<div class="boxleft200"><img
src="http://tiasang.com.vn/DesktopModules/VietTotal.Articles/ImageHandlerLarge.ashx?width=190&height=250&HomeDirectory=%2fPortals%2f0%2fVietTotal.Articles%2fChinhtrixahoi%2f&fileName=truong+sa+hoang+sa.jpg&portalid=0&i=4403&q=1"
/><div class="textholder"></div></div>
<strong>Philippines, Malaysia và Brunei đều có luận thuyết riêng
trong tranh chấp các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng
dưới góc độ luật pháp quốc tế, các lý lẽ của Việt Nam
là mạnh mẽ nhất.</strong>
<h2>III. Luận thuyết của các nước khác</h2>
<strong>1) Luận thuyết của Philippines</strong>
Philippines có yêu sách đối với khoảng 60 đảo, đá và bãi
cạn thuộc quần đảo Trường Sa. <em>(1)</em> Yêu sách đầu
tiên được Thomas Cloma, một công dân Philippines, đưa ra vào năm
1947 khi ông tuyên bố phát hiện ra một nhóm đảo, đá nằm
cách bờ Tây đảo Palawan 300 hải lý.
Ngày 17.5.1951, tổng thống Philippines tuyên bố các đảo của
quần đảo Trường Sa phải thuộc về lãnh thổ gần nhất là
Philippines. Tuyên bố này đã bị các nước có liên quan phản
đối.
Mãi đến tháng 3.1956, Thomas Cloma mới tiếp tục việc
<em>"phát hiện"</em> nhóm đảo này. Ông cử một nhóm 40
thủy thủ đổ bộ lên các đảo của quần đảo Trường Sa
với mục đích tiến hành chiếm hữu chính thức. Họ cắm cờ
Philippines lên một số đảo, trong đó có đảo Ba Bình (Itu Aba)
<em>(2)</em>. Ngày 11.5.1956, họ tuyên bố các đảo họ đã chiếm
đóng được đặt tên là Kalayaan (Đất Tự do), còn Thomas Cloma
tự phong mình là Chủ tịch Hội đồng Tối cao Nhà nước
Kalayaan <em>(3)</em>. Tuyên bố này đã bị các nước liên quan
phản đối. <em>(4)</em>
Ngày 15.5.1956, Thomas Cloma gửi thư cho bộ trưởng ngoại giao
của Cộng hòa Philippines thông báo về việc chiếm giữ vùng
lãnh thổ rộng 64.976 dặm vuông ở phía Tây Palawan, nằm ngoài
các vùng nước của Philippines và không thuộc quyền tài phán
của bất cứ nước nào và yêu sách chiếm hữu vùng lãnh thổ
này dựa trên quyền phát hiện và chiếm đóng, đồng thời
gửi kèm theo bản đồ. Tuy tên của các đảo bị thay đổi
hoàn toàn, nhưng bản đồ cho thấy Kalayaan bao gồm phần lớn
các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. <em>(5)</em>
Trong họp báo ngày 19.5.1956, bộ trưởng ngoại giao Philippines
khẳng định rằng nhóm đảo Trường Sa trong đó có đảo Ba
Bình và đảo Trường Sa phải thuộc chủ quyền Philippines vì
chúng nằm gần Philippines nhất. Sài Gòn, Bắc Kinh và Đài Loan
đều phản đối tuyên bố này. Đài Loan có ý định cử thủy
quân đến Trường Sa. Manila lập tức thông báo với Đài Loan
và Việt Nam rằng Philippines chưa có yêu sách chính thức về
chủ quyền đối với vùng lãnh thổ này.
Ngày 6.7.1956, Thomas Cloma lại gửi thư cho yêu cầu chính phủ
Philippines cho Kalayaan được hưởng chế độ bảo hộ. Trong
công văn trả lời T. Cloma, bộ trưởng ngoại giao Philippines cho
rằng ngoài nhóm 7 đảo mà quốc tế gọi là Trường Sa
(Spratly), các đảo khác đều là lãnh thổ vô chủ (terra nulius),
do đó mọi công dân Philippines cũng như công dân các nước khác
đều có quyền tự do khai thác kinh tế và định cư.
Đáp trả <em>"sự kiện T. Cloma"</em>, Việt Nam đã cử
tàu tuần tra đến quần đảo Trường Sa vào tháng 8.1956.
Ngày 1.10.1956 xảy ra cuộc đụng độ đầu tiên giữa hải
quân Đài Loan và nhóm người của T. Cloma ở North Danger Shoal.
Người của T. Cloma bị tịch thu hết vũ khí. Chính phủ
Philippines hoàn toàn không can thiệp.
Vào thời kỳ 1970-1971, các đơn vị thủy quân Philippines theo
lệnh của tổng thống F. Marcos đã chiếm một số đảo của
Trường Sa, trong đó có đảo Thị Tứ, đảo Vĩnh Viễn và South
Rock. Philippines cũng tổ chức tuần tra trên một loạt đảo và
đá nhỏ ở phía Đông Bắc quần đảo. <em>(6)</em> Năm 1971,
Philippines một lần nữa cố chiếm đảo Ba Bình nhưng thất
bại. Chính quyền Philippines phản đối sự chiếm đóng của
Đài Loan với các lý do: <em>a)</em> Philippines có danh nghĩa chủ
quyền dựa trên sự phát hiện của T.Cloma; <em>b)</em> Trung Quốc
chiếm đóng de facto một số đảo nằm dưới sự kiểm soát
của các nước đồng minh mà không cho các nước này được
biết; <em>c)</em> nhóm đảo Trường Sa nằm trong vùng nước
quần đảo của Philippines <em>(7)</em>. Cùng với sự phản đối,
Philippines tăng cường quân số trên các đảo lên 1.000 người.
Một sân bay đã được xây dựng trên đảo Thị Tứ.
Năm 1974 Thomas Cloma chuyển giao <em>"chủ quyền"</em>
Kalayaan cho chính phủ Philippines. Đến thời điểm này,
Philippines kiểm soát 4 đảo. <em>(8)</em>
Năm 1978, Philippines đặt quân đội trên 7 đảo của Trường
Sa. Ngày 11.6.1978, tổng thống Philippines sát nhập 7 đảo này
vào lãnh thổ Philippines bằng sắc lệnh số 15969, sắc lệnh
này đồng thời khẳng định các đảo này <em>"về mặt pháp
lý không thuộc bất cứ quốc gia hay dân tộc nào, giờ đây
phải thuộc về Philippines và nằm dưới quyền tài phán của
Philippines nhờ sự chiếm cứ và quản lý hiệu quả theo đúng
luật quốc tế"</em>. Sắc lệnh cũng quy định vùng đặc
quyền kinh tế 200 hải lý cho các đảo này. <em>(10)</em>
Ngày 14.9.1979, tổng thống Philippines tuyên bố rõ Philippines
sẽ tiếp tục yêu sách chủ quyền đối với 7 đảo họ đang
chiếm đóng chứ không phải toàn bộ quần đảo Trường Sa.
Trong cuộc họp báo này, tổng thống Philippines nhắc lại nhóm 7
đảo này là vùng lãnh thổ chưa có người chiếm đóng, chưa
được biết đến và chưa có người ở, thậm chí chưa được
đánh dấu trên các bản đồ trước Thế chiến II, và
Philippines chiếm cứ chúng như lãnh thổ vô chủ (terra nullius).
Ngày 10.3.2009, Tổng thống Philippines ký ban hành Luật Cộng
hoà 9.522 về đường cơ sở, đưa phần lớn các đảo Trường
Sa vào quy chế đảo của Philippines. Hành động này của
Philippines lập tức bị Việt Nam và Trung Quốc phản đối.
Luận thuyết của Philippines không vững vàng ở chỗ nước
này cho rằng các đảo mà mình chiếm giữ là lãnh thổ vô chủ
và chưa được biết đến, nhưng trên thực tế, chúng thuộc
quần đảo Trường Sa. Ngay cả khi bỏ qua các giai đoạn lịch
sử xa xưa, quần đảo này đã được Pháp chiếm cứ hữu
hiệu từ những năm 1930 (quân đội Pháp có mặt trên đảo
Thị Tứ từ tháng 4.1933) và sau đó trao lại cho Việt Nam khi
Pháp rời khỏi Đông Dương mà không gặp bất cứ sự phản
đối nào từ phía các nước, trong đó có Philippines. Luật
quốc tế cũng không quy định một lãnh thổ phải thuộc về
một quốc gia chỉ vì nằm gần quốc gia đó nhất. Ngoài ra,
việc chiếm đóng và các yêu sách của Philippines đối với
nhóm đảo thuộc quần đảo Trường Sa ngay từ ban đầu luôn
gặp sự phản đối từ phía các nước khác có liên quan, do
đó khó lòng có thể nói đến một sự chiếm cứ hiệu quả
và không có tranh chấp theo đúng các nguyên tắc của luật
quốc tế.
<strong>2) Luận thuyết của Malaysia</strong>
Năm 1978, Malaysia đưa ra yêu sách chủ quyền đối với các
đảo An Bang, Đá Kỳ Vân và đá Công Đo dựa trên cơ sở các
quy định của luật quốc tế về thềm lục địa.
Năm 1979, Malaysia công bố bản đồ trong đó một số đảo
của Trường Sa được đánh dấu là lãnh thổ Malaysia.
Tháng 6.1983, Malaysia chiếm đóng quân sự đảo đầu tiên -
Đá Hoa Lau - trong khu vực yêu sách. Tháng 9.1983, Malaysia chính
thức tuyên bố nước này quyết định chiếm cứ bãi san hô
ngầm James Schoal, Đá Hoa Lau, bãi Kiêu Ngựa, Đá Kỳ Vân và
khẳng định các đảo này nằm trong vùng được gọi là
<em>"vùng kinh tế biển"</em> của Malaysia. Tháng 12.1986, quân
đội Malaysia <em>(11)</em> chiếm đảo Đá Kỳ Vân và Kiêu Ngựa.
Tháng 6.1999, Malaysia mở rộng chiếm đóng ra Đá Én Ca và
bãi Thám Hiểm, nâng tổng số các đảo bãi chiếm đóng của
mình ở quần đảo Trường Sa lên bảy đảo, bãi.
Luận thuyết của Malaysia dựa trên cơ sở các quy định
của luật quốc tế về thềm lục địa. Tuy nhiên, điều 76
Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển ghi rõ: <em>"Thềm
lục địa của một quốc gia ven biển bao gồm <strong>đáy
biển</strong> và <strong>lòng đất dưới đáy biển</strong> bên
ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phần kéo dài
tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến
bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở
dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý, khi bờ ngoài
của rìa lục địa của quốc gia đó ở khoảng cách gần
hơn"</em>, <strong>hoàn toàn không liên quan đến các đảo, đá
nổi lên mặt biển trong vùng thềm lục địa</strong>. Luận
thuyết của Malaysia hoàn toàn không có cơ sở pháp lý. Yêu sách
của Malaysia về chủ quyền cũng không có một cơ sở lịch sử
nào.
<strong>3) Luận thuyết của Brunei</strong>
Brunei chỉ yêu sách chủ quyền đối với đảo Louisa Reef,
với luận thuyết đảo này nằm trong vùng đặc quyền kinh tế
của Brunei. Tuy nhiên, Công ước LHQ về Luật Biển 1982 chỉ
công nhận quốc gia ven bờ có <em>"chủ quyền về việc thăm
dò khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên,
sinh vật hoặc không sinh vật, của vùng nước bên trên đáy
biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như
về những hoạt động khác nhằm thăm dò và khai thác vùng này
vì mục đích kinh tế, như việc sản xuất năng lượng từ
nước, hải lưu và gió"</em>, quyền tài phán trong việc lắp
đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị về công
trình, quyền tài phán trong việc nghiên cứu khoa học biển cũng
như bảo vệ và gìn giữ môi trường biển (điều 56). Việc
yêu sách chủ quyền đối với các đảo chỉ vì chúng nằm
trong vùng đặc quyền kinh tế là một diễn giải sai lệch các
quy định của Công ước. Do đó, luận thuyết của Brunei,
tương tự như trường hợp Malaysia, là thiếu thuyết phục và
không có cơ sở.
Ở đây, một câu hỏi có thể nảy sinh là: Louisa Reef có
phải là một đảo theo qui định của luật quốc tế hay không?
Bởi một quốc gia chỉ có thể tuyên bố chủ quyền và thụ
đắc chủ quyền đối với đảo (vùng đất tự nhiên có
nước bao bọc, khi thủy triều lên vẫn nổi trên mặt nước).
Nếu Louisa Reef là một bãi cạn nửa nổi nửa chìm, Brunei và
các nước khác đều không thể yêu sách chủ quyền
<em>(12)</em>. Khi đó nó sẽ là một phần vùng đặc quyền kinh
tế mà Brunei có thể có các quyền giới hạn như đã nêu trên.
Trong trường hợp này, một vấn đề nữa sẽ phải đặt ra là
vùng đặc quyền kinh tế của Brunei có chồng lấn với vùng
đặc quyền kinh tế mà Việt Nam và Malaysia đòi hỏi hay không.
<h2>IV. Kết luận</h2>
Những phân tích trên đây cho thấy trong tranh chấp các quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa, dưới góc độ luật pháp quốc
tế, các lý lẽ của Việt Nam là mạnh mẽ nhất. Tuy nhiên,
thực tế tranh chấp dai dẳng và phức tạp cũng như ý muốn
của các bên khiến việc giải quyết tranh chấp bằng con
đường pháp lý hiện nay rất khó khăn. Hơn nữa, tranh chấp
các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, vì tính chất phức tạp
của nó, đòi hỏi một giải pháp tổng thể với các yếu tố
pháp lý, lịch sử, chính trị, kinh tế. Mặc dù vậy, theo chúng
tôi, yếu tố pháp lý vẫn là yếu tố quan trọng nhất. Việc
giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông cần rất nhiều nỗ
lực và thiện chí của các bên liên quan, đặc biệt là Trung
Quốc, nước luôn phản đối việc đưa tranh chấp Hoàng Sa và
Trường Sa ra trước tòa án quốc tế bất chấp nhiều lần
đề nghị của Việt Nam.
<strong>Nguyễn Thái Linh</strong>
____________________
<strong>Chú thích</strong>:
1. Michael Hindley, James Bridge, <em>"South China Sea: the Spratly and
Paracel Islands Dispute"</em>, The World Today, London, vol.50 (June 1994),
tr.111
2. Quốc Tuấn, <em>"Nhận xét về các luận cứ của Trung
Hoaliên quan tới vấn đề chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa"</em>, Tập san Sử Địa số 29, Sài Gòn 1975
3. Jan Rowinski, sđd
4. Lee G. Cordner, <em>"The Spratly Island dispute and the Law of the
Sea"</em>, Ocean Development and International Law, Washington D.C.,
vol.25, 1994, trang 62
5. Samuels Marwyn S., sđd
6. Jan Rowiński, sđd
7. Lee G. Cordner, sđd
8. International Herald Tribune, số ngày 28.3.1974
9. Kuang-Minh Sun, <em>"Dawn in the South China Sea? A Relocation of the
Spratly Islands in an Everlasting Legal Storm"</em>. South African Yearbook
of International Law, University of South Africa, vol.16, 1990/91
10. Lee G. Cordner, sđd
11. Jan Rowiński, sđd
12. Xem các phán quyết của Tòa án Công lý Quốc tế về tranh
chấp giữa Quatar và Barhan
(http://www.icj-cij.org/docket/files/87/7029.pdf ) và chủ quyền đói
với đảo South Ledge trong tranh chấp giữa Malaysia và Singapore
(http://www.icj-cij.org/docket/files/130/14506.pdf )
<strong>Tài liệu tham khảo:</strong>
1. Wójciech Góralczyk, Stefan Sawicki, Đại cương công pháp quốc
tế, Warszawa, Wydawnictwo Prawnicze LexisNexis, 2007.
2. Các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và luật pháp quốc tế,
sách trắng của Bộ Ngoại giao Việt Nam, 1988
3. Jaseniew Vladimir, Stephanow Evginii, Biên giới Trung Quốc: từ
chủ nghĩa bành trướng truyền thống đến chủ nghĩa bá quyền
hiện nay, Moscow, 1982
4. Jean-Pierre Ferrier, Le conflit des iles Paracels et le problème de la
souveraineté sur les iles inhabitées, Annuaire francais de droit
international, vol.21, 1975
5. Monique Chemillier-Gendreau, Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa, Hà Nội, 1998
6. Beauvois Marcel, Les archipels Paracels et Spratley, Vietnam Press
nr.7574, ngày 27.11.1971
7. Rowiński Jan, Biển Đông, khu vực tiềm tàng tranh chấp ở
châu Á, Warszawa, 1990
8. Samuels Marwyn S., Contest for the South China Sea, New York, 1982
9. Nguyễn Hồng Thao, Luật quốc tế và chủ quyền trên hai
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Viện Luật Kinh tế biển
Monaco, 2000
10. Lee G. Cordner, The Spratly Island dispute and the Law of the Sea, Ocean
Development and International Law, Washington D.C., vol.25, 1994
11. Phạm Hoàng Quân, "Tây Sa và Nam Sa trong sử liệu Trung
Quốc", tạp chí mạng Talawas ngày 11.12.2007
(http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=11697&rb=0302)
12. Kuang-Minh Sun, "Dawn in the South China Sea? A Relocation of the
Spratly Islands in an Everlasting Legal Storm", South African Yearbook of
International Law, University of South Africa, vol.16, 1990/91
13. Lacoste Yves, "Mer de Chine ou Mer de l'Asie du Sud-Est", Herodote,
Paris 1981
14. Dương Danh Huy, <em>"Trong chiến tranh 54-75, có một hay hai
quốc gia Việt Nam trên hai miền Bắc, Nam"</em>, trang web Quỹ
Nghiên cứu Biển Đông ngày 9.11.2011
(http://www.seasfoundation.org/articles/from-members/1288-trong-chin-tranh-54-75-co-mt-hay-hai-quc-gia-tren-hai-min-bc-nam
)
15. Từ Đặng Minh Thu, <em>"Chủ quyền trên hai quần đảo
Hoàng są và Trường Sa"</em>, tạp chí Thời Đại Mới, số 11,
tháng 7/2007.
16. Michael Hindley, James Bridge, <em>"South China Sea: the Spratly and
Paracel Islands Dispute"</em>, The World Today, London, vol.50 (June 1994)
17. Quốc Tuấn, <em>"Nhận xét về các luận cứ của Trung Hoa
liên quan tới vấn đề chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa"</em>, Tập san Sử Địa số 29, Sài Gòn 1975
18. Lee G. Cordner, "The Spratly Island dispute and the Law of the Sea",
Ocean Development and International Law, Washington D.C., vol.25, 1994
19. Kuang-Minh Sun, <em>"Dawn in the South China Sea? A Relocation of the
Spratly Islands in an Everlasting Legal Storm"</em>. South African Yearbook
of International Law, University of South Africa, vol.16, 1990/91
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/12814), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét