Hiến pháp 1946 của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thâu thái
và được hợp thành bởi một số yếu tố tiến bộ, hợp
thời đại, cơ bản xác định một số vấn đề về chế độ
chính trị, về bản chất và sứ mệnh của nhà nước, về quan
hệ giữa nhà nước và những người bầu ra và giao nhiệm vụ
cho nó, trong đó có nội dung nhà nước "của dân, do dân, vì
dân". Tư tưởng này là bình thường, không có gì mới; cũng
là kết quả của một sự tiếp thu từ các nội dung hiến
định của nước Mỹ.
Khi ghi điều đó vào Hiến pháp, nó không phải là khẩu hiệu;
nó là bản chất cần phải có của nhà nước. Nó cũng không
chỉ là sự cam kết đơn phương của nhà nước, mà là yêu
cầu, là sự đặt hàng của toàn dân đối với nhà nước.
Sự vận hành tư tưởng này vào đời sống, sinh hoạt, hoạt
động chính trị của đất nước đòi hỏi một bối cảnh phù
hợp; bối cảnh đó cũng được hiến định trong Hiến pháp.
Trước hết, bối cảnh được hiến định đó là cách thức
bầu cử ra nhà nước (tổ chức tổng thể được trừu tượng
hóa trong hệ thống chính trị và các thành viên cụ thể phải
bầu) bảo đảm cho bằng được nhà nước đó là của dân, do
dân. Của, do ở đây được hiểu và thực thi theo tinh thần
quyết định luận, có tính nhân quả giữa người dân và sản
phẩm nhà nước họ tạo ra. Mỗi người dân đi bầu – cử
tri, không phải là đơn vị tính cho tổng số/tỉ lệ người
dân tham gia vào cuộc bầu cử một cách số học và cơ học,
mà là một chủ thể chính trị có ý thức, có năng lực hành
vi bình thường, đang thực hiện quyền và nghĩa vụ tạo ra nhà
nước của mình. Thuộc tính này, trong một thể chế dân chủ,
cũng được tính đến đối với những người thể hiện thái
độ không tham gia bầu cử (dĩ nhiên không bao gồm những
người vô trách nhiệm, vô chính phủ).
Để bảo đảm cho bản chất của dân, do dân đó của tổ
chức nhà nước và các thành viên phải được bầu theo hiến
định, người dân phải biết về những người mình sẽ lựa
chọn và bầu – các ứng cử viên được các chính đảng
giới thiệu hoặc tự ứng cử theo một số điều kiện nào
đó do luật định. Thông thường, yêu cầu này phải được
thực hiện theo thể thức bầu cử trực tiếp, dân chủ trực
tiếp. Các chính đảng, khi giới thiệu người ra ứng cử và
thực hiện vận động cho ứng cử viên đó, cũng không chịu
trách nhiệm hoàn toàn về sự thành bại trong cuộc chạy đua
của ứng cử viên; hơn nữa, sau khi ứng cử viên đã đắc cử
và hành chức trong bộ máy nhà nước, chính đảng đó cũng
không còn chịu trách nhiệm chính trị, không thể bảo vệ,
bảo kê cho những sai sót công vụ của người này.
Cùng với việc biết một cách thấu đáo đối tượng mà mình
sẽ lựa chọn, mỗi cử tri, theo luật định, cũng là một ứng
cử viên tiềm năng; và việc đi bầu của họ, thực chất là
sự lựa chọn trong đó có sự so sánh với chính bản thân
mình, rằng người được lựa chọn đó xứng đáng hơn mình,
có điều kiện riêng và khiếu làm chính trị hơn mình. Tính
chính danh của nhà nước, của các thành viên được bầu của
nhà nước được tạo nên bởi sự tự so sánh, tự thuyết
phục từ mỗi cử tri. Có được sự tự thuyết phục đó,
người dân mới thực sự coi nhà nước là của mình, nhớ
rằng mình đã bầu ai; từ đó, họ luôn có ý thức theo dõi,
giám sát nhà nước bằng trách nhiệm tự nhiên riêng tư, thông
qua theo dõi các kênh thông tin đại chúng, qua việc tham gia thăm
dò mức độ tín nhiệm, bỏ phiếu bất tín nhiệm hoặc tham
gia, theo dõi thủ tục luận tội (impeachment). Ít nhất, khi quan
chức nhà nước nào đó có sai lầm hoặc vi phạm, cử tri đã
bầu người đó còn có thể nói "Tôi rất ân hận đã bầu
cho ông/bà đó". Sự giám sát của công dân – cử tri đối
với hệ thống nhà nước trong trường hợp này không phải là
hành vi liêm phóng, cũng không chỉ vì những mục đích nhất
thời đôi khi thiếu lành mạnh, dễ biến tướng thành vụ
lợi, ấu trĩ như kiểu tố cáo tiêu cực, tham nhũng, mà là
một hành vi thể hiện trách nhiệm chính trị văn minh : người
dân giám sát hiệu quả sự ủy nhiệm chính trị của mình,
đánh giá chất lượng nhà nước thực hiện bản khế ước
với nhân dân.
Thể thức bầu cử, sinh hoạt chính trị đó có thể thấy rõ
trong nền chính trị của Hoa Kỳ. Nó được thử nghiệm và
thành công với tuổi thọ của bản Hiến pháp gần 230 năm
cộng với 27 Tu chính án, không cần sửa đổi, viết lại.
Bản Hiến pháp có hiệu lực từ 4/3/1789 cùng với hệ thống
luật pháp liên quan đến điều chỉnh các quan hệ chính trị
giữa nhà nước với công dân, giữa các chính đảng, các tổ
chức chính trị với nhà nước và công dân đã tạo nên một
nền dân chủ mẫu mực đã được nhà nghiên cứu người Pháp
A. Tocqueville phân tích và đánh giá cao ngay từ năm 1835, sau một
năm khảo sát. Cảm nhận về nền dân chủ đó có ở mọi
tầng lớp người dân Mỹ; ở đó, các cá nhân, nhóm xã hội,
chính đảng có thể phản đối những chính sách, luật pháp
nhà nước ban hành trong những hoàn cảnh cụ thể, với những
phạm vi điều chỉnh cụ thể, song chưa từng nghe, thấy bất
cứ sự than phiền hay sự kiện chính trị nào thể hiện sự
phản đối, đấu tranh của công dân đối với nền dân chủ
Mỹ.
Với nền dân chủ, văn hóa dân chủ như vậy, làm quan chức
nhà nước (kể cả lực lượng vũ trang) chỉ như một nghề,
từ vị trí thấp nhất đến cao nhất. Quan hệ giữa quan chức
nhà nước với công dân khác là quan hệ bình đẳng, được
cảm nhận, nhìn nhận, đánh giá theo cam kết trách nhiệm và
phân công lao động mà trong xã hội học Mỹ gọi là trò chơi
đóng vai (<em>playing the role</em>). Giữa công chức, chẳng hạn,
Tổng thống, với người dân, không có sự hơn thua cao thấp,
mà chỉ là khác nhau về nghề nghiệp, về cách thể hiện chí
hướng ở đời và cách thức tìm kiếm hạnh phúc sống, làm
việc, cống hiến theo khẩu vị cá nhân. Quan chức, kể cả
nguyên thủ quốc gia, chẳng có gì bí mật, thiêng liêng, thần
thánh hóa cả, lúc đương chức cũng như lúc hết nhiệm kỳ
hoặc về hưu. Họ cũng bị cư xử về mặt chính trị, luật
pháp, đạo đức như những người khác, trừ những qui chế
riêng về an ninh, sức khỏe, ngoại giao lúc thi hành công vụ.
Sự kiện Watergate của R. Nixon hay vụ Monica Lewinski với B.
Clinton là minh chứng cho kiểu văn hóa này. Đặc biệt, cái
chính đảng giới thiệu họ ra ứng cử, sau khi làm xong thủ
tục đó, trở thành cái bóng mờ sau cái phông chính trị của
họ, không còn tác dụng gì trong việc hỗ trợ chính trị theo
qui định của luật pháp hoặc yêu cầu quản lý đảng viên.
Một khi không còn giữ cương vị nhà nước đó, quan chức
nguyên thủ không còn nhu cầu hoặc được mời mọc xuất hiện
ở những sự kiện quốc gia hoặc hoạt động đảng phái để
chưng diện những khuôn mặt lờ đờ "Ì như một chiếc bình
vôi"(*) của mình nữa.
Việt Nam, từ thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1946, đã có
những nỗ lực nhất định để hiến định và thực thi tư
tưởng, nguyên tắc nhà nước của dân, do dân, vì dân, được
tiếp thu từ Hiến pháp Hoa Kỳ. Song do hoàn cảnh chiến tranh và
do sự kiểm soát, cạnh tranh chính trị của đảng cộng sản
– cũng là một trong những nguyên nhân của chiến tranh, Hiến
pháp 1946 trở nên không có hiệu lực; tư tưởng và nguyên tắc
nhà nước của dân, do dân, vì dân không được thực hiện
với những qui trình chính trị tương thích giống như ở các
quốc gia mà tư tưởng, nguyên tắc này hình thành, dẫn đến
tình trạng độc tài đảng trị, đảng toàn trị ngày càng
tăng. Suốt mấy mươi năm, trên thực tế, nhà nước Việt Nam
và công chức/quan chức nhà nước trở thành của đảng, do
đảng, vì đảng thể hiện qua toàn bộ qui trình, thủ tục
hình thành nhà nước và nhân sự trong hệ thống nhà nước.
Các phạm trù có tính mục tiêu của nhà nước, nhằm thể
hiện bản chất tiến bộ của nhà nước của dân, do dân, vì
dân như dân chủ, nhân quyền, tự do, hệ thống pháp luật, kể
cả Hiến pháp cũng khuôn theo đó. Tất cả đều nhằm hiện
thực hoá, thể chế hoá các quyết định, chỉ đạo, định
hướng, đường lối, nghị quyết của đảng; đảng bảo sao,
cho "mở rộng" đến đâu, như thế nào, cơ cấu những ai
thì cứ thực hiện theo đó. Cơ quan Quốc hội, qua mấy mươi
năm, cũng sinh hoạt/hoạt động theo khuôn mở rộng dân chủ
của đảng; ông Chủ tịch Quốc hội cũng chỉ được xếp sau
Thủ tướng trong cái thứ tự thiêng liêng, thần bí của
đảng. Cho đến những ngày này, người ta còn muốn ghi vào
Hiến pháp mới sứ mệnh của quân đội vốn có tên Vệ quốc
quân trở thành Vệ đảng quân; còn công an "nhân dân"thì
đã công khai "còn đảng, còn mình". Đến sổ hưu của công
chức, viên chức ăn lương từ ngân sách cũng gắn liền với
đảng, với chế độ chính trị như lời của một ông PGS.TS
Đại tá QĐND.
Trong bàn tay kiểm soát toàn trị của đảng, muốn được
đứng vào một vị trí có phẩm hàm nào đó trong bộ máy nhà
nước, điều kiện tiên quyết phải là đảng viên. Từ điều
kiện cần khởi sự đó, công chức sẽ dần thăng tiến trong
sự bảo kê suốt đời của đảng, với yêu cầu phải luôn
luôn tỏ ra phục tùng, thể hiện những dấu hiệu của sự
trung thành, một chút năng lực. Dựa vào đó, đảng sẽ qui
hoạch, cho đi đào tạo các lớp chính trị từ sơ cấp đến
cao cấp, cơ cấu vào cấp uỷ. Một khi đã được như vậy,
nếu không có sai phạm công vụ gì, người công chức đã trở
thành cán bộ vạn năng trong việc bố trí vào những cương vị
nhà nước cùng cấp với cấp uỷ và chuẩn bị cho cấp uỷ cao
hơn. Một cán bộ ở cấp tỉnh uỷ chẳng hạn, dù trình độ
và chuyên ngành chuyên môn gì, có thể bổ nhiệm bất cứ vị
trí giám đốc Sở nào. Thế mới có trường hợp nhà thơ thì
làm Phó Thủ tướng phụ trách kinh tế; một y tá trình độ sơ
cấp, học hành phổ thông lom mom, đại học luật tại chức có
người thi thay vẫn có thể làm Thống đốc ngân hàng. Những
năm gần đây, để khắc phục tìng trạng đó, đảng đưa thêm
tiêu chuẩn bằng cấp cao vào yếu cầu bổ nhiệm một số
loại hình công chức, viên chức, nhằm trí thức hoá cán bộ
đảng viên, và cũng làm sang cho hệ thống này trong giao dịch
với đồng cấp nước ngoài. Song từ chủ trương đó, đã
xuất hiện hiện tượng học giả bằng thật, bằng giả, mua
bán bằng cấp…và tất cả số cán bộ có bằng cấp, học
vị học hàm cao làm công tác lãnh đạo, quản lý chẳng đóng
góp gì trong đào tạo, nghiên cứu khoa học của đất nước
cả.
Bù đắp lại, người công chức, ngoài hệ số lương, được
hưởng tất cả các đặc ân đặc lợi từ tem phiếu trước
đây cho đến nhà cửa, xe pháo, bổng lộc, sự chăm sóc sức
khoẻ, chế độ phục vụ, bảo vệ an ninh theo sự phân loại
bí hiểm A, B, C… hiện nay; trong đó, có những bổng lộc,
quyền lợi suốt đời. Thậm chí, những cán bộ cao cấp, khi
đã về hưu, vẫn móc lại làm "cố vấn"; các dịp lễ lạc
vẫn được mời đến khọm khẹm đi đứng ngồi, phát biểu
để sau đó nhận phong bì; một số vị trong số này lâu lâu
hứng lên lại hạ phóng xuống địa phương với bầu đoàn
đưa rước, tiệc tùng, quà cáp, và chỉ đạo.
Nhưng đặc ân lớn nhất là sự bảo vệ đầy quyền lực của
đảng đối với họ. Tuy về lý thuyết, một số trong đó
được gọi là do dân bầu ra và tất cả đều "phục vụ"
nhân dân, song với số cán bộ được bầu, họ biết không
cần vận động thì vẫn trúng cử, cho dù họ được phân công
đến "ứng cử" ở một địa điểm cách nơi sinh sống của
họ cả ngàn cây số và có thể họ chưa biết địa danh đó.
Một khi đã "trúng cử", cùng với số cán bộ được bổ
nhiệm, tất cả đều tư duy hành xử không có chút biểu hiện
nào là của dân, do dân, vì dân nữa, mà là làm công cụ của
đảng để cai trị nhân dân. Vì vậy, dù một chính sách của
đảng sai, không hợp lòng dân, gây thiệt hại quyền lợi của
dân, họ vẫn phải đứng về phía đảng, bới vì họ là
đảng viên; quyền lợi của họ, dù là từ thuế của dân,
vẫn như do đảng ban phát. Trong tác nghiệp công vụ như vậy,
họ được đảng bảo vệ tối đa ở những vi phạm dưới
mức hình sự. Ở mức đó, có thể có những xử lý kỷ luật
trong đảng rồi phiên sang chính quyền, kể cả bố trí công
việc khác, chuyển đi nới khác, song không có ảnh hưởng gì
đến các lợi quyền vật chất, chẳng hạn mức lương.
Trường hợp xử lý với ông Chủ tịch tỉnh Đak Lăk vừa rồi
là như vậy.
Nếu đảng viên có vi phạm mức hình sự, lập tức đảng sẽ
khai trừ trước khi ra toà để chứng tỏ một cách kỹ thuật
rất trẻ con rằng đảng viên "cộng sản" không bao giờ bị
bỏ tù trong một nước "xã hội chủ nghĩa". Từ đó đã có
một số tình huống oái ăm là sau khi bị khai trừ, bi can đó
được trắng án ở một cấp xử cao hơn. Cho đến nay đảng
chưa có phương án giải quyết nào cho tình huống này.
Thể hiện cao nhất của sự bảo vệ, bảo kê đó là trường
hợp đồng chí X vừa rồi. Ở cấp uỷ viên Bộ chính trị
được cơ cấu vào hệ thống nhà nước, đồng chí ấy dứt
khoát phải được do dân bầu. Đúng ra, sự vi phạm của đồng
chí ấy phải được công khai cho cho nhân dân và phải được
xử lý bằng chính cái tổ chức do dân bầu ra trong đó có
đồng chí ấy. Song như bản chất, qui trình nói trên, trước
hết đồng chí đó phải bị xử lý kỷ luật trong đảng. Một
khi đảng không xử lý được, nhân dân hoàn toàn không biết
đồng chí ấy vi phạm cái gì; ngay cái tên của đồng chí ấy
cũng không được công bố cho nhân dân. Vậy thì cố ghi vào
Hiến pháp làm gì rằng nhà nước là của dân, do dân, vì dân,
trong khi thực tế nhân dân không biết gì về nhà nước nếu
không được phép của đảng. Hiến pháp có mạnh hơn đồng
chí X không khi đồng chí đó là một đảng viên "cộng
sản" cao cấp và trong hoàn cảnh đảng vẫn đứng trên nhà
nước, đứng trên pháp luật?
Xích Tử
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20130427/hien-phap-va-dong-chi-x), một số
đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc
giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận
có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng
dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét