quen. Quen vì khi tách ra thành những từ riêng biệt, chúng vô
cùng gần gũi với mọi người. Còn lạ là vì sự kết hợp
này có vẻ chưa thật nhuyễn, nói chưa quen miệng, nghe chưa quen
tai. Song, đây là một khái niệm có vai trò quan trọng trong khoa
học. Dẫu vẫn bị một số nhà chính trị thiển cận ở Việt
Nam nghi ngại, nhưng đã đến lúc chúng ta cần công khai nói về
điều này.
<h2>Đi tìm nguồn gốc và xác định nội dung khái niệm "Giá
trị chung nhân loại"</h2>
Khi làm việc và suy nghĩ hàng ngày, trong tôi luôn luôn tồn tại
những ý nghĩ về giá trị, có khi rất chung, có lúc rất cụ
thể. Hàng chục năm nay, khi nghiên cứu, viết bài, giảng dạy,
trong đầu tôi thường hiển hiện những giá trị lớn, có tính
phổ quát cao nhưng chưa được gọi lên thành tên, thành khái
niệm, nghĩa là chúng chưa có "vỏ" ngôn ngữ trong tiếng
Việt. Tuy vậy, chúng luôn ở trong tôi, làm cơ sở cho tư duy
của tôi. Điều đó diễn ra trong thực tế suốt một thời gian
dài. Khi được biết Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh dự
định tổ chức Hội thảo với chủ đề "Khoa học xã hội
thời hội nhập", tôi suy nghĩ và cho rằng, đã đến lúc cần
gọi tên chúng ra, tôi gọi đó là "Giá trị chung nhân
loại".
Có lẽ, tôi không phải là người đầu tiên nghĩ ra và sử
dụng cụm từ "Giá trị chung nhân loại" trong tiếng Việt.
Đây cũng không phải lần đầu tiên tôi sử dụng. Tôi đã sử
dụng cụm từ này trong một số bài viết vào cuối những năm
tám mươi của thế kỷ trước, khi tôi còn công tác tại Tạp
chí Cộng sản. Nhưng lúc đó tôi sử dụng theo cảm tính, chưa
thấy hết sự phong phú, đa dạng, đa diện của khái niệm này.
Có thể ở đâu đó, lúc nào đó trong thời gian gần đây,
những ai đó đã sử dụng cụm từ này rồi. Tôi muốn đi tìm
nguồn gốc và hiểu thấu đáo về khái niệm này. Vào Internet,
tìm đến Google.com, gõ tiếng Việt "Giá trị chung nhân
loại", trên màn hình máy tính hiện lên dòng chữ: "Có phải
bạn muốn tìm: Giá trị trong nhân loại?". Tôi thử lại
nhiều lần, kết quả vẫn thế. Chỉ đến khi đưa cụm từ
"Giá trị chung nhân loại" và trong ngoặc kép ("…") thì
mới xuất hiện vài ba kết quả có cụm từ "Giá trị chung
nhân loại" liên quan đến Nhật Bản, Ucraina, Nhà văn Nguyễn
Quang Sáng".
Như vậy có nghĩa là cụm từ "Giá trị chung nhân loại"
trong tiếng Việt chưa được nhắc tới nhiều trong thời gian
gần đây. Do đó, việc truy tìm nguồn gốc, xác định nội dung
cụm từ này như một khái niệm là điều cần thiết.
Muốn hiểu thế nào là "Giá trị chung nhân loại", trước
hết phải tìm hiểu "Lý thuyết giá trị". Đây là lĩnh vực
được nghiên cứu khá rộng rãi và kết quả cũng khá dồi
dào. Tuy nhiên, việc tồn tại những quan điểm về giá trị
khác nhau là điều không tránh khỏi.
Từ "Lý thuyết giá trị" đến việc công nhận "Giá trị
chung nhân loại" là một quá trình khó khăn, không đồng nhất
ở nhiều trung tâm, nhiều trường phái khoa học khác nhau. Song,
có một điều cần thấy rõ: Hầu như không có nhà khoa học
nào phủ nhận có những giá trị có tính phổ quát cao, khiến
tất cả mọi người đều phải công nhận. Đó là: <em>Điều
thiện, Cái đẹp, Tình yêu thương, Tự do, Bình đẳng, Lương
thiện, Khoan dung…</em>
Các học giả phương Tây có nhiều công trình nghiên cứu về
giá trị, nhất là giá trị con người. Trong tiếng Anh, có
những cụm từ: "The Origins of Universal Human Values", "All
Human Values", "Whole Human Values", "Common Human Values" … có
nghĩa khá giống với cụm từ "Giá trị chung nhân loại"
trong tiếng Việt, nhưng cũng không có cụm từ nào có ý nghĩa
tương đương trùng khít. Hơn nữa, cách hiểu và cách sử dụng
của những tác giả lại khác nhau.
Ví dụ, Wendell Bell – Giáo sư Đại học Yale University cho rằng:
Nhiều dân tộc trên thế giới cũng đề cao các giá trị:
Quyền riêng tư; Đối xử với người khác như mong muốn họ
đối xử với mình; Tôn trọng cuộc sống, Thân thiện với
thiên nhiên, Có lòng vị tha…
Ở Tây Âu có tổ chức Internatianal Association for Human Values
(IAHV) đóng trụ sở tại Geneve (Thuỵ Sỹ) đặt ra mục đích:
"To foster on a global scale, a deeper understanding of the values that us
as human commynity" (Thúc đẩy nhận thức sâu hơn những giá
trị trên phạm vi toàn cầu". Những giá trị đó là: The innate
dignity of human life (Xứng đáng với đời sống con người tốt
đẹp bẩm sinh); Respect and consideration for the "other" (Tôn
trọng và công nhận giá trị của những "người khác"; The
interconnection between humankind and thus the need to care for and preserve
the earth (Mối liên quan giữa xã hội và thiên nhiên, nhu cầu
quan tâm và bảo vệ trái đất); The importance of integrity and
service (Tầm quan trọng của sự thống nhất và hỗ trợ lẫn
nhau); An attitude of non-violence (Ýchí tránh bạo lực); The
individual and collective quest for peace and happiness (Khát vọng của
cá nhân và tập thể vương tới hoà bình và hạnh phúc)
Trong tiếng Nga có cụm từ "Общая человеческая
ценность" có ý nghĩa gần như trùng khít với "Giá trị
chung nhân loại" trong tiếng Việt. Nhưng các học giả người
Nga lại cho rằng, họ cũng không biết ai là tác giả, cũng như
nguồn gốc ra đời của cụm từ này. Họ cho rằng cụm từ
"Общая человеческая ценность" được sử
dụng nhiều trong thời kỳ "Cải tổ" với người khởi
xướng là Gorbatrov ( Lúc đó là Tổng Bí thư Đảng cộng sản
Liên Xô, Tổng thống Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô
viết). Tuy nhiên, họ chỉ ra rằng, cụm từ này có từ trước
đó rất lâu. Trong Đại từ điển bách khoa toàn thư của Liên
Xô, hay Từ điển bách khoa toàn thư văn học xuất bản từ
những năm ba mươi của thế kỷ XX đã nói đến những giá
trị chung nhân loại. Ví dụ, "Trong xã hội cổ đại, những
giá trị chung nhân loại đã được tạo ra. Triết học, văn
chương, hội hoạ, kiến trúc phát triển ở trình độ cao đã
đạt đến những giá trị này".
Các học giả người Nga cũng khẳng định: Cụm từ
"Общая человеческая ценность" không có ý
nghĩa tương đương trùng khít với tiếng Anh, tiếng Pháp,
tiếng Đức…, nghĩa là họ cho rằng, "Общая
человеческая ценность" cũng được các học giả
phương Tây quan tâm, nghiên cứu, nhưng cách nhìn nhận của họ
có đôi chút khác biệt với cách nhìn nhận của người Nga. Và
cụm từ "Общая человеческая ценность" trong
tiếng Nga không có nguồn gốc, hay không được "dịch
thẳng" từ ngôn ngữ nào đó của các nước châu Âu.
Sau khi Liên Xô sụp đổ, có một thời gian người Nga cũng ít
đề cập tới "Giá chung nhân loại", nhưng gần đây họ xem
"Giá trị chung nhân loại" có ý nghĩa rất quan trọng trong
đời sống, là cơ sở để định hướng nhiều hoạt động
trong xã hội, xây dựng nhiều chương trình quan trọng, trong đó
có chương trình giáo dục.
Một học giả người Nga N. G. Sevostjanova muốn khái quát "Giá
trị chung nhân loại" bằng lời lẽ như sau:
<em>Giá trị chung nhân loại là một hệ thống những giá trị
có tính phổ quát mà nội dung của chúng không liên quan trực
tiếp, không phụ thuộc vào bất cứ giai đoạn cụ thể nào
của phát triển lịch sử, hay truyền thống xã hội của một
dân tộc nào cụ thể, nhưng lại tích hợp trong mỗi truyền
thống văn của mỗi dân tộc bằng ý nghĩa cụ thể, và được
tái hiện trong bất kỳ loại hình văn hoá nào với tư cách
chất lượng của giá trị.</em> (Có thể đọc toàn bộ văn
bản ở địa chỉ http:// fil.vslovar. org.ru)
Có thể xem đây là định nghĩa về "Giá trị chung nhân
loại" của một người đưa ra. Do vậy, sự chính xác và dễ
hiểu của nó còn hạn chế. Nhưng nó cũng đã cung cấp cho
chúng ta những ý niệm về những giá trị chung nhân loại.
Có nhiều cách phân loại những giá trị chung nhân loại. Trong
tự nhiên: Đó là những khoáng sản có ích, cây cối, vẻ đẹp
thiên nhiên, sông núi, ruộng đồng…; Trong đời sống xã hội,
có thể chia ra nhiều lĩnh vực. Trong chính trị: hoà bình, tự
do, dân chủ, bình đẳng…, Trong văn hoá - đạo đức: danh dự,
lương tâm, trách nhiệm…; Trong khoa học: chân lý; Trong tôn
giáo: niềm tin; Trong văn học - nghệ thuật: cái đẹp, cái cao
cả, sự hoàn mỹ…
Tuy nhiên, để đại bộ phận quần chúng công nhận những giá
trị chung nhân loại cụ thể, các nhà lý luận, các nhà khoa
học còn rất nhiều việc phải làm.
<h2>Thuyết phục mọi người công nhận "Giá trị chung nhân
loại" trên thực tế</h2>
Dù có đưa ra những định nghĩa về "Giá trị chung nhân
loại" thế nào đi chăng nữa cũng khó mà bao quát toàn bộ
nội dung của khái niệm này. Những nghiên cứu, phân loại
"Giá trị chung nhân loại" trong các tác phẩm, các công trình
khoa học của các học giả nước ngoài khá nhiều, nhưng họ
cũng chỉ mới đưa ra những giá trị quen thuộc và dừng lại
ở dạng tổng thể, trừu tượng như: <em>Cái đẹp, Điều
thiện, Chân lý, Niềm tin, Lương tâm, Danh dự, Dân chủ, Bình
đẳng…</em> Những giá trị này ai cũng công nhận, nhưng không
ai "cầm nắm" được chúng trong tay.
Từ xưa đến nay, trong nhiều trường hợp, những giá trị chung
nhân loại thường được nhìn nhận dưới góc độ chính trị.
Do xem nặng ý nghĩa chính trị của các loại giá trị nên chúng
ta rất khó thống nhất với nhau, vì lợi ích và quan điểm
của các quốc gia trong lĩnh vực này thường là khác nhau. Đặt
giá trị chung nhân loại dưới góc nhìn khoa học mới có thể
đi đến thống nhất quan điểm được. Giá trị chung nhân
loại có cả trong lĩnh vực khoa học, tôn giáo, đạo đức, văn
học, nghệ thuật… và cả kinh tế nữa. Ví dụ, cơ chế hoạt
động của kinh tế thị trường là một trong những giá trị
chung nhân loại. Dẫu nhiều nhà khoa học chỉ ra rằng, nền kinh
tế thị trường chưa hoàn hảo, vẫn còn những khiếm khuyết
lớn, nhưng đến nay vẫn chưa ai nghĩ ra loại hình kinh tế tốt
hơn; những quy luật của nó vẫn phát huy tác dụng mạnh mẽ
ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.
Cần phải khẳng định: Dẫu thế nào thì trên thế giới cũng
tồn tại những giá trị được tất cả mọi người, bất kể
mang quốc tịch gì, theo tôn giáo nào đều công nhận. Đó chính
là những giá trị chung nhân loại. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng
lại ở những lời lẽ chung chung như vậy, khó mà thuyết phục
được ai. Hơn nữa, mỗi người có quan điểm riêng, cách nhìn
nhận, đánh giá riêng nên rất có thể nhiều người không công
nhận những giá trị chung nhân loại đó có giá trị với họ.
Vậy phải tìm cách đơn giản nhất, dễ hiểu nhất, thuyết
phục nhất để chỉ ra rằng, những giá trị chung nhân loại
đã và đang tồn tại trong cuộc sống của chúng ta. Để
thuyết phục mọi người công nhận có "Giá trị chung nhân
loại", cần chứng minh đơn giản, đi từ những điều cụ
thể nhất.
Xin bắt đầu bằng cách chọn lĩnh vực văn học, nghệ thuật
để làm điều này. Xin nêu những tác giả, tác phẩm cụ thể
luôn. Trên thực tế, hầu như dân tộc nào cũng say sưa thưởng
thức tác phẩm Iliad, Odyssay của Homer; King Lear, Hamlet, Romeo and
Juliet của Shakepeare;Người con gái viên đại uý, Evgheni Onegin
của Pushkin; Phục sinh, Chiến tranh và Hoà bình của Tolstoi.
Thậm chí người ta còn chỉ ra rằng, trong những ngày ác liệt
nhất của cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, người Nga đọc
tác phẩm của các nhà văn Đức; người Đức đọc tác phẩm
của những nhà văn Nga. Đây là những ví dụ hùng hồn cho
việc có những tác phẩm văn học đã đạt tới tầm giá trị
chung nhân loại; chúng vượt qua được mọi rào cản về sắc
tộc, tôn giáo, thời đại. Người dân thuộc bất cứ dân tộc
nào, theo tôn giáo gì đi chăng nữa cũng say mê đọc những tác
phẩm này. Hay những tác phẩm điêu khắc, hội hoạ từ thời
cổ đại Hi Lạp – La Mã, thời Phục Hưng hay các trường phái
lãng mạng, hiện thực thế kỷ thứ XIX là những tuyệt tác mà
tất cả mọi người đều thừa nhận.
Bằng cách đi từ văn học nghệ thuật, lấy những tác giả,
tác phẩm cụ thể, chúng ta có thể thuyết phục mọi người
công nhận sự tồn tại của những giá trị chung nhân loại.
Khi đã có sự công nhận về nguyên tắc ban đầu thì việc
công nhận những giá trị tiếp theo là điều tất yếu. Thậm
chí có những lĩnh vực chứa đựng những giá trị chung nhân
loại một cách hiển nhiên. Nếu trong lĩnh vực khoa học xã
hội, những giá trị chung nhân loại đang được hình thành và
bàn cãi thì những giá trị chung nhân loại ở khoa học tự
nhiên đã được xác lập từ lâu và tiếp tục được làm
giàu ở các lĩnh vực toán học, vật lý, hoá học, địa chất,
sinh vật…
Bản chất của những giá trị chung nhân loại thuộc lĩnh vực
tinh thần không nằm ở chỗ có khát vọng vượt trội của
một hệ thống giá trị đối với những giá trị còn lại, mà
chúng nằm ở chỗ hình thành những mối quan hệ tương hỗ
lẫn nhau trong việc công nhận ưu tiên những lợi ích của toàn
xã hội đối với lợi ích của từng nhóm riêng biệt.
<h2>Vai trò của những giá trị chung nhân loại trong thế giới
hội nhập</h2>
Dù vẫn còn những sự khác biệt về cách hiểu những giá trị
chung nhân loại giữa các trường phái học thuật trên thế
giới, nhưng sự tồn tại của những giá trị này là có thực,
được đông đảo các nhà nghiên cứu công nhận. Điều quan
trọng là chính những giá trị này đã và đang đóng vai trò
quan trọng trong đời sống quốc tế. Từ những thoả thuận
giữa các quốc gia đến các chiến dịch của cứu trợ của
các tổ chức phi chính phủ đều có sự tác động của những
giá trị chung nhân loại. Không phải ngẫu nhiên, công dân
của các nước châu Âu, châu Mỹ đến châu Á, châu Phi để
chữa bệnh cho người già, trẻ em. Cũng không phải ngẫu nhiên,
các nước phát triển viện trợ không hoàn lại và cho vay vốn
ưu đãi để các nước kém phát triển hơn xây dựng hạ tầng
cơ sở của mình.
Những tổ chức quan trọng của thế giới như Liên hợp quốc,
UNESCO cũng được ra đời và phát triển trên cơ sở công nhận
những giá trị chung nhân loại. Và ngày nay, chính những tổ
chức này lại góp phần quan trọng vào việc đánh giá và tạo
ra những giá trị chung nhân loại thông qua việc làm trung gian
hoà giải, giải quyết mâu thuẫn giữa các quốc gia, công nhận
những di tích thiên nhiên, văn hoá, lịch sử có giá trị vô
cùng lớn lao trên toàn cầu.
Hiểu được vai trò và ý nghĩa của những giá trị chung nhân
loại, con người sẽ trở nên cân bằng hơn, ít tham lam hơn,
quan tâm hơn đến người khác. Trong phát biểu của những
người nổi tiếng trong lĩnh vực khoa học công nghệ và kinh
doanh như Steve Jobs (vừa quá cố), Bill Gates, Larry Page đều có
điểm chung là họ hiểu và tôn trọng những giá trị chung nhân
loại. Do hiểu rất rõ những giá trị chung nhân loại nên
nhiều người giàu có trên thế giới giành tiền bạc và thời
gian để đi làm từ thiện.
Tuy nhiên, ở phía ngược lại, chúng ta thấy vẫn cón nhiều
người tham lam, gian ác; muốn áp đặt ý chí của mình lên trên
tất cả, muốn những người khác phải phục tùng, đặt mục
tiêu kiếm tiền lên trên hết… Oái oăm thay, điều này lại
thường xẩy ra trong thế giới của chúng ta, nhất là ở những
nước nghèo và rất nghèo. Lợi ích nhóm hiện đang là một
trong những tác nhân gây nên sự cách biệt rất lớn về giàu -
nghèo trong xã hội.
Nêu lên như vậy để chúng ta thấy rằng, những giá trị chung
nhân lạo là có thật, chúng đã được người công nhận và
tôn trọng; chúng đã đặt nền móng cho sự phát triển của
nhân loại tiến bộ. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận, một
số thế lực chưa hiểu, hoặc cố tình không muốn hiểu, không
chịu thừa nhận giá trị chung nhân loại, vì thế vẫn còn
những mâu thuẫn, những bất đồng, những xung đột. Việc
đề cao và phổ biến những giá trị cung nhân loại vẫn đòi
hỏi rất nhiều nỗ lực ở con người.
<h2>"Giá trị chung nhân loại" và người Việt Nam</h2>
Nếu nhìn từ góc độ những giá trị tuyệt đối như: Cái
thiện, Cái đẹp, Đạo đức, Lương tri... thì ông cha ta xưa kia
cũng không xa lạ gì với những giá trị chung nhân loại. Thậm
chí, những gia trị này đã thành đạo lý của dân tộc ta từ
lâu. Dân tộc Việt Nam tồn tại và phát triển qua hàng ngàn
năm lịch sử, xét cho cùng là dựa trên nến tảng những giá
trị chung nhân loại.
Tuy nhiên, trong lịch sử hiện đại, nhất là trong thời kỳ
"chiến tranh lạnh" trên thế giới và "chiến tranh nóng"
ở Việt Nam, không có điều kiện thuận lợi để bàn luận
cũng như công nhận những giá trị chung nhân loại, nhất là
những giá trị đó lại được tạo ra ở những quốc gia thù
địch.
Vì phải tiến hành chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo
vệ Tổ quốc, người Việt Nam đã sống nhiều năm trong những
hoàn cảnh khá đặc biệt, không dễ gì công nhận những cái
hay, cái tốt, cái đẹp ở phía kẻ thù. Mà một khi đã không
công nhận thì, nếu không phủ nhận thì ít ra cũng không nói
tới những điều này, không ca ngợi chúng.
Thời chiến tranh, Liên Xô cung cấp cho ta máy bay MIC 21, nhìn
thấy máy bay, có cán bộ cao cấp của ta nói: "Máy bay thì
tốt, thì đẹp thật đấy, nhưng hình dáng của chúng giống
máy bay của Mỹ quá. Các đồng chí Liên Xô là xã hội chủ
nghĩa, sao lại làm giống máy bay của chủ nghĩa đế quốc?!".
Các chuyên gia Liên Xô buộc phải giải thích: "Dựa vào những
nguyên tắc vật lý, chính xác là khí động học, muốn máy bay
bay nhanh, buộc chúng phải tuân thủ một số nguyên tắc nhất
định. Những người chế tạo máy bay của Mỹ và của Liên Xô
đều biết những nguyên tắc này, tuân thủ nó. Kết quả là
hình dạng máy bay chiến đấu của hai nước giống nhau".
Kiểu tư duy như cán bộ cao cấp của Việt Nam vào thời điểm
đó không phải là cá biệt. Suy nghĩ và hành động theo quan
điểm chính trị - tư tưởng, bất chấp những nguyên lý khoa
học nhằm phục vụ cho mục đích trước mắt là chỉ ra sự
khác biệt giữa ta và kẻ thù. Trong điều kiện như vậy, khó
có diễn đàn cho việc lý giải và khẳng định những giá trị
chung nhân loại.
Chỉ đến cuối những năm tám mươi của thế kỷ trước, khi
nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, chúng ta mới có ý
thức tìm đến những giá trị chung nhân loại một cách công
khai. Nhà triết học Trần Đức Thảo bao nhiêu năm "im hơi,
lặng tiếng", lúc này mới lại thấy xuất hiện. Trước
hết, ông có những buổi nói chuyện chuyên đề, sau có những
bài viết đăng báo. Một số bài báo của ông đăng trên Sài
Gòn giải phóng (Số ra ngày 24/4/1988) Về quan điểm triết học
của sự đổi mới, của sự cải tổ có tính cách mạng",
hay trên Tạp chí Cộng sản (Số 1 – 1991) có ảnh hưởng lớn.
Nguyễn Đức Thảo viết trong tác phẩm Một hành trình (được
hoàn thành năm 1986): "Khi tự đối diện với chính mình, ý
thức đòi hỏi cái Thiện trong hành động, cái Chân trong tri
thức và cái Mĩ trong sự hoàn thành các quá trình sống trải,
qua đó, ý thức biến thế giới tự nhiên thành một Nhân
giới, xứng đáng với con người".
Có thể nói Nhà triết học Trần Đức Thảo đã khơi nguồn
cho tư duy tiếp cận những giá trị chung nhân loại cho chúng ta
vào thời điểm lúc bấy giờ. Từ đó đến nay, nhiều nhà khoa
học ở các trung tâm lớn của đất nước như Hà Nội, TP. Hồ
Chí Minh, Huế, Đà Nẵng… đã có những đóng góp nhất định
nhằm thúc đẩy tư duy sáng tạo trong các bộ môn khoa học xã
hội. Tuy vậy, những thành quả chúng ta đạt được vẫn khá
khiêm tốn và còn nhiều hạn chế.
Thậm chí cho đến ngày nay, nhiều người Việt Nam vẫn nhìn
nhận những giá trị chung nhân loại với cái nhìn vừa khiên
cưỡng, vừa dè dặt. Theo dõi các kỳ họp Quốc hội, nhất là
kỳ họp thứ hai của Khoá XIII, khi thảo luận về Dự luật
Biểu tình và Dự luật Lập hội, một số đại biểu tỏ ra
không hiểu hoặc không công nhận những giá trị chung nhân
loại quan trọng như quyền được biểu tình, quyền được
lập hội, nghĩa là những quyền cơ bản thuộc về quyền con
người. Cụ thể, Đại biểu Hoàng Hữu Phước cho rằng, dân
trí của Việt Nam còn thấp, chưa đủ điều kiện để ban hành
Luật biểu tình. Còn Đại biểu Đặng Ngọc Nghĩa cho rằng,
không cần Luật biểu tình vì "chế độ xã hội chủ nghĩa
dân chủ gấp vạn lần chế độ tư bản" .
Như vậy là một số người có trách nhiệm tham gia trực tiếp
vào quá trình lập pháp lại có ý muốn tước bỏ trên thực
tế một số quyền quan trọng như quyền biểu tình, quyền lập
hội. Trong khi đó, những quyền này không chỉ là nhu cầu thực
tiễn của xã hội mà nó gần như là chuẩn mực của thế
giới về quyền tự do của con người. Nêu hiện tượng và
vấn đề này lên để chúng ta thấy rằng, khoa học về luật
pháp ở Việt Nam còn rất nhiều vấn đề phải làm.
Để hội nhập thành công (không bị loại trừ, cũng như không
bị đồng hoá), chúng ta còn phải nỗ lực rất nhiều, đặc
biệt là những nhà khoa học xã hội. Khác với khoa học tự
nhiên và khoa học cơ bản, khoa học xã hội có mối quan hệ
mật thiết và liên quan chặt chẽ với chính trị - tư tưởng.
Vì vậy nó bị chính trị - tư tưởng can thiệp và chi phối là
điều đương nhiên. Ngược lại, nó cũng có cơ hội để tham
gia trực tiếp vào hoạt động chính trị, tư tưởng, ngoại
giao, thương mại…
Có lẽ chúng ta cần phải có một cuộc hành trình khá dài nữa
mới có thể tiếp cận và "tiêu hoá" được những giá trị
chung nhân loại đã trở nên khá phổ biến trên thế giới.
Qua các kỳ thi đại học và cách chọn nghề của học sinh trong
những năm gần đây, ta thấy các ngành khoa học xã hội đang
gặp khó khăn. Đây có lẽ cũng là đặc điểm của thời kỳ
đầu phát triển kinh tế thị trường: Khi các mối quan hệ
thị trường mới được xác lập, người ta ưu tiên cho những
hoạt động trực tiếp tạo ra giá trị vật chất. Nhưng khi
cái ăn, cái mặc tạm đủ, con người có nhu cầu cao hơn về
tinh thần. Lúc này vai trò của các ngành khoa học xã hội sẽ
được nâng cao. Bây giờ đang là lúc thúc đẩy nhanh quá trình
hội nhập của Việt Nam vào đời sống quốc tế. Đây chính
là cơ hội lớn cho tất cả các lĩnh vực, trong đó có khoa
học xã hội.
Trong quá trình hội nhập với thế giới, có lẽ các ngành khoa
học xã hội gặp khó khăn nhiều hơn so với các ngành khoa học
cơ bản, tự nhiên, công nghệ. Nhưng có lẽ những khó khăn này
không làm làm các nhà khoa học xã hội Việt Nam nản chí. Hy
vọng họ sẽ tìm hêm được những sức mạnh từ những giá
trị chung nhân loại để tiếp tục công việc của mình một
cách say mê hơn, hào hứng hơn.
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/10966), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét