nhân dân. Cần nhấn mạnh nguyên tắc
chủ quyền nhân dân, tôn trọng ý chí dân tộc. Do đó không
nên định trước vai trò lãnh đạo nhà nước và xã hội cho
một tổ chức chính trị. Chủ thể nào lãnh đạo xã hội sẽ
do nhân dân tin cậy bầu chọn.

2 - Mục đích thành lập Nhà nước là để bảo vệ các quyền
đương nhiên của con người. Dự thảo có nhiều điểm không
phù hợp với các chuẩn mực phổ quát ở các Công ước Liên
Hiệp Quốc mà nhà nước ta đã gia nhập. Cụm từ <em>"theo quy
định của pháp luật"</em> lâu nay mở đường cho việc nhân
danh Hiến pháp đàn áp công dân, cần phải khắc phục.Do đó,
Hiến pháp nên quy định thành lập một Ủy ban quốc gia về
quyền con người.

3 - Cần công nhận quyền sở hữu tư nhân, tập thể, cộng
đồng đối với đất đai, để chống tham nhũng, lộng quyền,
móc ngoặc giữa cán bộ nhà nước và doanh nhân gây thiệt hại
cho nhân dân, đặc biệt là nông dân, gây bất ổn xã hội.

4 - Thực hiện nhà nước pháp quyền, tam quyền phân lập.

5 - Lực lượng vũ trang trung thành với Tổ quốc và nhân dân,
nhằm bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, yên bình cho nhân
dân. Đó cũng chính là mục tiêu chính trị của Đảng cộng
sản đặt ra cho mình từ khi thành lập. Đảng cộng sản là
một thành phần trong nhân dân, không nên quy định lực lượng
vũ trang trung thành với Đảng cộng sản.

6 - Bảo đảm quyền phúc quyết Hiến pháp của nhân dân.

7 - Thời gian lấy ý kiến toàn dân đến kéo dài hết năm 2013,
khuyến khích việc tham khảo, so sánh, thảo luận công khai để
xây dựng bản Hiến pháp phù hợp nhất cho quốc gia.

Bản Kiến nghị 72 đã được 15 đại diện trình lên Ban soạn
thảo Hiến pháp của Quốc hội. Hơn 14000 người ký tên hưởng
ứng, trong đó có hàng trăm giáo sư trong, ngoài nước, hàng
trăm đảng viên lão thành, cựu chiến binh. Thế nhưng, 700 tờ
báo và cả hệ thông truyền hình phát thanh không đưa tin, không
tranh luận công khai sòng phẳng. Tất cả cơ quan truyền thông
nhà nước đơn phương bóp méo, xuyên tạc, phê phán, nhưng
không nêu đích danh Kiến nghị 72 mà coi đó là lập luận của
một <em>"lực lượng thù địch"</em> vô hình, một
<em>"bọn xấu"</em> không có địa chỉ! Thật đáng tiếc,
cách làm không minh bạch như vậy lại có thể xảy ra ở một
đất nước đã ký kết các Công ước của Liên Hiệp Quốc,
đã từng là ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo
an!

Một số người cho rằng việc góp ý không có vùng cấm, nhưng
không được lợi dụng góp ý để vi phạm những vấn đề
thuộc về nguyên tắc cơ bản! Xin hỏi những điều gì được
gọi là <em>"nguyên tắc cơ bản"</em>? Quyền lãnh đạo của
Đảng chăng? Hay <em>"tam quyền phân lập"</em> chăng? Không
đúng! Nguyên tắc cơ bản phải là đảm bảo thực hiện cho
được mục tiêu <em>"của dân, do dân, vì dân"</em> và tất
cả phải thượng tôn pháp luật. Do đó, nếu chưa thống nhất
được thì nên dừng lại không nên vội vàng thông qua bản dự
thảo Hiến pháp còn quá nhiều bất cập, nên có thêm thời gian
và không gian dân chủ để thảo luận. Bởi vì nếu vội vàng
ban hành bản Hiến pháp không đạt các tiêu chuẩn tự do dân
chủ phổ quát cũng tức là chưa đạt yêu cầu <em>"đổi mới
chính trị phải đồng bộ với đổi mới kinh tế"</em> mà ĐH
11 đã đề ra và hậu quả không mong muốn sẽ xảy ra cho dân
tộc, cũng tức là cho Đảng cộng sản.


<strong>3. ĐIỀU 4, GỢI NHỚ "TRƯỚC MẶT QUẦN CHÚNG, KHÔNG
PHẢI TA CỨ VIẾT LÊN TRÁN HAI CHỮ CỘNG SẢN MÀ ĐƯỢC HỌ
YÊU MẾN" (HỒ CHÍ MINH).</strong>

Đất nước, nhân dân đòi hỏi ĐẢNG TỪ BỎ HÌNH THỨC ĐẢNG
TRỊ TRỞ THÀNH ĐẢNG CẦM QUYỀN TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN,
CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN. Phải thực hiện <em>"bao nhiêu quyền
hạn đều của dân"</em> như Hồ Chí Minh đã hứa hẹn, chấm
dứt tình trạng đã kéo dài mấy chục năm nay mà nguyên UV BCT
Nguyễn Văn An đã thẳng thắn và trung thực nhận định:<em>
"Bộ Chính trị là vua tập thể"</em>. Không nên tiếp tục
làm cho khẩu hiệu thiêng liêng <em>"tất cả quyền lực nhà
nước thuộc về nhân dân"</em> để rồi Đảng <em>"là lực
lượng lãnh đạo nhà nước"</em> nên cuối cùng quyền lực
nhà nước thuộc về Đảng! Trong dân gian đã lưu truyền công
khai những thành ngữ <em>"Đảng cử dân bầu", "mười năm
phấn đấu, không bằng cơ cấu một giờ"</em>… thật là
phản cảm.

Chúng ta đang hội nhập toàn cầu, Hiến pháp của các nước
văn minh không ghi quyền lãnh đạo của một đảng chính trị.
Nước ta, từ những ngày cách mạng còn trứng nước, Đảng
chỉ có 5000 đảng viên, Hiến pháp 1946 không ghi vai trò lãnh
đạo của Đảng, nhưng nhân dân vẫn theo Đảng, vì Đảng có
đường lối giành độc lập, tự do. Việc đưa sự độc
quyền lãnh đạo của Đảng vào Điều 4 Hiến pháp đã gây
rất nhiều tranh cãi. Nhiều đảng viên cộng sản từng giữ
cương vị ủy viên Trung ương, Bộ trưởng cũng không đồng
tình. Xin đừng vu cho họ tội chống Đảng, hoặc suy thoái
chính trị. Tại sao họ lại chống lại Đảng mà họ đã bỏ
gần hết cả đời phục vụ chứ? Bản thân tôi, một đảng
viên 55 tuổi đảng, tôi cảm thấy Điều 4 là sự xúc phạm
lòng tự trọng, tự hào của mình là một đảng viên. Từ khi
vào Đảng, các đảng viên từng tâm niệm <em>"phải yêu dân
kính dân thì dân mới kính ta, yêu ta"</em> và <em>"Trước
mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ cộng
sản mà được họ yêu mến."</em>(Hồ Chí Minh, ST,1985, T5,
trang 184). Hiểu theo ý nghĩa của câu ấy thì việc ghi Điều 4
vào Hiến pháp không phải là ghi hai chữ cộng sản lên trán
của Đảng mà chính là ghi lên trán của dân tộc! Liệu cách
áp đặt như vậy có được nhân dân yêu mến hay không?


<strong>4. THẾ NÀO LÀ MỘT NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN? TẠI SAO LẠI
KHÔNG CHẤP NHẬN TAM QUYỀN PHÂN LẬP?</strong>

Lý do để các nhà lý luận của Đảng không đồng ý tam quyền
phân lập là cho rằng đó là <em>"dân chủ phương Tây"</em>!
Khổ quá! Các vị tìm đâu ra thứ dân chủ phương Đông chứ?
Nhà sáng lập <em>"tam dân chủ nghĩa"</em> Tôn Trung Sơn nói
hẳn rằng, dân chủ dân quyền thì phải học phương Tây, bởi
vì phương Đông và Trung Quốc suốt 4000 năm lịch sử chìm
đắm trong quân quyền. Đã có nhiều nước phương Đông thực
hiện nhà nước tam quyền phân lập như Nhật, Hàn quốc…nâng
cao quyền dân, hạn chế được tham nhũng, đất nước phát
triển rất nhanh. Chính các nước này đang chìa tay giúp đỡ ta.
Ta cứ công kích tam quyền phân lập là theo Tây, không sợ mất
lòng những người giúp đỡ mình sao?

Tiến sĩ Hồ Bá Thâm trong bài viết <a
href="http://luatminhkhue.vn/hanh-chinh/dan-chu-hoa--phan-quyen-hoa-co-cau-he-thong-quyen-luc-nha-nuoc-theo-tu-duy-phap-quyen-bien-chung-.aspx">"Dân
chủ hóa, phân quyền hóa cơ cấu hệ thống quyền lực Nhà
nước theo tư duy pháp quyền biện chứng"</a> đăng trên tạp
chí Nghiên cứu Lập pháp từ năm 2009, đã cảnh báo tệ nạn
tham nhũng, cửa quyền, quan liêu phát triển là do thiếu cơ chế
giám sát, kiềm chế quyền lực, <em>"đó là lỗ hổng và yếu
kém nhất trong hệ thống tam quyền của nhà nước, phải
được khắc phục sớm bằng cả nhận thức và thể
chế"</em>. Ông cũng băn khoăn khi <em>"việc thực hiện ba
quyền đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng"</em>. Ông cho
rằng lẽ ra sự lãnh đạo của Đảng là ở đường lối và
đưa ra quan điểm lớn <em>"Phải làm thế nào để thực hiện
cho được quyền tư pháp độc lập, thượng tôn pháp luật,
không chấp nhận bất cứ sự chi phối nào ngoài pháp
luật"</em>. Đến nay, dự thảo Hiến pháp sửa đổi cũng gần
như cũ: "Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân
dân…. do Đảng cộng sản VN lãnh đạo. Quyền lực nhà nước
là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát
giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp,
hành pháp, tư pháp". Tiến sĩ Nguyễn Đăng Hưng có một thắc
mắc rất có lý <em>"đã thống nhất sao lại còn phân
công?"</em> Vừa qua, một báo cáo viên của Ban Tuyên huấn Trung
ương xuống giảng giải ở Đảng bộ phường Tân Kiểng, quận
7, TP HCM đã giải thích: Quyền lực nhà nước thuộc về nhân
dân mà nhân dân là một khối thống nhất, do đó không thể
chia cắt, không thể phân lập! Tại sao các nhà lý luận của
Đảng không chịu hiểu rằng, nhà nước là công cụ để phục
vụ nhân dân, do đó nhân dân muốn phân chia nó thế nào để
phục vụ mình tốt hơn là quyền của nhân dân chứ?

Tại sao các chế độ dân chủ tìm đến nhà nước pháp quyền,
tam quyền phân lập? Xin trích dẫn ra đây ý kiến của hai bậc
hiền triết của nhân loại:

Từ thời cổ đại Platon quan sát các nhà nước và đi đến
nhận định: <em>"Tôi nhìn thấy sự sụp đổ nhanh chóng của
Nhà nước ở nơi nào pháp luật không có hiệu lực và nằm
dưới quyền của một ai đó.Còn nơi nào pháp luật đứng trên
các nhà cầm quyền và các nhà cầm quyền chỉ là nô lệ của
pháp luật thì ở đó tôi nhìn thấy có sự cứu thoát của nhà
nước"</em>. Học trò xuất sắc của ông là Aristote, người
được Karl Marx coi là nhà tư tưởng vĩ đại nhất thời cổ
đại, đã cụ thể hóa tư tưởng của thày mình, cho rằng
quyền lực nhà nước phải được chia làm ba lĩnh vực: Lập
pháp, hành pháp, tư pháp. Suốt hơn 2000 năm sau đó những đầu
óc vĩ đại của nhân loại không ngừng khám phá, bổ sung, cụ
thể hóa tư tưởng phân quyền. Trong đó J. Locke và Montesquieu
được đánh giá đã ghi hai cột mốc lớn nhất. Cho đến nay
đã có hàng trăm quốc gia dân chủ, giàu mạnh tổ chức nhà
nước theo tam quyền phân lập, dù hình thức có đôi chỗ khác
nhau, nhưng điều cơ bản, phổ quát là không đổi.

Montesquieu cho rằng: <em>"Khi mà quyền Lập pháp và Hành pháp
nhập lại trong tay một người hay một Viện nguyên lão thì sẽ
không còn gì là tự do nữa, người ta sợ rằng chính ông ấy
hoặc Viện ấy chỉ đặt ra luật độc tài để thi hành một
cách độc tài. Cũng không có gì là tự do nếu như quyền Tư
pháp không tách rời quyền Hành pháp và Lập pháp. Nếu quyền
Tư pháp được nhập với quyền Lập pháp thì người ta sẽ
độc đoán với quyền sống và quyền tự do của công dân. Quan
tòa cũng sẽ là người đặt ra luật. Nếu quyền Tư pháp nhập
với quyền Hành pháp thì quan tòa có sức mạnh của kẻ đàn
áp. Nếu một người hay một tổ chức của quan chức hay của
quý tộc, hoặc của dân chúng năm luôn cả ba quyền lực nói
trên thì tất cả sẽ mất hết"</em>. Ông đặc biệt nhấn
mạnh quyền Tư pháp phải nhất thiết tách ra, độc lập với
hai quyền kia.

Ngày nay, nhân loại đánh giá một nhà nước dân chủ văn minh
khi thực hiện tốt các tiêu chí:

Xã hội được tự do khi nhà nước bị kiểm soát bởi luật
pháp mà mục đích là để bảo vệ các quyền con người.

Xã hội được quản lý bởi một chính phủ của luật pháp.
Một cá nhân có thể làm bất cứ điều gì luật pháp không
cấm, còn quan chức nhà nước chỉ được làm những gì luật
pháp cho phép.

Đối chiếu những ý kiến ở trên, soi rọi vào cách tổ chức
nhà nước của ta , sẽ không quá khó khăn để hiểu vì sao nhà
nước chúng ta chưa thể có tư pháp độc lập, nạn quan liêu,
tham nhũng lan tràn không sao ngăn nỗi. Những ý kiến chống lại
Tam quyền phân lập cho rằng nó sẽ làm cho Đảng mất quyền
lãnh đạo. Thật là sai lầm! ĐH 11 cho rằng: "Đảng lãnh
đạo bằng cương lĩnh, chiến lược ,các định hướng chính
sách và chủ trương lớn, bằng công tác tuyên truyền, vận
động, thuyết phục, bằng hành động gương mẫu của đảng
viên"(Văn kiện,trang 88). Nhà nước tam quyền phân lập chỉ
buộc Đảng, cũng như Nhà nước phải đặt mình ở dưới
Hiến pháp và pháp luật. Tư pháp độc lập của nhà nước
pháp quyền có thể gọi người vi phạm pháp luật bất cứ đó
là ai phải trả lời trước tòa án. Một phó thường dân cũng
như ông tổng bí thư đều bình đẳng trước pháp luật. Có
người ví von việc khó chấp nhận điều này là "Không ai
lấy đá tự ghè vào chân mình".Nhưng đó chính là cách duy
nhất giúp cho Đảng thoát khỏi tham nhũng, quan liêu như hiện
nay, để có thể lấy lại niềm tin của nhân dân đang sút
giảm nghiêm trọng.


<strong>5. XÂY DỰNG XÃ HỘI DÂN SỰ ĐÚNG NGHĨA</strong>

Khái niệm xã hội dân sự có từ thời cổ Hy Lạp, nó chỉ
một phạm trù rộng lớn của đời sống xã hội bao gồm gia
đình, tôn giáo, giáo dục, văn hóa, nghệ thuật…Đến thời
khai sáng, các nhà tư tưởng đề cao quyền tự do cá nhân trong
xã hội dân sự, độc lập với nhà nước, coi xã hội có
trước nhà nước, nhà nước không được lấn át xã hội dân
sự. Một nhà nước được coi là văn minh, hợp pháp khi nào
được thành lập bởi sự thỏa thuận của tất cả các cá
nhân trong xã hội dân sự, điều đó được xác lập bằng
một Hiến pháp dân chủ. Sự phân chia giữa nhà nước và xã
hội dân sự được coi là đặc trưng của một thể chế chính
trị thực sự dân chủ.

Trong các chế độ quân chủ, độc tài, xã hội dân sự dù bị
đàn áp vẫn tồn tại, đấu tranh bảo vệ các quyền tự do
của người dân bị xâm phạm. Quá trình dân chủ hóa là quá
trình phát triển của xã hội dân sự từ non yếu đến mạnh
mẽ. Có thể có xã hội dân sự chưa thật hoàn thiện trong
một chế độ độc tài, nhưng không thể có chế độ dân chủ
mà lại không có xã hội dân sự. Hàn quốc, Đài Loan, Thái Lan,
Philippine, Indonexia và mới đây là Myanmar đều đi từ độc tài
đến dân chủ, xã hội dân sự từ non yếu phát triển và hoàn
chỉnh nhanh chóng.

Trong thể chế theo mô hình xã hội chủ nghĩa xô viết, tất
cả đều Nhà nước hóa, từ đời sống kinh tế, chính trị,
văn hóa, cái công cộng xóa bỏ cái riêng tư. Nhân dân chỉ còn
sở hữu tập thể đối với tư liệu sản xuất, ngay sức lao
động và quyền bán sức lao động của mình cũng không còn, gia
đình, tín ngưỡng cũng mất tính độc lập. Xã hội dân sự
nhường chỗ cho xã hội toàn trị. Tất cả các hội đoàn
đều do người của cấp ủy Đảng cử ra làm chủ tịch, thậm
chí cả Đoàn chủ tịch, Ban Thường vụ đều là đảng viên.
Tất cả các hội đoàn lấy nghị quyết của Đảng làm chuẩn
để soạn thảo nghị quyết của mình. Nông dân đi khiếu kiện
không có thể dựa vào Hội nông dân; Công nhân đình công không
thể yêu cầu công đoàn lãnh đạo. Báo chí là tiếng nói của
một hội đoàn nào đó, không phải tiếng nói của một con
người tự do.

Đổi mới kinh tế mở ra một nửa cánh cửa của xã hội dân
sự. Tuy nhiên các quyền tự do về tinh thần, tự do hội họp,
lập hội, biểu tình, tự do tư tưởng, ngôn luận, báo chí,
tự do sáng tạo nghệ thuật… vẫn chưa được thực hiện theo
các giá trị phổ quát của nhân loại đã được ghi nhận trong
các Công ước của Liên Hiệp Quốc và đã được Nhà nước
Việt Nam cam kết gia nhập. Nhiều cán bộ cao cấp vẫn còn ngộ
nhận: Cho rằng nước ta đã có hàng trăm hội đoàn cớ sao cứ
bảo chưa có tự do hội họp và lập hội? Đã có hơn 700 tờ
báo, tỉnh nào cũng có đài phát thanh, truyền hình cớ sao cứ
kêu không có tự do báo chí, tự do ngôn luận? Xin các vị đọc
lại ý kiến của Nguyễn Ái Quốc về vấn đề này. Trong
<em>"Bản yêu sách của nhân dân An Nam"</em> do Nguyễn Ái
Quốc gửi tới Hội nghị Versaille tháng 1-1919 có 8 điều,
điều 3 là: <em>"Tự do báo chí và tự do ngôn luận"; Điều
4 là "Tự do lập hội và hội họp"</em>. Trong quyển
<em>"Đây công lý của thực dân Pháp ở Đông Dương"</em>,
Nguyễn Ái Quốc viết những năm 1921-1926 có đoạn: <em>"Mãi
tới bây giờ chưa có một người Việt Nam nào được phép
xuất bản một tờ báo nào cả. Tôi gọi tờ báo tức là một
tờ báo về chính trị, về kinh tế, hay văn học như đã thấy
ở châu Âu và các nước châu Á khác, chứ không phải một tờ
báo do chính quyền lập ra"</em> (Hồ Chủ tịch với báo chí,
Hội nhà báo TP HCM, 1980, trang 9). Như vậy, khi nói về các
quyền tự do, Hồ Chí Minh cho rằng đó phải là tự do của
mỗi con người. Đến năm 1938, báo Dân chúng của Đảng cộng
sản xuất bản không xin phép và được nhà nước thực dân
Pháp chấp nhận. Trong chế độ thuộc địa hà khắc, xã hội
dân sự Việt Nam vẫn len lỏi nảy nở. Từ năm 1920 đã có
công hội của Tôn Đức Thắng. Từ năm 1930 đã có các Đảng
chính trị như Quốc dân Đảng, Đảng cộng sản Việt Nam và
các hội đoàn như Hội Ái hữu, Hướng đạo; từ năm 1934 có
Tự lực văn đoàn một hội đoàn hiện đại tạo ảnh hưởng
rất lớn lao về văn học và xã hội; 1937 có Hội truyền bá
quốc ngữ… Trừ hai đảng chính trị, các hội đoàn đều
công khai hoạt động. Chẳng lẽ nhà nước Việt Nam cảnh giác
đối với nhân dân đã trải qua 68 năm làm cách mạng của mình
hơn cả bọn thực dân Pháp! Chúng ta hãy nhìn ra thế giới văn
minh, nhìn gần hơn là các nước quanh vùng để thương cho dân
mình và mau chóng thực hiện các quyền tự do đã bị treo suốt
68 năm.

Xã hội dân sự bao trùm tất cả các mặt của đời sống xã
hội cho nên nó vô cùng quan trọng. Thời đại toàn cầu hóa cho
thấy con đường văn minh của nhân loại có những điểm chung
giống nhau trong sự vận dụng các giá trị phổ quát, hình
thành mô hình xã hội tiến bộ, phát triển, gồm có " bộ
ba" không thể thiếu một, đó là: xã hội dân sự, kinh tế
thị trường và nhà nước pháp quyền.

<strong>Tống Văn Công</strong>

Ngày 30 -9-2013

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20131001/tong-van-cong-kinh-gui-hoi-nghi-trung-uong-8-dat-nuoc-doi-hoi-phai-doi-moi-chinh),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét