<img
src="http://gdb.voanews.com/24C82348-CC65-43BB-BD4A-F380891CFD8D_w640_r1_s.jpg"
width="550" />
Gần ba tháng sau cuộc gặp Trương Tấn Sang – Barack Obama vào
tháng 7/2013, vẫn chưa có dấu hiệu lạc quan nào cho triển
vọng Việt Nam được "đặc cách" vào TPP. Trong khi đó, đã
thấp thoáng những cái nheo mũi phản biện từ giới chuyên gia
trong nước về tương lai "TPP không phải là một đại tiệc
dành cho Việt Nam".
WTO đã là một phép thử đầy rẫy khó khăn, lồng trong bối
cảnh các tập đoàn lợi ích lũng đoạn hầu như toàn diện
tấm thân trơ gày của dân tộc. Một lần nữa, hãy nên nhận
diện lại bức tranh ung thư di căn mà nền kinh tế và xã hội
Việt Nam phải thấm trải trong sáu năm qua.
<strong>"Nước giàu dân nghèo"</strong>
Từ nhiều năm qua, nhức nhối thị trường nội địa đã trở
thành cái gai đau nhức trong tròng mắt của doanh nghiệp Việt,
khi giới truyền thông không ít lần phải lên án chuyện giới
doanh nhân trong nước bị mất thị phần ngay trên sân nhà. Từ
mảng vật liệu xây dựng luôn sôi động tính đầu cơ cho
đến lĩnh vực dược phẩm được coi là "phục vụ an sinh xã
hội", đâu đâu cũng phổ cập những mất mát đầy tính
hiển thị như thế.
Sáu năm tham dự vào WTO có lẽ đã quá đủ để rút ra một
bài học thấm thía nào đó cho cuộc cạnh tranh không cân sức.
Song một bài học lớn nhất lại vẫn chưa được rút ra: tính
minh bạch thị trường bị hủ hóa đến mức tối đa đã
khiến cho đến nay không có bất kỳ một số liệu nào từ
giới điều hành kinh tế Việt Nam có thể lượng định được
bao nhiêu phần trăm thị phần của các doanh nghiệp, cùng bao
nhiêu ngành sản xuất và kinh doanh chủ chốt, đã "rơi vào tay
nước ngoài".
Một bài học xương máu khác cũng đang hiện thực hóa một
cách khắc khoải và khắc nghiệt trong chính nền kinh tế của
đất nước – nơi có tương phản "nước giàu dân nghèo"
tương tự với thể chế Trung Quốc. Những con số được công
bố mới nhất vẫn cho thấy chẳng khác mấy người bạn láng
giềng còn chìm trong bầu không khí tư bản hoang dã với 300 tỷ
phú đô la, giới tinh hoa tỷ phú đô la ở Việt Nam vẫn không
ngừng tăng tiến lên đến gần 200 người cùng tài sản đến
20 tỷ USD, ngay cả trong giai đoạn khủng hoảng đã và đang
diễn ra trong đất nước, ngược chiều với cảnh người dân
bị nghèo đi tương đối.
Hố phân cực thu nhập càng ngoác rộng từ truyền thống trục
lợi không ngưng nghỉ qua các kênh thương mại đa phương quốc
tế.
Một nghịch lý phũ phàng vẫn tiếp tục làm lộn ngược mọi
triết lý "do dân và vì dân", với bối cảnh Việt Nam
được xác nhận là nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên
thế giới, nhưng trong vài năm qua lại phát triển hiện tượng
nông dân trả ruộng hay bỏ ruộng ngay tại quốc gia này. Giá
lúa bị thấp một cách vô lý ngay cả vào thời kỳ được mùa
và tăng trưởng xuất khẩu, trong khi giới thương lái và các
công ty xuất khẩu gạo vẫn ung dung thế trung gian lợi nhuận
trên bờ vai rạc gày của những người một nắng hai sương.
Khác hẳn với thói quen tuyên truyền về "hiện tượng cá
biệt" từ những người phát ngôn cho Chính phủ, chuyện
người dân bỏ ruộng đã diễn ra ngày càng tràn lan từ các
tỉnh miền Tây Nam Bộ đến đồng bằng sông Hồng và có thể
còn xa hơn nữa về biên giới phía Bắc.
Rất thường là chuyện vài tấn thóc mới đủ đóng tiền học
cho con cái, và cũng rất thường là vẻ bạc mặt của các gia
đình nông dân khi phải cắn răng bán lỗ cho giới đầu cơ và
không lối thoái dưới món nợ chống chất của ngân hàng. Đó
là cái gì, nếu không phải là một hình ảnh quá ngược ngạo
về điều được xem là thành tích trở thành thành viên thứ
150 của WTO với sự lao dốc chưa đến đáy của thành phần
chiếm đến 70% dân số lao động?
<strong>Đa bào và đơn bào</strong>
Kinh tế lụn bại để gánh nặng cuối cùng đổ lên đầu nông
dân, công nhân và người nghèo một cách chắc nịch – một
hệ lụy kinh khủng của đường hướng "kinh tế thị trường
xã hội chủ nghĩa" trong vài chục năm qua. Hệ lụy này lại
quá đồng điệu với cuộc chơi cực kỳ sòng phẳng và tàn
nhẫn của giới doanh nghiệp độc quyền nhà nước như Tập
đoàn xăng dầu Việt Nam và Tập đoàn diện lực Việt nam –
những tác nhân chính của chiến lược đầu tư trái ngành vào
bất động sản, chứng khoán và bảo hiểm từ những năm
2006-2007 mà đã dẫn đến số lỗ khủng khiếp ít nhất 40.000
tỷ đồng, để cuối cùng những đợt tăng giá xăng dầu và
giá điện bất chấp của các tập đoàn này càng tạo nên nguy
cơ thúc đẩy nạn lạm phát động loạn không còn bị ràng
buộc bởi bất cứ giới hạn nào, lại càng khiến cho đời
sống người nghèo lâm vào thế khốn cùng.
Nhưng khi cái đáy thực chất vẫn chưa hiện ra, cơn suy thoái
kinh tế di căn gần như toàn diện ở Việt Nam còn có nguy cơ
dẫn đến một cuộc khủng hoảng lớn lao hơn nhiều trong vài
ba năm tới, với nhiều sắc thái vượt khỏi kìm nén từ phía
người dân và cũng có thể dẫn tới những cuộc bạo đông do
cùng quẫn về mưu sinh, tiếp dẫn nhiều mầm mống loạn lạc
trong một xã hội đang dò đáy.
Niềm tin của dân chúng vào thể chế cũng vì thế bị "suy
thoái tư tưởng" một cách kinh khủng, song ánh trực tiếp
với sự ruỗng mục và nguy cơ sụp đổ của chân đứng kinh
tế quốc gia. Vài năm gần đây, không quá khó hiểu khi bất
chấp "rào cản kỹ thuật" từ phía Ban Tuyên giáo trung ương
và Bộ Thông tin truyền thông, báo chí Việt Nam đã phải miêu
tả một cách trực diện đến khoảng thời gian "hái quả"
sau khi Việt Nam tham gia WTO, trong đó không quá giấu diếm về
từ ngữ "thất bại" của nền kinh tế và dĩ nhiên của cả
giới điều hành kinh tế trong chính phủ đối với những hệ
quả ngập tràn do các nhóm lợi ích đa bào và nhóm thân hữu
đơn bào gây ra.
Đa bào lợi nhuận và đơn bào chính trị lại kết tụ thành
chuỗi nhiễm sắc thể nguy biến hơn bao giờ hết cho cơ thể
dân tộc cùng cơn nguy kịch thoi thóp của người nghèo. Trong
vài năm tới, nếu sự tình kinh tế không được cải thiện mà
vẫn như bà Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan phải cảm
thán mới đây "ăn không chừa một thứ gì", nhiễm sắc
thể sẽ rất mau chóng chuyển độc tố của nó vào nơi mà
sức kháng thể cuối cùng của người dân còn rơi rớt.
Khi đó, đa bào cộng đơn bào cộng với lời sấm "dân chủ
xã hội chủ nghĩa gấp vạn lần tư bản" của bà Nguyễn
Thị Doan sẽ rất mau chóng chứng nghiệm hình ảnh một thân
thể bị phù trương toàn diện bởi cái không chỉ còn là chất
độc.
<strong>Mẩu bánh và lối thoát</strong>
Trong bối cảnh khác xa với luận lý "kinh tế đang ổn
định" của giới chức chính phủ, TPP dĩ nhiên là một lối
thoát, thậm chí là một lối mở tươi lành nhất mà một chính
thể có thể vận dụng để ít nhất cũng tạm làm yên lòng
dân chúng, hạn chế được phần nào những phẫn uất của dân
nghèo về các nhóm lợi ích, và cách nào đó tạm thời kìm
giữ những ý tưởng hoặc hành động cần phải thay đổi thể
chế chính trị.
Lối thoát từ TPP cũng có thể là một cơ hội nhằm tái hiện
hình ảnh vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài đổ vào
Việt Nam từ 15-20 tỷ USD của những năm 2006-2007 - thời hoàng
kim và cũng là đỉnh của nền kinh tế này. Bởi sau cái đỉnh
ấy, bi kịch của nền kinh tế và cũng là bế tắc của đất
nước mà đã dội ngược cho tới nay, khi lượng vốn đăng ký
đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đã giảm đến ít nhất 2/3,
tương đương với độ giảm của vòng quay vốn xã hội mà đã
làm xáo động các khu vực sử dụng lao động. Logic tiếp theo
của sự dội ngược này là tình trạng thất nghiệp ở Việt
Nam trong những năm khủng hoảng đã tăng vọt một cách thảm
thương, khác hoàn toàn với số liệu công bố chỉ có 1,99%
của Bộ Lao động, thương binh và xã hội. Thậm chí, có đánh
giá còn ước tính tỷ lệ thất nghiệp thực tế ở Việt nam
có thể đang là vài chục phần trăm, không thua kém lắm tình
cảnh mà những đứa con của thần Zeus phải đối mặt chỉ
mới vào quý đầu năm 2013.
Vài tháng qua, một số chuyên gia trong nước đã bắt đầu công
khai nói về "thất bại" của WTO, về sự lợi dụng không
thương tiếc của các nhóm lợi ích đối với cơ chế thương
mại đa phương, còn người dân đã không được hưởng ưu
đãi nào về thực chất.
Còn với TPP, thói quen đánh giá cảm tính đã luôn kéo theo hệ
lụy sách lược và chiến lược cũng chỉ có giá trị như một
cảm giác. Còn hơn thế, rất nhiều khi chỉ giống như một
cảm giác bất lực và bế tắc. Có lẽ đó là một trong những
nguyên do vì sao đã trải qua 3 năm với 19 vòng đàm phán TPP mà
lộ trình Việt Nam hầu như vẫn giậm chân tại chỗ khi cần
phải đối chiếu với bộ tiêu chí xuất xưởng từ nội khối
TPP.
Dù vẫn ngầm xem TPP là một lối thoát, song những điều kiện
đặc biệt và có tính tiên quyết của TPP như cải cách kinh
tế và giảm tính độc quyền của khối doanh nghiệp nhà
nước, tăng tính minh bạch và tính hữu dụng chứ không phải
hình thức hay mị dân cho cuộc chiến chống tham nhũng, kể cả
một số vấn đề liên quan khác như môi trường, quyền lập
hội lao động… vẫn chẳng mấy có hy vọng được Hà Nội
đáp ứng đủ chi tiết hầu mong bổ túc cho hồ sơ ứng cử
viên TPP.
<strong>Chưa có Hà Nội</strong>
Sau chuyến đi của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đến
Washington vào cuối tháng 7/2013, những tin tức lạc quan nhất
từ giới ngoại giao và thương mại Việt Nam đã như cố gắng
ồn ào về khả năng đến cuối năm 2013 quốc gia này sẽ
được "tháo khoán" vào TPP. Tuy nhiên, số ít quan chức tự
trọng lại tỏ ra dè dặt hơn với cụm từ mơ hồ "sớm
nhất có thể" mà Obama đã dùng trong bản thông cáo báo chí
sau văn bản "đối tác toàn diện" giữa hai nước.
Tất nhiên, có không ít cách nhìn và cách suy diễn có thể
hiện hữu đối với cụm từ này, trong đó khả năng xa vời
hơn thuộc về một triển vọng không được hữu hạn về
thời gian, tức trong kế hoạch công du các nước Đông Nam Á
như Indonesia, Brunei, Malaysia và Philippines vào tháng 10/2013 của
Tổng thống Obama, đã không có trạm dừng dù là trung chuyển
ở sân bay Nội Bài.
Quay lại dĩ vãng tháng 5/2013, trong chuyến làm việc tại Hà
Nội với một số giới chức ngoại giao, thương mại và cả
ngành công an, một quan chức cao cấp thuộc khối Cộng đồng
chung châu Âu đã nêu ra một dự đoán có tính kinh nghiệm: quy
trình để Việt nam tham dự vào TPP sẽ phải mất từ một
đến hai năm. Nếu đúng theo ngữ nghĩa này và không tương hợp
với kỳ vọng khát khao của chính giới Hà Nội, mọi chuyện
sẽ đều phải có lộ trình của nó, lộ trình lại phải có
thời gian, được gắn liền với điều kiện về công đoàn
độc lập và có lẽ còn lâu mới có chuyện kết thúc sớm
sủa.
Cộng hưởng với những tin tức không mấy lạc quan của đoàn
đàm phán TPP của Việt Nam vừa trở về từ Brunei, người ta
càng nhận ra "sớm nhất có thể" chỉ là một cụm từ ẩn
chứa vài tính toán mang tính chiến lược của Tổng thống
Omama.
Bởi cho dù Ngoại trưởng John Kerry luôn hứa hẹn "Nơi nào có
quyền lợi chung thì nơi đó Mỹ và Việt Nam có thể hợp
tác", điều được xem là "thành tâm chính trị" của Hà
Nội mới là lời hứa có giá trị nhất trong bối cảnh nhập
nhoạng hiện thời.
Một mẩu bánh hấp dẫn và một cô gái đẹp vẫn luôn là mơ
ước của những kẻ phàm tục. Nhưng làm sao để nuốt được
hai miếng thơm ngon đó thì lại là một câu chuyện khác, khác
hoàn toàn.
Hoặc cho dù mọi chuyện có thể được nhìn nhận với thái
độ bớt căng thẳng hơn, ứng với trường hợp Nhà nước
Việt nam được "đặc cách" nhập tiệc TPP cũng như nghiễm
nhiên sở hữu một cái ghế trong Hội đồng nhân quyền Liên
hiệp quốc, cũng sẽ rất khó có một minh chứng đủ thuyết
phục nào về nội lực kinh tế và nội tình chính trị để
những tỷ đô la đăm đắm từ TPP bớt mù mờ hơn.
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20130924/pham-chi-dung-tu-wto-den-tpp-nhan-dien-sau-nam-di-can-kinh-te),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét