Chủ nghĩa tư bản và tình trạng bất bình đẳng (1)

<div class="boxleft200"><img
src="http://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2013/06/A-Social-History-of-the-State-of-Missouri-by-Thomas-Hart-Benton.png"
/><div class="textholder"></div></div>Cuộc tranh luận chính trị gần
đây tại Hoa Kỳ và các nước dân chủ tư bản tiên tiến khác
bị chi phối bởi hai vấn đề: sự gia tăng tình trạng bất
bình đẳng kinh tế và mức độ can thiệp của chính phủ nhằm
đối phó vấn đề này. Như cuộc tranh cử tổng thống Mỹ năm
2012 và những đấu đá chính trị về "bờ vực ngân sách"
(the fiscal cliff) đã cho thấy, trọng tâm của cánh Tả hiện nay
được dồn vào việc tăng thuế và chi tiêu của chính phủ,
chủ yếu để đẩy lùi tình trạng phân hóa giai cấp xã hội
đang ngày một gia tăng; trong khi đó, trọng tâm của cánh Hữu
được đặt vào việc giảm thuế và cắt giảm chi tiêu, chủ
yếu để đảm bảo tính năng động kinh tế. Bên này xem nhẹ
những mối quan tâm của bên kia, và mỗi bên đều tỏ ra tin
tưởng rằng những chính sách mà mình mong muốn có khả năng
đảm bảo sự thịnh vượng và ổn định xã hội. Cả hai bên
đều sai lầm.

Tình trạng bất bình đẳng đang thực sự gia tăng gần như
khắp nơi trong thế giới tư bản hậu công nghiệp
(postindustrial). Và dù cho nhiều người bên cánh Tả có nghĩ gì
đi nữa, đây không phải là hậu quả chính trị, và chính trị
không thể đảo ngược được nó, vì vấn đề này có gốc
rễ sâu xa và bất trị hơn người ta có thể dễ dàng nhận ra.
Bất bình đẳng kinh tế là một sản phẩm tất yếu của sinh
hoạt tư bản chủ nghĩa, và việc mở rộng cánh cửa bình
đẳng về cơ hội cũng chỉ làm tăng thêm tình trạng bất bình
đẳng kinh tế mà thôi – vì một số cá nhân và một số
cộng đồng giản dị là có khả năng hơn các cá nhân và cộng
đồng khác trong việc khai thác những cơ hội mà chủ nghĩa tư
bản cung ứng để phát triển và thăng tiến trong đời. Tuy
nhiên, dù cho nhiều người bên cánh Hữu có nghĩ gì đi nữa,
đây là một vấn đề chung cho tất cả mọi người, chứ không
riêng gì cho những người làm ăn thất bát hay những người,
trên bình diện ý thức hệ, quyết theo đuổi chủ nghĩa bình
quân – bởi vì nếu không được giải quyết, tình trạng bất
bình đẳng và bất an kinh tế ngày một gia tăng có thể xói
mòn trật tự xã hội và tạo ra một một phản ứng dân túy
(populist) quật ngược lại hệ thống tư bản chủ nghĩa nói
chung.

Trong vài thế kỷ qua, sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản
đã tạo ra một bước nhảy vọt vĩ đại trong tiến bộ loài
người, vừa đưa đến những tăng trưởng về mức sống vật
chất mà trước đó không ai tưởng tượng nổi, vừa đưa
đến sự phát triển mọi tiềm năng chưa từng thấy của con
người. Nhưng, tính năng động nội tại trong bản thân chủ
nghĩa tư bản lại tạo ra một tình trạng bất an đi kèm với
những lợi lộc mà nó mang lại, vì thế sự tiến triển của
chủ nghĩa này luôn luôn gặp chống đối. Thật ra, phần lớn
lịch sử chính trị và cơ chế của những xã hội tư bản là
lịch sử của những nỗ lực làm giảm bớt hoặc ngăn cản
tình trạng bất an ấy, và chính việc tạo ra nhà nước phúc
lợi (the welfare state) giữa thế kỷ 20 cuối cùng đã giúp chủ
nghĩa tư bản và thể chế dân chủ cùng tồn tại tương đối
hài hòa.

Trong những thập kỷ gần đây, những phát triển trong lãnh
vực công nghệ, tài chánh, và thương mại quốc tế đã tạo ra
những làn sóng và hình thái bất an mới cho những nền kinh tế
tư bản hàng đầu, làm cho đời sống ngày càng trở nên bất
bình đẳng và nhiều rủi ro hơn, không những cho các tầng lớp
hạ lưu và giới lao động mà còn cho một bộ phận không nhỏ
của giai cấp trung lưu. Cánh Hữu gần như nhắm mắt làm ngơ
trước vấn đề này, trong khi cánh Tả ra sức loại bỏ nó
bằng hành động của chính phủ, bất chấp phí tổn ngân sách.
Cả hai đường lối này đều không khả thi trong dài hạn. Các
thể chế tư bản đương đại cần phải chấp nhận rằng tình
trạng bất bình đẳng và bất an kinh tế sẽ tiếp tục là
kết quả tất yếu của các hoạt động thị trường và phải
tìm cách che chắn người dân khỏi những hậu quả nghiêm
trọng của chúng – đồng thời bằng một cách nào đó vẫn
duy trì được tính năng động vốn tạo ra những lợi ích kinh
tế và văn hóa to lớn của chủ nghĩa tư bản.

<strong>Thương phẩm hóa (Commodification) và bồi dưỡng văn
hóa</strong>

Chủ nghĩa tư bản là một hệ thống gồm các quan hệ kinh tế
và xã hội được xác định bởi quyền tư hữu, bởi việc
trao đổi hàng hóa và các dịch vụ do những cá nhân tự do, và
bởi việc sử dụng các cơ chế thị trường để kiểm soát
việc sản xuất và phân phối hàng hóa và dịch vụ. Một số
yếu tố tư bản chủ nghĩa đã tồn tại trong xã hội loài
người qua nhiều thời đại, nhưng mãi đến thế kỷ 17 và 18,
tại nhiều nước châu Âu và thuộc địa của chúng tại Bắc
Mỹ, các yếu tố này mới kết hợp thành lực lượng. Suốt
lịch sử trước đó, gần như mọi hộ gia đình đều tiêu
thụ hầu hết những thứ tự mình sản xuất ra và sản xuất
hầu hết những thứ mà mình tiêu thụ. Mãi đến thời điểm
này, đại đa số dân chúng tại một số nước mới bắt đầu
mua hầu hết những thứ mà họ tiêu thụ và họ làm được
điều này nhờ số tiền họ thu được từ việc bán hầu hết
những thứ mà họ sản xuất.

Sự phát triển các hộ gia đình theo định hướng thị trường
(market-oriented households) và cái gọi là "xã hội thương
mại" có ý nghĩa sâu sắc đối với mọi khía cạnh của sinh
hoạt loài người. Trước khi có chủ nghĩa tư bản, đời sống
con người bị chi phối bởi những định chế truyền thống
luôn luôn đặt những lựa chọn và định mệnh của cá nhân
dưới sự khống chế của các cơ cấu cộng đồng, chính trị,
và tôn giáo khác nhau. Những định chế này cho phép xã hội
thay đổi ở mức tối thiểu, ngăn cản không cho người dân
tiến bộ nhiều nhưng đồng thời cũng che chắn họ khỏi
những dâu bể của cuộc đời. Sự ra đời của chủ nghĩa tư
bản cho các cá nhân nhiều khả năng làm chủ và chịu trách
nhiệm về cuộc đời mình hơn bao giờ hết – điều này vừa
khai phóng vừa đáng sợ, khiến cả tiến bộ lẫn thoái hóa
đều có thể.

Thương phẩm hóa (commodification) – sự chuyển đổi các hoạt
động được thực hiện để sử dụng riêng tư thành các
hoạt động được thực hiện để bán trên thị trường mở
rộng – cho phép dân chúng sử dụng thì giờ hiệu quả hơn,
chuyên biệt hóa trong việc sản xuất những thứ mà họ tương
đối rành nghề và mua các thứ khác từ người khác. Các hình
thái thương mại và chế tạo mới đã sử dụng sự phân công
(division of labor) để sản xuất những mặt hàng gia dụng thông
thường với giá rẻ và cũng tạo ra một loạt hàng hóa mới.
Như sử gia Jan de Vries nhận xét, kết quả của sự kiện này
là điều mà người đương thời gọi là "một sự đánh
thức những thèm khát của trí óc" – nới rộng những sở
thích cá nhân và tạo ra một cảm thức chủ quan mới mẻ về
các nhu cầu. Sự bành trướng nhu cầu đang diễn ra hiện nay
đã từng bị những người bài bác chủ nghĩa tư bản từ
Rousseau đến Marcuse đả kích là đã giam hãm con người trong
chiếc lồng làm bằng những ham muốn phản tự nhiên (unnatural
desires). Nhưng nó lại được những người bênh vực kinh tế
thị trường từ Voltaire trở về sau ca ngợi là đã mở rộng
tiềm năng của con người. Theo quan điểm này, nỗ lực phát
triển và đáp ứng những đòi hỏi và nhu cầu cao hơn là yếu
tính (essence) của văn minh.

Vì có khuynh hướng coi các thương phẩm (commodities) là vật
thể hữu hình, chúng ta thường bỏ qua cái mức độ mà việc
tạo ra và phân phối ngày càng rẻ các thương phẩm văn hóa
mới đã mở rộng, những gì mà ta có thể gọi là "các
phương tiện trau dồi bản thân" (the means of self-cultivation).
Vì lịch sử của chủ nghĩa tư bản cũng là lịch sử phát
triển truyền thông, thông tin, và giải trí – vừa là phương
tiện vừa là đối tượng của tư duy (things to think with, and
about).

Trong số những thương phẩm hiện đại xuất hiện sớm nhất,
phải kể đến các ấn phẩm (ví dụ đầu tiên là cuốn Kinh
Thánh), và việc chúng ngày một rẻ và dễ kiếm còn có ý
nghĩa lịch sử hơn cả sự phát triển của máy nổ, chẳng
hạn. Điều này cũng đúng với sự phổ biến của giấy in, cho
phép nhật báo và tạp chí ra đời. Những phát kiến này lại
làm phát sinh các thị trường mới về thông tin và nghề thu
thập và phân phối tin tức. Vào thế kỷ 18, việc đưa tin từ
Ấn Độ đếnLondonphải mất hàng tháng; ngày nay, chỉ cần
trong chốc lát. Sách báo và tin tức đã giúp nới rộng không
những tầm hiểu biết mà còn phát triển trí tưởng tượng
của chúng ta, khả năng thông cảm với đồng loại và tưởng
tượng như thể chính bản thân chúng ta đang được sống trong
những lối sống tân kỳ. Chủ nghĩa tư bản và tiến trình
thương phẩm hóa vì vậy đã thúc đẩy cả chủ nghĩa nhân
đạo lẫn các hình thức mới mẻ trong việc tự phát minh chính
mình (new forms of self-invention).

Trong thế kỷ vừa qua, các phương tiện bồi dưỡng văn hoá
được phát triển nhờ việc phát minh máy ghi âm, phim ảnh, và
truyền hình, và cùng với sự trỗi dậy của Internet và máy vi
tính trong nhà, những chi phí của việc tiếp thu kiến thức và
văn hoá đã giảm bớt nhanh chóng. Đối với những người nằm
trong xu thế này, việc phát triển các phương tiện bồi dưỡng
văn hóa đã tạo điều kiện mở mang kiến thức của con
người ở mức gần như không thể tưởng tượng nổi.

<strong>Gia đình đóng vai trò quan trọng</strong>

Tuy nhiên, nếu chủ nghĩa tư bản đã mở ra nhiều cơ hội hơn
bao giờ hết cho sự phát triển tiềm năng con người, thì không
phải ai cũng có thể tận dụng những cơ hội ấy hay có thể
tiến xa hơn nữa sau khi nắm được cơ hội. Chẳng hạn, lịch
sử đã chứng minh, nhiều rào cản chính thức hoặc không chính
thức đối với sự bình đẳng về cơ hội đã ngăn cản
nhiều bộ phận dân chúng khác nhau – như phụ nữ, dân tộc
thiểu số, và giới nghèo – không cho phép họ hưởng đầy
đủ tất cả những gì mà chủ nghĩa tư bản cống hiến. Nhưng
qua thời gian, trong thế giới tư bản tiên tiến, những rào
cản ấy đã dần dần được hạ thấp hay tháo gỡ, nhờ vậy
ngày nay người ta có thể tiếp cận cơ hội đồng đều hơn
bao giờ hết. Tình trạng bất bình đẳng đang tồn tại ngày
nay, do đó, phát sinh vì thiếu cơ hội đồng đều thì ít, mà
vì khả năng không đồng đều trong việc khai thác cơ hội thì
nhiều. Và khả năng không đồng đều đó lại phát xuất từ
những khác biệt trong tiềm năng bẩm sinh mà các cá nhân có
từ khi chào đời và trong cung cách mà gia đình và cộng đồng
giúp đỡ và khuyến khích tiềm năng con người phát triển.

Trong việc hình thành khả năng và khuynh hướng của cá nhân
để vận dụng các phương tiện bồi dưỡng văn hóa mà chủ
nghĩa tư bản cung ứng, đề cao vai trò của gia đình đến đâu
cũng không đủ. Hộ gia đình không chỉ là nơi tiêu thụ và
truyền giống. Nó còn là bối cảnh chính trong đó trẻ em
được xã hội hóa, được giáo dục, và trở thành văn minh,
trong đó các thói quen của chúng được phát triển để sau đó
lại ảnh hưởng đến số phận chúng trong tư cách người dân
và tác nhân thị trường Theo ngôn ngữ của kinh tế học
đương đại, gia đình là một workshop (phân xưởng) trong đó
vốn con người (human capital) được tạo ra.

Qua thời gian, gia đình đã ảnh hưởng đến chủ nghĩa tư bản
bằng cách tạo ra những nhu cầu mới đối với những hàng hoá
mới. Gia đình cũng thường xuyên bị chủ nghĩa tư bản khuôn
nắn vì những hàng hóa mới và phương tiện sản xuất mới
đã thúc đẩy các thành viên trong gia đình sử dụng thời gian
theo lối mới. Vào thế kỷ 18, khi các hàng tiêu thụ mới bắt
đầu xuất hiện với giá rẻ hơn bao giờ hết, các hộ gia
đình dồn nhiều thì giờ hơn cho các hoạt động theo xu thế
thị trường, với tác động tích cực đến khả năng tiêu
thụ của họ. Mặc dù ban đầu đồng lương của đàn ông có
lẽ đã thực sự suy giảm, nhưng lương của cả vợ, chồng,
con cái cộng lại đã nâng tiêu chuẩn tiêu thụ (standards of
consumption) cao hơn trước. Nhưng, việc tăng trưởng kinh tế và
mở rộng các chân trời văn hóa không cải thiện mọi phương
diện của đời sống cho mọi người. Việc con cái của giai
cấp lao động có thể kiếm tiền từ tuổi vị thành niên đã
khuyến khích chúng sao lãng học hành và sự thiếu lành mạnh
của một số hàng hoá mới xuất hiện (bánh mì trắng,
đường, thuốc lá, rượu mạnh) cho thấy tiêu chuẩn tiêu thụ
tăng cao không luôn luôn đồng nghĩa với sự cải thiện sức
khỏe và tuổi thọ con người. Và khi thời gian lao động của
người phụ nữ được tái phối trí từ việc phục vụ gia
đình sang phục vụ thị trường, các tiêu chuẩn vệ sinh có
vẻ suy giảm, gia tăng rủi ro bệnh tật.

Cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, người ta chứng kiến
sự phát triển từng bước của các phương tiện sản xuất
mới khắp các khu vực kinh tế. Đây là thời đại cơ khí, có
đặc tính là các nguồn lực vô cơ (chủ yếu là máy hơi
nước) ngày càng thay thế các nguồn lực hữu cơ (người và
súc vật), một tiến trình đã gia tăng năng suất rất lớn.
Khác hẳn trong một xã hội chủ yếu dựa vào nông nghiệp và
tiểu công nghệ gia đình, việc chế tạo hàng hoá bây giờ
ngày càng diễn ra trong những công xưởng được xây dựng chung
quanh các cỗ máy tân kỳ nhưng quá kềnh càng, quá ồn ào, và
quá dơ bẩn, không thể chứa trong nhà. Công ăn việc làm do đó
ngày càng tách khỏi hộ gia đình, một chuyển biến rốt cuộc
đã thay đổi cơ cấu gia đình.

Thoạt đầu, các chủ nhân của những nhà máy công nghiệp hóa
mới mẻ này đã tuyển dụng phụ nữ và trẻ em vào làm công
nhân vì họ là những người dễ sai bảo và dễ kỷ luật hơn
đàn ông. Nhưng vào nửa sau của thế kỷ 19, người nam công
nhân trung bình ở Anh được hưởng sự gia tăng đáng kể và
bền vững của đồng lương đích thực; vì vậy, một sự phân
công mới đã diễn ra ngay trong phạm vi gia đình, theo đường
ranh giới tính. Nhờ sức mạnh thể chất cho họ một ưu thế
tương đối trong việc sản xuất, nam giới ngày càng làm việc
đông đảo trong các nhà máy với đồng lương thị trường
đủ cao để nuôi cả gia đình. Tuy vậy, thị trường của thế
kỷ 19 chưa thể cung cấp những hàng hóa để tạo ra sự sạch
sẽ, vệ sinh, các bữa ăn bổ dưỡng, và việc trông nom chu
đáo các trẻ em. Trong giới thượng lưu, những dịch vụ này
có thể được đầy tớ cung ứng. Nhưng đối với hầu hết
mọi gia đình, những dịch vụ này ngày càng được các bà vợ
cung ứng. Tình trạng này đã phát sinh ra mô hình gia đình
chồng đi kiếm cơm – vợ lo nội trợ (the breadwinner-homemaker
family), dựa trên sự phân công theo giới tính. Theo de Vries,
nhiều cải tiến về sức khỏe, tuổi thọ, và giáo dục từ
giữa thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20, có thể được lý
giải bởi việc tái phân bố (realloacation) lực lượng lao
động phụ nữ từ thị trường về với hộ gia đình và, sau
cùng, tái phân bố giới thiếu niên từ thị trường về với
học đường, khi trẻ em rời bỏ lực lượng lao động để
đến trường.

<strong>Tính năng động và sự bất an</strong>

Trong phần lớn lịch sử nhân loại, cội nguồn chính cho nỗi
bất an của con người là thiên nhiên. Như Marx nhận xét, trong
những xã hội như thế, hệ thống kinh tế hướng đến ổn
định – và bế tắc. Những xã hội tư bản, trái lại, từ
trước đến nay vẫn hướng tới sáng kiến và tính năng
động, tới sự sáng tạo tri thức mới, sản phẩm mới,
phương thức sản xuất và phân phối mới. Tất cả những
điều đó đã chuyển vị trí của tình trạng bất an từ thiên
nhiên sang kinh tế.

Hegel đã nhận xét vào những năm 1820 rằng đối với con
người trong một xã hội thương mại đặt cơ sở trên mô hình
chồng kiếm cơm-vợ lo việc nhà (the breadwinner-homemaker model), ý
thức về giá trị bản thân và thế giá của mỗi người
được gắn liền với công ăn việc làm. Điều này đặt ra
một vấn đề, vì trong một nền kinh tế thị trường tư bản
năng động, thất nghiệp là một khả năng hiển nhiên. Sự
phân công lao động do thị trường tạo ra có nghĩa là nhiều
công nhân có các kỹ năng được chuyên biệt hóa cao độ
(highly specialized) và chỉ thích hợp với một số công việc
rất hạn hẹp. Thị trường tạo ra những nhu cầu thường
xuyên thay đổi, và do đó khi nhu cầu đối với sản phẩm mới
gia tăng thì nhu cầu đối với sản phẩm cũ giảm bớt. Những
người có cuộc đời gắn bó với một vai trò nhất định
trong việc sản xuất ra những sản phẩm lỗi thời thường bị
thất nghiệp và không có tay nghề để kiếm việc làm mới. Và
việc cơ giới hóa hoạt động sản xuất cũng dẫn đến nạn
thất nghiệp. Nói cách khác, ngay từ lúc khởi đầu, tính sáng
tạo và sự đổi mới trong chủ nghĩa tư bản công nghiệp đã
đi đôi với nỗi bất an của các thành viên trong lực lượng
lao động như bóng với hình.

Marx và Engels đã phác họa tính năng động, nỗi bất an, sự
cải tiến các nhu cầu, và việc mở rộng các khả năng văn
hóa của chủ nghĩa tư bản trong <em>Tuyên ngôn Cộng sản</em>
như sau:

<em>"Thông qua việc bóc lột thị trường thế giới, giai cấp
tư sản đã cho sản xuất và tiêu dùng một tính chất quốc
tế. Nó rút phắt nền tảng quốc gia trụ dưới chân công
nghiệp, khiến các thế lực phản động cực kỳ khó chịu.
Các ngành công nghiệp quốc gia lâu đời đã bị tiêu diệt và
đang hàng ngày bị tiêu diệt. Chúng bị choán chỗ bởi những
ngành công nghiệp mới mà sự xuất hiện trở thành một vấn
đề sống còn với mọi quốc gia văn minh, những ngành công
nghiệp không còn sử dụng nguyên liệu bản xứ mà sử dụng
nguyên liệu khai thác từ những vùng xa xôi nhất, những ngành
công nghiệp mà sản phẩm được tiêu thụ không chỉ trong
nước mà ở khắp mọi nơi trên hoàn cầu. Thay cho những nhu
cầu cũ được thỏa mãn bằng sản phẩm nội địa, chúng ta
thấy những nhu cầu mới, đòi được thỏa mãn bằng các sản
phẩm từ các vùng đất và vùng khí hậu xa xôi. Thay cho sự cô
lập và tự túc cố hữu của địa phương và quốc gia là giao
lưu mọi hướng và sự phụ thuộc phổ quát giữa các quốc
gia."</em>

Đến thế kỷ 20, nhà kinh tế Joseph Schumpeter sẽ triển khai
trên những luận điểm này cái ý niệm cho rằng chủ nghĩa tư
bản có đặc tính "hủy hoại sáng tạo", trong đó các sản
phẩm, các hình thức phân phối và tổ chức mới sẽ đào
thải các hình thức cũ hơn. Nhưng khác với Marx, là người
chỉ thấy nguồn gốc của tính năng động này trong cuộc tìm
kiếm "tư bản" quái gở (mà ông cho là bóc lột giai cấp
công nhân), Schumpeter tập trung vào vai trò của doanh nhân là
người có sáng kiến, biết đưa vào thị trường các hàng hóa
mới và khám phá các thị trường và các phương pháp mới.

Tính năng động và tình trạng bất an do chủ nghĩa tư bản
công nghiệp thế kỷ 19 tạo ra đã dẫn đến sự thành lập
các định chế mới để giảm bớt bấp bênh kinh tế, bao gồm
tập đoàn trách nhiệm hữu hạn, nhằm giảm bớt rủi ro cho
người đầu tư; các công đoàn, nhằm cải tiến lợi ích của
người lao động; các hội tương trợ, nhằm cho vay nợ và cung
cấp bảo hiểm chôn cất (burial insurance); và ngành bảo hiểm
nhân thọ thương mại. Vào những thập niên giữa thế kỷ 20,
nhằm đối phó nạn thất nghiệp tràn lan và cảnh khốn cùng do
cuộc Đại khủng hoảng kinh tế gây ra (cũng như do sự thành
công chính trị của chủ nghĩa cộng sản và phát-xít, một sự
thành công đã thuyết phục nhiều nhà dân chủ rằng một tình
trạng quá bấp bênh về kinh tế là mối đe dọa cho chính bản
thân thể chế dân chủ tư bản chủ nghĩa), các nước dân chủ
phương Tây đã chọn chính sách nhà nước phúc lợi (the welfare
state). Nhiều quốc gia khác nhau đã sáng tạo nhiều kết hợp
khác nhau gồm các chương trình cụ thể, nhưng các nhà nước
phúc lợi mới mẻ này có nhiều điểm giống nhau, trong đó có
chế độ bảo hiểm tuổi già và bảo hiểm thất nghiệp cũng
như nhiều biện pháp khác nhau để hỗ trợ các gia đình.

Sự bành trướng của nhà nước phúc lợi vào những thập niên
sau Thế chiến II đã diễn ra vào một thời điểm mà các nền
kinh tế tư bản đang tăng trưởng nhanh chóng. Sự thành công
của nền kinh tế công nghiệp đã cho phép chuyển một số lợi
nhuận và tiền lương vào các mục đích chính phủ thông qua
việc đánh thuế. Sự phát triển dân số thời hậu chiến,
trong đó mô hình gia đình chồng đi làm-vợ nội trợ (the
breadwinner-home maker model) chiếm số đông, cũng rất phù hợp,
vì tỉ lệ sinh cao vừa phải đã tạo ra một tỉ lệ thích
hợp giữa số công nhân năng động và những người lệ thuộc
[vợ con]. Cánh cửa cơ hội giáo dục được mở rộng, khi các
đại học ưu tú gia tăng việc nhận sinh viên căn cứ vào thành
tích học tập và tiềm năng của họ, và càng ngày càng có
nhiều người theo học tại các cơ sở giáo dục cấp cao hơn.
Các rào cản không cho phép phụ nữ và người thiểu số tham
gia trọn vẹn vào đời sống xã hội cũng bắt đầu sụp đổ.
Kết quả của tất cả những điều đó là một tình trạng
quân bình tạm thời, trong đó các nước tư bản tiên tiến
trải qua một thời kỳ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, đa số
dân chúng có công ăn việc làm, và tương đối có bình đẳng
kinh tế-xã hội.


***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20130628/chu-nghia-tu-ban-va-tinh-trang-bat-binh-dang-canh-huu-va-canh-ta-sai-lam-o-nhung),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét