<div class="special_quote"><strong>Đôi lời giới thiệu về tác giả
Trương Nhân Tuấn</strong>:
<div class="boxright200"><img
src="http://danluan.org/files/u23/danluan_00290.jpg" /><div
class="textholder">Ông Trương Nhân Tuấn (Ngô Quốc Dũng)</div></div>
Ông Trương Nhân Tuấn tên thật là Ngô Quốc Dũng, sinh ngày 26
tháng 3 năm 1956 tại Bạc Liêu. Năm 1974 đã đậu chứng chỉ
căn bản về Khoa học (MPC) tại Đại học Khoa học Sàigòn.
Việc miền Nam sụp đổ năm 1975 khiến ông phải bỏ học một
thời gian. Năm 1980 ông qua Pháp, vừa đi làm vừa học lại,
lấy được bằng Cao học về Toán và Vật lý. Ông đã có
nhiều công trình nghiên cứu, biên khảo công phu về chủ quyền
biên giới lãnh thổ - lãnh hải của Việt Nam.</div>
Trung Quốc bắt đầu lên tiếng tranh dành quần đảo Hoàng Sa
của Việt Nam từ năm 1909. Trong thời kỳ bảo hộ, nước Pháp,
đại diện đế quốc An Nam, đề nghị hai lần với Trung Quốc
một trọng tài phân giải, vào năm 1932 và năm 1947, nhưng cả
hai lần Trung Quốc đều không đáp ứng. Thái độ của Trung
Quốc có thể biết trước, vì không ai dại dột đặt cược
lớn khi biết mình không có hy vọng nào để thắng. Ở các
thời điểm đó Trung Quốc không hề có cơ sở pháp lý hay
bằng chứng lịch sử nào để có thể chứng minh chủ quyền
của họ tại quần đảo Hoàng Sa. Do đó họ chủ trương sử
dụng mưu kế hay chờ đợi thời cơ, dùng vũ lực để giải
quyết vấn đề. Kể từ đó, nhiều thế hệ lãnh đạo, hay
chế độ chính trị, tiếp nối nhau, mục tiêu chiến lược
của Trung Quốc không thay đổi. Năm 1956 Trung Quốc lợi dụng
cơ hội sự lúng túng của Pháp tại Đông Dương đổ quân
chiếm nhóm đảo An Vĩnh. Năm 1974, lợi dụng cơ hội Hoa Kỳ
rút khỏi miền Nam Việt Nam, Trung Quốc dùng vũ lực chiếm nốt
nhóm đảo còn lại là nhóm Nguyệt Thiềm, qua một trận hải
chiến bất cân xứng giữa hải quân nước này với hải quân
của Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng điều đáng ngại là mục tiêu
chiến lược của Trung Quốc bao gồm luôn quần đảo Trường Sa
và một vùng biển chiếm khoảng 80% diện tích biển Đông. Tham
vọng bành trướng của Trung Quốc sẽ không ngừng ở Hoàng Sa.
Họ có thể sử dụng vũ lực bất kỳ khi nào có thời cơ
thuận tiện để chiếm quần đảo Trường Sa và vùng biển
tại đây.
Điều làm người ta bất mãn là thái độ hiện nay của nhà
cầm quyền CSVN. Họ luôn tuyên bố rằng Việt Nam có chủ
quyền không thể chối cãi ở hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa. Nhưng họ luôn thụ động trước vố số hành vi dã
man của hải quân Trung Quốc đối với ngư dân Việt Nam như
bắn giết, bắt cóc đòi tiền chuộc, tịch thâu thuyền bè và
dụng cụ… khi những người dân này buông lưới tại những
vùng biển truyền thống của Việt Nam, chung quanh quần đảo
Hoàng Sa hay Trường Sa, thậm chí ngay trong vịnh Bắc Việt, trong
vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam; hoặc các thái độ
ngang ngược của Trung Quốc khi cho đặt các dàn khoan dầu khí,
nhiều nơi ngay trên thềm lục địa của Việt Nam, cách bờ
chưa tới 250km, trong khi cách đảo Hải Nam đến hàng ngàn km.
Hành động phản đối gọi là <em>"kịch liệt"</em> lắm của
Hà Nội vẫn chỉ giới hạn ở các tuyên bố suông. Trong khi
đó, một mặt, các chiến hạm của Trung Quốc, ngụy trang
dưới lớp vỏ các tàu Ngư Chính, vẫn thường xuyên đi tuần
tiễu ở biển Đông, trong vùng thuộc Hoàng Sa và Trường Sa,
để khủng bố ngư dân Việt Nam và mặt khác, hàng năm, Bắc
Kinh còn hạ lệnh cấm biển trên biển Đông, trong một vùng
rộng lớn, trong nhiều tháng (từ tháng 5 đến tháng 8 hàng
năm), với lý do bảo vệ nguồn thủy sản. Đôi lúc họ còn ra
lệnh cấm biển vì lý do quân sự: hải quân Trung Quốc diễn
tập, cấm thuyền bè qua lại. Hậu quả các việc này làm cho
đời sống của ngư dân Việt Nam đảo lộn, hầu hết lâm vào
cảnh khó khăn nghèo đói, một số phải bỏ nghề. Nhưng tệ
hại hơn cả là nếu việc này tiến diễn thêm vài năm nữa mà
phía Việt Nam vẫn chỉ tuyên bố hay phản đối suông mà không
có hành động cụ thể để ngặn chặn, chủ quyền của Trung
Quốc tại các vùng biển này sẽ được khẳng định.
Bởi vì, một cách để chứng minh chủ quyền của quốc gia ở
một vùng lãnh thổ hay biển đảo nào đó là áp đặt được
quyền tài phán của quốc gia ở các vùng đó. Nếu lệnh cấm
biển của Trung Quốc được ngư dân Việt Nam <em>"thi hành"</em>,
như các việc đóng tiền phạt chuộc ngư cụ, hay không đánh
cá tại các vùng biển do Trung Quốc cấm, cho dầu qua hình thức
cưỡng bức, điều này cũng hàm ý Việt Nam chấp nhận quyền
tài phán của Trung Quốc (ở các vùng biển bị cấm). Tức
Việt Nam mặc nhiên chấp nhận các vùng biển đó chủ quyền
thuộc về Trung Quốc.
Như thế thời gian cũng là một yếu tố rất bất lợi cho
Việt Nam.
Trước nguy cơ lớn lao, đe dọa sự tồn vong và tương lai vinh
nhục của cả dân tộc, nhà cầm quyền Việt Nam đến nay vẫn
không có một biện pháp nào xem ra có thể thích nghi để giải
quyết tranh chấp Hoàng Sa. Trong khi đó quyền lợi của Việt Nam
tại quần đảo Trường Sa lại bị Trung Quốc đe dọa trầm
trọng.
Trong các năm vừa qua Việt Nam đã đảm nhận những vai trò quan
trọng trên quốc tế, như là thành viên luân phiên của Hội
đồng bảo an Liên Hiệp Quốc, hay làm chủ tịch ASEAN. Thời cơ
do đó không phải là thiếu. Tại sao Vì sao Việt Nam không kiện
Trung Quốc ra một trọng tài quốc tế? không đưa các vụ tranh
chấp ra tòa án quốc tế hay trước diễn đàn Liên Hiệp Quốc?
Các hành động này có thể ít có hiệu quả trên thực tế, vì
thái độ ngang ngược, bá quyền của Trung Quốc, nhưng ít nhứt
nó sẽ xoa dịu những bất bình đến từ công chúng trong
nước, và trong chừng mực, khẳng định tính chính đáng về
lãnh đạo của đảng CSVN.
Dưới thời thuộc địa, nước Pháp ràng buộc với đế quốc
An Nam qua hiệp ước bảo hộ, họ có nhiệm vụ <em>"bảo vệ
toàn vẹn lãnh thổ của đế quốc An Nam trước kẻ thù gây
hấn bên ngoài"</em>. Người ta có thể phê bình nước Pháp về
nhiều mặt, nhưng về vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa thì các
hành động của Pháp có thể gọi là tạm đủ.
Nhưng hành động của đảng CSVN, từ khi <em>"cướp chính quyền
từ tay Pháp, Nhật"</em>, lập được nước Việt Nam Dân Chủ
Cộng Hòa từ năm 1949, cho đến năm 1975 <em>"đánh cho Mỹ cút,
Ngụy nhào"</em>, gồm thu đất nước về một mối <em>"Cộng
hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam"</em>, thì chưa bao giờ củng
cố hay khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và
Trường Sa.
Câu hỏi chính đáng đặt ra: Tại sao Việt Nam không đề nghị
một trọng tài quốc tế để phân xử tranh chấp biển Đông,
ít ra tại Hoàng Sa, trong khi nước Pháp đã hai lần đề nghị
trong quá khứ?
Người ta chỉ có thể tìm thấy câu trả lời qua các hành vi
của nhà nước này trong từ thập niên 90, qua vụ Trung Quốc
xâm lấn bãi Tư Chính.
Tháng 5 năm 1992, phía Trung Quốc ký hợp đồng với công ty khai
thác dầu khí Cresston của Hoa Kỳ nhằm khai thác khu vực Vạn An
Bắc, tức khu vực Tư Chính của Việt Nam. Lý lẽ của phía
Trung Quốc là vùng Vạn An Bắc thuộc <em>"vùng nước và thềm
lục địa kế cận các đảo Nam Sa (tức Trường Sa) của Trung
Quốc"</em>. Khu vực này cách bờ biển Vì sao Việt Nam không
kiện Trung Quốc ra một trọng tài quốc tế? 160 hải lý và
cách đảo Hải Nam trên 600 hải lý.
Lý lẽ của Trung Quốc như thế phải hiểu: <em>1/</em> Trung
Quốc có chủ quyền tại Trường Sa. <em>2/</em> Các đảo
Trường Sa có hiệu lực là <em>"đảo"</em> và <em>3/</em> vùng Tư
Chính, tức Vạn An Bắc, là vùng chồng lấn giữa thềm lục
địa bờ biển Vì sao Việt Nam không kiện Trung Quốc ra một
trọng tài quốc tế? với các đảo Trường Sa.
Theo lý lẽ của tổ hợp luật sư Covington & Burling ở Washington
phụ trách bênh vực quyền lợi của Việt Nam. Hồ sơ bãi Tư
Chính được thành hình năm 1995, do Brice M. Claget thuộc tổ hợp
thành lập, mang tên: <em>"Những yêu sách đối kháng của Việt
Nam và Trung Quốc ở khu vực bãi ngầm Tư Chính và Thanh Long
trong biển Đông"</em>. Lập luận của hồ sơ này là:
<em>1/</em> bãi Tư Chính nằm trên thềm lục địa của Việt Nam,
<em>2/</em> các đảo Trường Sa quá nhỏ để có hiệu lực của
<em>"đảo"</em> theo luật Biển 1982 và <em>3/</em> vì vậy không
hề có chồng lấn giữa các đảo Trường Sa với thềm lục
địa Việt Nam.
Ta thấy các nhược điểm trong lập luận của Brice M. Claget là:
<em>1/</em> không xác định chủ quyền của Việt Nam trên các
đảo Trường Sa, không phản đối chủ quyền của Trung Quốc
ở các đảo TS, điều này có thể hiểu ngầm Việt Nam đồng
ý Trung Quốc có chủ quyền tại các đảo này. <em>2/</em> Các
đảo TS quá nhỏ để có hiệu lực của <em>"đảo"</em>. Lý lẽ
này không vững vì yếu tố lớn hay nhỏ của một đảo không
hề được đề cập trong luật Biển 1982. Một đảo có hiệu
lực hay không là do hai việc: <em>a)</em> có thích hợp cho người
sinh sống và <em>b)</em> có một nền kinh tế tự túc.
Tại sao phía Việt Nam chấp nhận lý lẽ của tổ hợp luật sư
trong hồ sơ <em>"Tư Chính"</em> mà không hề có bảo lưu về
chủ quyền của Việt Nam tại TS?
Lý ra, Việt Nam có thể nhân vụ này kiện Trung Quốc ra một
trọng tài quốc tế ít nhất về 3 lẽ : <em>1/</em> khu vực Tư
chính nằm trên thềm lục địa của Việt Nam (theo qui định 200
hải lý tính từ đường cơ bản theo luật Biển 1982. <em>2/</em>
Chủ quyền các đảo mà Trung Quốc gọi là Nam Sa, thực ra là
Trường Sa, từ lâu đã thuộc về Việt Nam. <em>3/</em> Không hề
có việc <em>"chồng lấn"</em> hiệu lực giữa các đảo <em>"Nam
Sa"</em> với thềm lục địa Việt Nam, đơn giản vì các đảo
Trường Sa, mà Trung Quốc tiếm gọi là Nam Sa, thuộc về Việt
Nam.
Mấy ông luật sư của Hoa Kỳ trong tổ hợp Covington & Burling ở
Washington đã <em>"không ngu"</em> như ta tưởng. Vì nếu đưa vấn
đề chủ quyền của Việt Nam tại Trường Sa vào hồ sơ thì
phải thay đổi hoàn toàn các dữ kiện, mà điều quan trọng là
phải chứng minh Việt Nam có chủ quyền tại các đảo này. Làm
việc này thì sẽ gặp một trở ngại lớn lao là phải vô
hiệu hóa các tuyên bố đơn phương (déclaration unilatérale) cũng
như các thái độ mặc nhiên đồng thuận (acquiescement) của nhà
nước CSVN về chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và
Trường Sa trong quá khứ.
Đó là <em>1/</em> tuyên bố 1958 của Phạm Văn Đồng về tuyên
bố hải phận của Trung Quốc. <em>2/</em> Sự im lặng của miền
Bắc Việt Nam năm 1974 khi Trung Quốc xâm lăng các đảo Hoàng
Sa. Sự im lặng này chính là sự đồng thuận ám thị hành
động của Trung Quốc là chánh đáng, Trung Quốc có chủ quyền
ở Hoàng Sa và Trường Sa. Ngoài ra còn có nhiều tuyên bố qua
báo chí hay của các nhân vật lãnh đạo cũng như nhiều hành vi
ám thị đồng thuận khác.
Trong khi việc <em>"kế thừa"</em> di sản Hoàng Sa và Trường Sa
của VNCH thì nhà nước CHXHCNVN đến hôm nay vẫn chưa thực
hiện.
Về vấn đề này, nhiều người cho rằng nhà nước CHXHCHVN là
người thừa kế hợp pháp VNCH. Tuy nhiên không thấy ai đưa ra
các lý lẽ chứng minh.
Phía CS miền Bắc gọi VNCH là <em>"ngụy"</em>, tức là giả,
không phải là một thực thể chính trị. Người ta không thể
kế thừa ở một cái gì đó không thật (ngụy). Vả lại, nếu
có tư cách <em>"thừa kế"</em>, thì theo bộ luật về <em>"kế
thừa"</em> của VN hiện nay, nhà nước CHXHCNVN có thể bị
truất quyền <em>"kế thừa"</em> theo điều 643, khoản a và b.
Điều 643 của bộ luật Dân sự 2005 (hoặc theo Pháp lệnh về
kế thừa trước đó) Người không được quyền hưởng di
sản <em>1.</em> Những người sau đây không được quyền hưởng
di sản: <em>a)</em> Người bị kết án về hành vi cố ý xâm
phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm
trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm
trọng danh dự, nhân phẩm của người đó; <em>b)</em> Người vi
phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di
sản.
Ta thấy khi cộng sản miền Bắc chiếm được miền Nam, một
chính sách trừng phạt dân miền Nam đã được áp dụng liên
tục trong nhiều thập niên. Văn hóa miền Nam bị xem là <em>"văn
hóa đồi trụy"</em>, đã bị xóa bỏ. Hầu hết nhân sự có
liên quan, xa hay gần, đến chính quyền VNCH đều bị trừng
phạt như bắt đi tù, bị truất hữu tài sản, nhà cửa, cả
gia đình bị đuổi đi kinh tế mới. Lính miền Nam bị khinh
miệt gọi là <em>"lính ngụy"</em>, chính quyền miền Nam là
<em>"ngụy quyền"</em>, thậm chí dân miền Nam bị khinh bỉ gọi
là <em>"ngụy dân"</em>. Đến hôm nay, người dân miền Nam vẫn
còn bị trừng phạt. Trên bình diện đầu tư, miền Nam đóng
góp trên ¾ của cải cho cả nước, nhưng về hạ tầng cơ sở
miền Nam không được đầu tư như miền Bắc. Thậm chí, trong
vấn đề giáo dục, miền Nam chỉ được đầu tư một phần
tỉ lệ rất nhỏ so với miền Bắc.
Nhà cầm quyền CSVN, liên tục từ nhiều thập niên, đã
<em>"ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di
sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm"</em> của
người miền Nam. Tư cách gì nhà cầm quyền CSVN lên tiếng đòi
<em>"kế thừa"</em> di sản VNCH ngày hôm nay?
Vì thế ta không ngạc nhiên về các lý lẽ của tổ hợp luật
sư Covington & Burling ở Washington trong hồ sơ: <em>"Những yêu
sách đối kháng của Việt Nam và Trung Quốc ở khu vực bãi
ngầm Tư Chính và Thanh Long trong biển Đông"</em>. Các lý lẽ
của họ hôm nay, theo đúng như lập luận trong hồ sơ:
<em>1/</em> các đảo Trường Sa và Hoàng Sa quá nhỏ để có
hiệu lực của đảo. <em>2/</em> Khẳng định quyền chủ quyền
của Việt Nam trong vùng 200 hải lý (theo đúng qui định ZEE và
thềm lục địa của luật Biển 1982).
Đối với họ chỉ có hai chọn lựa: Việt Nam mất ít hay mất
nhiều. Họ chọn giải pháp <em>"mất ít"</em>.
Đối với tổ hợp luật sư Covington & Burling ở Washington, là
một tổ hợp lừng danh thế giới về Công pháp quốc tế, đã
nhận ra Việt Nam đã mất tố quyền (forclusion – estoppel) tại
Hoàng Sa và Trường Sa. Do đó không thể đứng trên căn bản
<em>"Việt Nam có chủ quyền tại Hoàng Sa và TS"</em> để lập
hồ sơ mà phải dựa trên lập luận <em>"các đảo Trường Sa
và các đảo nhỏ, không thể có ZEE".</em>
Như thế, đối với nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay, Hoàng Sa
và Trường Sa là đã mất.
Sự việc như vậy thì làm sao có thể kiện Trung Quốc ra một
tòa án quốc tế?
Nhưng nhượng bộ này của Việt Namcũng không xong. Chủ trương
của Trung Quốc là "muốn hết". Chủ trương này, nếu Hoàng Sa
và Trường Sa thuộc về họ, là khá phù hợp trên quan điểm
pháp lý. Thỏa mãn Trung Quốc, Việt Nam không phải <em>"mất
ít"</em> hay <em>"mất nhiều"</em> mà là <em>"mất hết"</em>.
Tôi đã viết một số bài, như bài "Chủ quyền của Việt Nam
tại Tư Chính, Vũng Mây", trong đó đả kích đích danh một số
cá nhân có chủ trương của nhà cầm quyền Việt Nam. Người ta
chỉ có thể bảo vệ được quyền lợi chính đáng của dân
tộc chỉ khi nào lý lẽ của mình dựa trên nền tảng đúng.
Lý lẽ <em>"các đảo Trường Sa là các đảo nhỏ do đó không
thể cho chúng vùng ZEE như lãnh thổ đất liền"</em> là không
thuyết phục trên phương diện pháp lý. Đảo lớn hay nhỏ, theo
luật, chúng có tình trạng pháp lý như nhau, như lãnh thổ trên
đất liền.
Tôi chống, tôi đả kích nhưng người này và nhà nước CSVN,
vì tôi thấy có giải pháp khác. Việt Nam <em>"được ít,
được nhiều hay được tất cả"</em> thay vì <em>"mất ít, mất
nhiều hay mất tất cả"</em>.
Làm thế nào thì tôi đã viết giới thiệu trong bài trước.
Cốt lõi của việc này là làm thế nào để kế thừa di sản
VNCH. Đây là một vấn đề thuộc về chính trị. Đảng CSVN có
can đảm chính trị hay không? Có can đảm nhìn nhận VNCH như là
một chế độ đã bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng
Sa và Trường Sa hay không? Có dám phục hồi danh dự và bồi
xứng đáng cho tập thể <em>"ngụy quân, ngụy quyền"</em> mà
họ dã truy bức và trả thù tàn độc trong quá khứ hay không?
Anh làm sao có thể kế thừa được di sản của một người mà
trước đó anh đã đối xử tàn tệ, dã man? Không. Anh có thể
ăn cướp di sản của người này nhưng anh không thể <em>"kế
thừa"</em> di sản của người này được.
Ngoài ra còn thái độ của các học giả Việt Nam hiện nay. Tôi
đã viết, các tài liệu chứng minh chủ quyền của Việt Nam
tại Hoàng Sa và Trường Sa hầu hết đều do các học giả VNCH
viết từ năm 1974. Tôi nhận thấy rằng, các bài viết chứng
minh chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa của
các học giả Việt Nam hôm nay đều không ghi tên các tác giả
VNCH. Việc này cho thấy, các học giả Việt Nam hiện nay cũng
phủ nhận tính chính thống của các học giả VNCH. Các anh cứ
nói ông Trần Văn Hữu tuyên bố thế này thế kia, chính quyền
thực dân, chính phủ Bảo Đại bù nhìn, chính nguyền ngụy
hành sử chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa thế này thế
nọ… Trong khi điều nổi bật của chế độ CSVN là công hàm
Phạm Văn Đồng 1958 cùng các tuyên bố ngu xuẩn khác. Các anh
viết như thế là đã xác nhận tính chính thống của các chế
độ đó nhưng các anh không có can đảm nói ra.
Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc chủ quyền của quốc gia Việt
Nam, của dân tộc Việt Nam. Đó là điều hiển nhiên. Nhà cầm
quyền CSVN chỉ là giai đoạn, trong khi đất nước và dân tộc
là trường cửu. Nhà cầm quyền này không nhìn nhận di sản
của VNCH thì sẽ có chính quyền khác trong tương lai nhìn nhận
nó. Việc này có thể không còn xa lắm.
Trương Nhân Tuấn
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/12823), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét