như một mô thức phát triển</h2>
Vấn đề xuống cấp văn hoá và nếp sống hiện nay đã lan
rộng đến mức báo động đỏ, khắp nơi đã có rất nhiều
người lên tiếng cảnh báo thống thiết. Theo tôi thì đây
không phải chỉ là sự suy thoái riêng rẽ và đơn thuần về
đạo đức, văn hoá mà thực sự bắt nguồn từ cái mô thức
phát triển tổng thể đã quy định sự suy thoái thuộc các
lĩnh vực này. Tính chất trầm trọng của sự xuống cấp văn
hoá đó cũng chính là ý nghĩa phá sản trầm trọng của một
mô thức phát triển mang tính chất lịch sử mà chúng ta đã
chọn và cũng vì vậy vấn đề đặt ra ở đây sẽ là vấn
đề đi tìm nguyên nhân phá sản về mặt lịch sử của mô
thức đó. Tôi có một bài viết đặt vấn đề một cách
tương tự [<em>xuất hiện trên Diễn Đàn, số 27,
01.02.1994</em>], tham gia một đề tài nghiên cứu do trung tướng
Trần Độ đảm nhận cách đây gần 20 năm, nay xem lại thấy
vẫn còn có những điều thích hợp nên nhân dịp này xin tóm
tắt tinh thần bài viết đó vào vài điểm, có thêm một vài
ý bổ sung.
<center>* * *</center>
Trước hết, tôi cho rằng trong việc quyết định con đường
phát triển của đất nước, chúng ta đã có một sự ngộ
nhận trầm trọng khi đồng nhất khái niệm "chủ nghĩa xã
hội" mà chúng ta đã chọn lựa vào thời cách mạng giải
phóng dân tộc với nội dung khái niệm "xã hội chủ nghĩa"
mà chúng ta coi là hình thái kinh tế xã hội cần xây dựng để
đưa đất nước vào con đường hiện đại hoá. Logic của
vấn đề ở đây là: <em><strong>công cụ A giúp chúng ta hoàn
thành nhiệm vụ A thì nó cũng sẽ giúp chúng ta hoàn thành
nhiệm vụ B.</strong></em> Logic này cũng là cơ sở của luận
điểm của Lenin về phong trào giải phóng dân tộc: phong trào
này là một bộ phận của phong trào chống tư bản, đế quốc
do quốc tế vô sản lãnh đạo nên sau khi dựa vào quốc tế vô
sản hoàn thành cách mạng dân tộc rồi thì phải tiến lên
xây dựng ngay chủ nghĩa xã hội, không thông qua giai đoạn phát
triển tư bản để tiếp tục sự nghiệp chống đế quốc do
quốc tế vô sản lãnh đạo.
Có thể trong điều kiện lúc bấy giờ, chúng ta có nhiều lý do
để xác tín vào sự chọn lựa ấy, nhưng những gì diễn ra
về sau đã chứng minh rằng cái logic ấy không phù hợp thực
tế. Bản chất của hai phạm trù – <span
class="underlined-text">giải phóng dân tộc</span> và <span
class="underlined-text">phát triển xã hội</span> – là khác nhau
hoàn toàn. Khái niệm "chủ nghĩa xã hội" mà chúng ta chọn
trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc là khái niệm
chỉ về chỗ dựa thực tế của một lực lượng ngoại tại.
Chỗ dựa này tuy gọi là "phe xã hội chủ nghĩa" nhưng lại
có nội dung đặc thù về lý luận lẫn lịch sử của một
thực thể chính trị cụ thể, gọi là Đệ tam Quốc tế, lúc
bấy giờ được cách mạng Việt Nam coi như cái "cần
thiết", cho cuộc đấu tranh – và do hoàn cảnh đặc biệt
của Việt Nam, cuộc chiến đấu chống xâm lược của chúng ta
có phần phù hợp với sự chọn lựa đó, nghĩa là nghiêng về
việc dùng bạo lực cách mạng để cướp chính quyền, nên có
người đã nói ở đâu đó – hình như nhà văn Nguyên Ngọc –
rằng sự chọn lựa đó chỉ mang tính chất tình thế, một
chọn lựa "cực chẳng đã", chứ không phải và cũng không
thể xem là một chọn lựa một lần cho mãi mãi, như một chân
lý.
Tất cả nhưng khó khăn triền miên mà chúng ta gặp phải trong
xây dựng sau khi đã hoàn thành cuộc đấu tranh giành độc lập
và thống nhất chính là do chúng ta đã vẫn cứ xem việc chọn
lựa mang tính chất tình thế ấy như một chọn lựa tuyệt
đối, vĩnh viễn, giống như một người sau khi mò mẫm đi tìm
đã nhận được của trời một cái <em>cẩm nang thần kỳ</em>,
hễ mỗi lần gặp khó khăn, mở ra là giải quyết được mọi
việc trên đời. Thực tế đã cung cấp nhiều bằng chứng cho
biết sự chọn lựa của chúng ta không phải là một cái cẩm
nang thần kỳ, và sự huyễn hoặc của sự thần kỳ này không
thể viện dẫn " lập trường", "lòng tin" hay sự "trung
thành" … mà bảo vệ được. Đây là một vấn đề vừa
học thuật vừa thực tế mà xét cả hai mặt này, cái mô thức
mà chúng ta gọi là "chủ nghĩa xã hội", ban đầu là một
cương lĩnh xây dựng trực tiếp, sau này chuyển thành một
"định hướng" tiến lên lại không tìm được cơ sở nào
để tự biện minh về tính chất nghiêm chỉnh và khả thi của
nó, dù cho nó có được giải thích như thế nào, vận dụng
cách nào đi nữa, bao lâu đi nữa.
Chúng ta thường cho là "khoa học" khi coi chủ nghĩa
"Mác-Lênin" như cái kim chỉ nam tất yếu dẫn đất nước
đi về tương lai tươi đẹp gọi là "xã hội xã hội chủ
nghĩa", nhưng phân tích đến cùng về mặt lý luận, chúng ta
thấy việc dựa vào những biện pháp của Lenin để thực hiện
các mục tiêu do Marx đề xuất chỉ tạo ra kết quả ngược
lại với chính viễn cảnh xã hội tươi đẹp mà Marx đã hình
dung, ấy là chưa nói đến việc khi phân tích đến nguồn gốc
bản thân học thuyết Marx chúng ta đã có đủ luận cứ để
chứng minh rằng đến lượt nó, học thuyết về tương lai
tươi đẹp này cũng chỉ là kết quả logic hình thành từ một
giấc mơ triết học, nhất là khi lại giao sứ mạng thực hiện
cho một chủ thể hư ảo là "giai cấp vô sản". Đó hoàn
toàn không phải là xu thế phát triển của thời đại, cũng
không phải là quy luật sinh thành của lịch sử như chúng ta
đã ngộ nhận và thuyết minh mà chỉ là những phản ứng chính
đáng nhưng lại mang tính mộng ảo của những người trí thức
bức xúc trước những bất công gay gắt của chủ nghĩa tư
bản thời sơ khai mà cũng là thời kỳ chủ nghĩa tư bản
đồng hoá với chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc.
Đem những luận điểm mộng ảo về lý tưởng đó ra thực
hiện, và lại thực hiện bằng biện pháp toàn trị của một
guồng máy quyền lực tự cho mình là đại diện duy nhất cho
sự minh triết về Lịch sử, tất sẽ dẫn đến một hậu
quả kỳ quặc mà Marx gọi là sự "phóng chiếu lộn
ngược", khái niệm này Marx sử dụng để chỉ sự kiện lý
tưởng của trường kinh tế cổ điển khi áp dụng vào thực
tế đã đi ngược lại những nguyên lý do bản thân nó đặt
ra. Với mô thức gọi là "chủ nghĩa xã hội" ở Việt Nam,
hiện tượng đó cũng lặp lại: tất cả đều diễn ra ngược
lại với cái mục tiêu mà chúng ta coi là lý tưởng khi đem
thực hiện sau khi đã thanh toán xong chủ nghĩa thực dân.
Về mặt kinh tế, mô thức đó không dẫn đến giàu sang, sung
mãn mà chỉ có thiếu thốn, nghèo nàn; đường lối xây dựng
đặt trên chủ nghĩa duy ý chí chỉ tạo ra những quyết sách
quan liêu, ảo tưởng, tuỳ tiện, nên không hề có phát triển
vì động lực phát triển đã bị huỷ diệt. Về chính trị,
những khẩu hiệu gọi là "do dân, vì dân, của dân" vốn là
cơ sở của các cuộc cách mạng dân chủ đích thực, đã trở
thành những hứa hẹn mị dân thô lậu, đem ra tuyên truyền
chỉ mang lại những hiệu ứng phản tác dụng. Xã hội công
dân với những quyền dân sự tối thiểu đã bị đẩy vào
"thế giới ngầm" bất hợp pháp và đất nước thì bị
quản lý như một trại lính. Nhà nước mệnh danh "đầy tớ
của nhân dân" thực chất là một hình thái Nhà nước-đảng,
tập hợp từ ý chí chủ quan của một thiểu số tự lập và
tự giam mình trong những giáo điều phản hiện thực, cô lập
với đông đảo xã hội, duy trì sự tồn tại của mình bằng
cách áp đặt một cung cách quản lý bằng mệnh lệnh từ trên
rót xuống theo kiểu chiến tranh, một chiều, độc đoán. Kết
quả: không có phát triển mà cũng không có dân chủ và công
bằng.
Người ta không thể không đặt ra câu hỏi: tại sao đất
nước lại chọn con đường này, đó có phải là con đường
tất yếu? Có rất nhiều câu trả lời xuất phát từ nhiều
quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng mọi việc đã bắt
đầu từ Đại hội Tours, năm 1920, khi Nguyễn Ái Quốc chuyển
hướng từ chủ trương canh tân ôn hoà của Phan Châu Trinh sang
con đường cách mạng cực đoan của Đệ tam Quốc tế. Cũng
có ý kiến muốn lấy năm 1923 làm cột mốc giải thích khúc
quanh cho số phận của Việt Nam khi Nguyễn Ái Quốc từ giã môi
trường hoạt động khuynh tả ở nước Pháp dân chủ để sang
Nga hội nhập vào mô thức chuyên chế kiểu phương Đông.
Tất cả đều có lý do để biện luận, tuy vậy theo nhận
định của nhiều người khác thì chính xác nhất có lẽ phải
kể đến thời điểm 1949 khi cách mạng Trung quốc thành công
nhờ đó Việt Nam tìm được một căn cứ địa trực tiếp,
lâu dài, làm chỗ dựa vững chắc để củng cố và đẩy mạnh
cuộc kháng chiến chống thực dân, nhưng cũng từ cái cột mốc
thời gian "cần thiết" sinh tử với độc lập dân tộc đó
mà cách mạng Việt Nam, dưới nhiều hình thức, đã tạo điều
kiện cho sự du nhập vào tổ chức của mình một hệ tư
tưởng tệ hại nhất trong những hệ tư tưởng gọi là "xã
hội chủ nghĩa" phản Marx nhưng vẫn nhân danh Marx để giải
phóng loài người – đó là chủ nghĩa Mao, một thứ chủ nghĩa
Stalin "mang đặc điểm Trung quốc".
Bằng những cuộc chỉnh huấn tư tưởng, nếu chủ nghĩa Mao
đó đã bơm được máu đen vào cơ thể Đảng Việt Nam thì về
mặt xã hội, bằng khuyến dụ những cuộc tàn sát truy bức
mệnh danh "đấu tranh giai cấp", "cải cách ruộng đất",
nó đã đào bới đến tận gốc rễ nền văn hoá truyền
thống của dân tộc – bằng cách đưa lên hàng chính diện các
nhóm đân cư hạ đẳng nhất của xã hội, biến các tầng lớp
này thành lực lượng nồng cốt thực hiện đường lối xây
dựng "xã hội mới" theo mô thức Mao, đồng thời khuấy lên
từ đáy sâu của lịch sử dân tộc các tính chất cặn bã
nhất của con người là sự ngu dốt, cơ hội, ti tiện, hẹp
hòi, thù hận… biến chúng thành hệ giá trị làm nền cho
mọi hoạt động tinh thần mà dấu tích vẫn còn hằn sâu vào
đời sống văn hoá của đất nước cho đến ngày nay, chưa
biết đến bao giờ mới gột sạch được.
<center>* * *</center>
Cần phải nói thêm điều quan trọng khác về sự ngộ nhận
trên đây là sự ngộ nhận đó vẫn không hề chấm dứt khi,
trước sự khủng hoảng và bất lực của mô thức cũ, chúng ta
buộc phải thay đổi chỉ đạo chiến lược về phát triển
nhưng lại nhằm mục đích tạo cho hình thái kinh tế xã hội
đã chọn một số thuộc tính mới cốt chỉ để duy trì cho
được con đường đi lên mệnh danh "chủ nghĩa xã hội"
trong điều kiện "phe xã hội chủ nghĩa" đã sụp đổ,
bằng cách khai sinh ra chủ trương gọi là "đổi mới".
Nguồn gốc của đường lối này thật sự không mới lắm. Nó
đã bắt nguồn từ NEP của Lenin: nắm vững chuyên chính của
Đảng-Nhà nước – tôi không dùng khái niệm "chuyên chính vô
sản" vì chẳng thấy có chút gì gọi là vô sản trong cấu
trúc của thực thể Đảng-Nhà nước do Lenin lập ra cả – cho
phép một bộ phận tư sản trước đây bị cấm đoán nay
được hoạt động trở lại để giải quyết sự bế tắc
của hình thái gọi là "xã hội chủ nghĩa thời chiến",
thực chất là thứ chủ nghĩa xã hội phản mác xít tư biện,
không tưởng và giáo điều.
Thực sự thì theo chiến lược cách mạng quen thuộc của Lenin,
"chính sách mới " đó chỉ là thủ thuật chính trị áp
dụng vào kinh tế gọi là lùi một bước để chuẩn bị tiến
lên hai bước. Cốt tuỷ của vấn đề ở đây là sử dụng có
kiểm soát thật nghiêm nhặt khu vực tư bản tư nhân để hỗ
trợ cho hình thái chủ nghĩa tư bản nhà nước đang được xây
dựng vốn là thực chất của danh xưng "chủ nghĩa xã hội"
theo mô thức Lenin. Vì thế mô thức này, những nhà nghiên cứu
phương Tây về sau đã hoàn toàn có lý khi gọi là chủ nghĩa
Lenin-thị trường (market-Leninism) và cho rằng những gì mà Việt
Nam (hiển nhiên có cả Trung quốc) áp dụng hiện nay vẫn xuất
phát từ một phiên bản gốc.
Để giải quyết những khó khăn do thứ chủ nghĩa xã hội giáo
điều và không tưởng gây ra sau những năm cải tạo triệt
tiêu nền sản xuất hàng hoá, một bộ phận lãnh đạo của
Đảng (đặc biệt ở miền Nam) đã cho phép "bung ra" với
số một số thể nghiệm "xé rào" cục bộ hướng về mô
thức nói trên từ 1979, nhưng phải đợi đến sau 1986 với ảnh
hưởng của chính sách perestroika, kế đến là sự sụp đổ
của Đông Âu và Liên xô thì mới hình thành rõ rệt như mô
thức "đổi mới" đúng nghĩa, và diễn ra trên phạm vi toàn
quốc.
Lý luận về "bước lùi" thoả hiệp tạm thời của Lenin ở
đây đã bị đẩy xa hơn nhiều lần về khoảng cách: kinh tế
thị trường ngày càng được xác lập đồng bộ hơn qua sự
hợp tác với thế giới tư bản, của cải xã hội xuất hiện
phong phú do các nguồn đầu tư và nhập cảng từ bên ngoài,
xã hội thoát khỏi tình trạng chia đều sự nghèo đói trầm
kha thời kỳ mệnh danh là "quan liêu bao cấp". Giai cấp trung
lưu tư sản dựa vào hoạt động kinh tế của nhà nước đã
xuất hiện trở lại, tuy còn yếu ớt nhưng đã trở thành một
thực thể quan trọng, xã hội công dân cũng từ đó được
phục hồi đóng vai trò chủ động nhiều hơn cho sinh hoạt
nhiều mặt của cộng đồng, một số quyền tự do dân sự,
chủ yếu trong lĩnh vực đi lại, làm ăn, học tập đã được
nới lỏng hơn nhiều so với trước đây.
Nhưng để quản lý tình trạng mới này, nhân danh sự ổn
định chính trị, nhân danh chủ trương kiên trì tìm đường
"tiến lên chủ nghĩa xã hội", các nhà ý thức hệ của
Đảng vẫn bám chặt vào hệ tư tưởng đã chọn từ thời
chiến tranh chống thực dân – trải qua nhiều lần nhào nặn
đã thấm đẫm nội dung bị maoít hoá –, với những phạm trù
lý luận quen thuộc, mòn sáo, lạc lõng, hoàn toàn bị những
diễn biến mới của thực tế phủ định (như chuyên chính vô
sản, truyền thống cách mạng, xu thế tất yếu của thời
đại, sự tất yếu của chủ nghĩa hội, sở hữu công cộng
về tư liệu sản xuất, quốc doanh là chủ đạo, sở hữu toàn
dân về đất đai v.v…), bất khả thi hoàn toàn nhưng vẫn
được sử dụng cho mục đích duy trì tính chính danh đã quá
mòn mỏi, suy yếu của Đảng, bằng những thủ đoạn gò ép
giả tạo (gọi là điều tiết) buộc sự vận hành của kinh
tế thị trường phải khuôn nắn theo những chính sách được
quy định bởi những phạm trù lý luận giáo điều nói trên,
và cũng chính vì vậy mà cản trở cuộc sống xã hội phát
triển tự nhiên theo hướng cần phải có, cho nên xét trên
tổng thể, mô thức phát triển gọi là "đổi mới" này,
bên cạnh kết quả tích cực về vật chất, đã làm phát sinh
những phản ứng chống trả của thực tế, biểu hiện trên
bình diện nếp sống và văn hoá một cách tiêu cực và cực
đoan như mọi người đều biết.
Các phương tiện truyền thông đã nói nhiều, nhưng tập trung
nhất có lẽ phải kể đến hiện tượng bùng nổ – mang tính
bù trừ sau một thời kỳ lâu dài các nhu cầu bị đè nén –
của một thứ chủ nghĩa vật chất, mang màu sắc chụp giật
dung tục, trắng trợn chưa từng có trên đất nước, lan tràn
như một bệnh dịch, lau lách xâm nhập vào toàn bộ các ngõ
ngách của đời sống (kể cả những lĩnh vực được coi là
thiêng liêng cao quý), nổi bật nhất là khu vực công quyền
với vai trò " đầu têu" của những tiết mục tiêu cực
gây tai tiếng làm rúng động công luận, thể hiện qua cả
những quyết sách đặt nền trên sự thống soái của cái mà
có người đã đặt tên là "chủ nghĩa GDP", cặp theo đó là
một thứ chủ nghĩa khác gọi là "chủ nghĩa thành tích vĩ
cuồng", đua đòi chơi trội, ngông nghênh, cùng với thái độ
liều lĩnh trong sự nhũng lạm, bòn rút, phung phí của công,
trắng trợn, tràn lan, bất chấp mọi hậu quả làm băng hoại
môi trường tự nhiên và môi trường đạo đức.
Được thôi thúc bởi sự "điều tiết và lãnh đạo" của
các cơ quan "cầm cân nẩy mực" đó, toàn bộ xã hội đã
lao vào cuộc chạy đua cuồng điên tìm kiếm và tích tụ tiền
tài, của cải bằng mọi cách, hiệu nghiệm nhất có lẽ là
những thủ đoạn luồn lách để cấu kết với công quyền,
chưa nói đến việc lao vào bất cứ tội ác man rợ nào có
thể thực hiện, bất cứ hành vi phi pháp nào có thể nghĩ ra.
Một thứ công thức mới dường như đã định hình giúp con
người nhanh chóng đi tìm sự thăng tiến cho đời sống vật
chất hiện nay: không có tiền thì dùng bạo lực hoặc sự phi
pháp để kiếm tiền, đã có tiền rồi thì dùng tiền mua
quyền lực để kiếm thêm tiền vì quyền lực ngày nay cũng
đã trở thành cái có thể đem bán để kiếm tiền… Tiền
kiếm được theo công thức đó vì thế không thể không đi
liền với sự chà đạp lên nhân cách, với sự bất lương,
với tội ác hoặc dẫn đến tội ác. Không biết chính xác
đến mức nào nếu như chúng ta nói rằng đặc trưng của đời
sống văn hoá hiện nay là như thế! Và tình trạng ấy đã
diễn ra trên khắp mọi vùng miền của đất nước, không từ
một xó xỉnh nào!
Khi nhắc đến các hiện tượng nhức nhối này, chúng ta
thường thấy xuất hiện các ý kiến đổ lỗi cho cái gọi là
"mặt trái của kinh tế thị trường" hoặc do sự xâm nhập
của "văn hoá phương Tây" khi đất nước mở cửa. Tất cả
đều có, nhưng cần chú ý rằng, trừ những kẻ theo thuyết
tôn giáo toàn thống hoặc những đệ tử trung thành với chủ
nghĩa Stalin, ngày nay không ai dám xác quyết sự xấu xa có tính
bản chất của thị trường và văn hoá phương Tây cả. Những
mặt tiêu cực của các hiện tượng văn hoá này là có thực
nhưng vì được quản lý bằng một nền pháp quyền thích
hợp, tồn tại chung với những xu hướng khác, chúng không có
điều kiện để trở thành phổ biến, trùm lấp như ở nước
ta.
Cũng không thể quy mọi điều tệ hại đã kể trên vào cái
phạm trù gọi là "tội ác của cộng sản" một cách khái
quát như nhiều kẻ theo chủ nghĩa chống cộng thích nói bừa,
vì cho đến nay chưa bao giờ thấy xuất hiện trên hành tinh
này một hình thức xã hội cộng sản nào đúng theo định
nghĩa của nó cả, trong khi đó nếu có những thứ "cộng
sản" có thể gây ra tội ác thật sự thì đó chỉ có thể
là những thứ mang tên cụ thể như Stalin, Mao Trạch Đông,
Pôn Pốt hoặc gì gì đó thôi. Mà giả sử các thứ gây ra
tội ác này tự nhân danh hoặc được quy cho là "cộng sản"
thì những thứ gọi là "tôi ác" ấy, chúng ta có thể khẳng
định như đinh đóng cột rằng chúng không hề bao gồm những
cuộc rượt đuổi một cách điên cuồng theo đồng tiền!
Rốt cuộc thì đối với vấn đề suy thoái đạo đức, văn
hoá ở Việt Nam hiện nay thiết nghĩ chúng ta không thể đem các
thứ cộng sản hoặc tư bản trừu tượng ra giải thích mà
phải tìm đến sự giao thoa và cộng hưởng của hai cơ sở lý
luận "dỏm" dẫn xuất từ những nguồn gốc đó: đó là
thứ chủ nghĩa cộng sản mạo danh, biến thái cùng với cái
mặt trái của nó là thứ chủ nghĩa tư bản sơ kỳ, man rợ!
Để hai thứ này riêng ra chúng sẽ đi theo con đường của
chúng mà tiết ra nhưng độc tố riêng biệt, nhưng khi để
chúng kết lại với nhau thì chúng sẽ quyện lại thành một
thứ chủ nghĩa thực dụng sùng bái quyền lực do vật chất
mang lại, có sức tàn phá đặc biệt ghê gớm với bất cứ
những gì cản trở đường đi của nó: trong khi đưa lên bàn
thờ con bò vàng và sử dụng những thủ đoạn chính trị tàn
độc và dối trá nhất để bảo vệ ngẫu tượng đó, nó cũng
nhân danh những mục tiêu thực dụng trước mắt để hạ bệ
mọi cung cách ứng xử trung thực, trong sáng trước cuộc sống,
làm tan chảy tất cả những ý thức phản kháng chính đáng
trước bất công, giam vào tù ngục mọi lý tưởng lành mạnh,
mọi khát vọng tự do của con người … Đó là một hình thái
cực đoan nhất của chủ nghĩa hư vô về đức lý.
<center>* * *</center>
Trước tình hình xuống cấp tinh thần trầm trọng đó, mà sự
tiếp cận đã được quy về cái mô thức phát triển cấu
thành bởi hai hình thái kinh tế xã hội mang tính chất ý
thức hệ tiêu cực và lạc hậu như đã phân tích ở trên thì
việc trả lời cho câu hỏi "làm gì" trước thực trạng
chắc sẽ có thiên hướng tìm đến cái logic sau đây như một
tất yếu: phải tách rời hai hình thái ấy ra, không cho chúng
cấu kết với nhau để nhân lên sự độc hại, rồi sau đó
trong hai thứ ấy, tuỳ theo quan điểm, ta sẽ chọn lấy một,
cái này hoặc cái kia, loại trừ những phần độc hại trong
cái mô thức đã bị làm cho biến dạng, sửa đổi, canh tân và
phục hồi lại các nguyên lý thuần nhất của nó, trau chuốt
cho nó có hiệu quả hơn để áp dụng vào thực tế. Chắc hẳn
đề nghị ấy sẽ bị không ít người cho là giả tưởng,
nhưng chúng ta vẫn thấy trong thực tế không ít người nêu ra
qua nhiều hình thức khác nhau.
Chúng ta đều nghe biết trong hàng ngũ thuộc thành phần
"lương đống" một thời của Đảng, có không ít vị đã
phản ứng quyết liệt cái đường lối gọi là "đổi
mới" hiện nay, cho rằng Đảng đã sai lầm khi từ bỏ các
nguyên lý của chủ nghĩa xã hội để chạy theo tư bản, và
chính vì vậy mới làm cho mọi việc rối tung lên. Nhưng làm sao
để phục hồi lại một Đảng cộng sản kiên trì được thứ
chủ nghĩa xã hội kiểu trước đây thì ngoài mấy khái niệm
cũ được nhắc lại, không thấy ai nói rõ phải vận dụng như
thế nào. Tốt nhất có lẽ là lập ra một Đảng cộng sản
"đích thực" hơn để làm đối trọng với cái Đảng cộng
sản lôm côm hiện nay, nhưng chắc chắn là không dám đề nghị
vì sợ bị kết cho cái tội "chủ trương đa đảng". Chúng
ta cũng đọc thấy trên mạng trường hợp một vị quan lớn,
hét ra lửa một thời, thậm thụt bày tỏ ý định rủ một
số đồng chí trẻ đi lập chiến khu để làm lại tất cả,
vì bây giờ mọi thứ đã hỏng hết rồi, nhưng rồi cũng
chẳng thấy động tịnh gì cho đến khi chết. Tôi nghĩ mặc dù
hoang tưởng nhưng mấy vị này không hoàn toàn vô lý: thứ chủ
nghĩa xã hội cổ lỗ mà họ ôm ấp tuy có độc tài, trì trệ,
nghèo đói, cả ác độc nữa nhưng mọi thứ đều răm rắp
đâu vào đó, tứ bề yên ổn, chay tịnh, chứ đâu có lộn
xộn như thứ "chủ nghĩa xã hội thị trường" bây giờ!
Cứ nhìn sang Bắc Triều Tiên mà xem!
Xu hướng muốn trở về "đích thực" này hiện nay đã yếu
đi và được thay bằng cái ngược lại, ồn ào hơn: nhiều
người (trong đó có cả những đảng viên) đã mạnh dạn lên
tiếng, hoặc là góp ý chân thành hoặc là công kích quyết
liệt sự thiếu nhất quán của Đảng khi cứ duy trì khẩu
hiệu sọc dưa gọi là "thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa", cho rằng Đảng đang ra sức đêm ngày "xây
dựng" một thứ chủ nghĩa tư bản nào đó để kiếm đô-la
cho phe cánh và gia đình nhưng vẫn cứ gào thét mấy chữ
"chủ nghĩa xã hội" để hù doạ người khác và như vậy
là không ổn: hãy bỏ cái đuôi ấy đi cho nó đàng hoàng về
phương diện lý luận và cả thể diện nữa. Xét về logic thì
lý lẽ của các vị này không sai, nhưng điều khiến nhiều
người không coi là nghiêm chỉnh lắm là trong vài trường hợp,
do thái độ vồn vã quá đáng của họ với các thứ lý thuyết
lên gân về chủ nghĩa tự do: nghe sự thuyết minh của các vị
ấy chúng ta tưởng như họ đang mang về từ đâu đó một cái
cẩm nang thần kỳ mệnh danh tư bản để thay thế cho cái cẩm
nang thần kỳ mang tên cộng sản ngày xưa!
Tôi cho rằng cả hai hướng suy nghĩ trên đây là không thích
hợp và chẳng giải quyết được gì. Cái mô thức gọi là
chủ nghĩa xã hội mà Đảng coi như cương lĩnh xây dựng thời
trước đổi mới đã chết hẳn rồi, có vùng vằng thương
tiếc thì chỉ tốn nước mắt vô ích. Ngược lại, nếu có
những ai cứ nhất định muốn cột thực tế hiện nay vào cái
mô thức cũ ấy để chửi cộng sản (và chửi luôn cả ông
Marx nữa) thì chẳng khác gì tung cú đấm vào một bóng ma. Còn
cái chế độ tư bản kiểu Mỹ, kiểu Đức, Nhật hoặc Na-uy
mà nhiều người trong chúng ta thường nhắc đến với nỗi
thèm muốn quay quắt, đó cũng chỉ là những viễn tưởng cho
tương lai, còn bây giờ thì tất cả đều là của người khác,
dù mình có trú ngụ ở những nơi ấy thì cũng là xứ sở của
người khác, không thể dựa hơi người khác để lên mặt kênh
kiệu làm oai với người nhà. Cũng đừng quên rằng đất
nước thời "đổi mới", so với người ta, tuy còn lạc
hậu nhưng cũng đã đi vào hội nhập, và bản thân mô thức
"đổi mới" cũng chỉ là kết quả của một thời kỳ quá
độ; xuất hiện từ những tiền đề nào đó, nó cũng đang
tạo ra những điều kiện mới để chuyển động.
Từ những gì đã trình bày, xét từ nội tại, tôi cho rằng
vấn đề quan trọng nhất, đáng đặt ra nhất hiện nay là
thực hiện một tổng kết về cuộc đổi mới trên 20 năm qua
với tư cách là một mô thức phát triển quá độ, trong đó
quan trọng nhất là phải nhận ra cho được cái điểm nút sinh
tử của nó là sự đối kháng huỷ diệt của tăng trương kinh
tế đối với phát triển văn hoá. Nhìn vấn đề từ yêu cầu
hài hoà, toàn cục, bền vững và "vì con người", như
người ta thường nói, thì cái mô thức mệnh danh "đổi
mới" nói trên rõ ràng đã không còn phù hợp nữa: trong khi
tạo ra một số của cải vật chất để đẩy lùi tình trạng
nghèo khổ khan hiếm do thứ chủ nghĩa xã hội giáo điều,
không tưởng cũ gây ra, trong khi buộc phải đổi thay theo thời
thế để cứu nguy một định chế chính trị đang rơi vào
khủng hoảng, bên cạnh một số mặt thành công không thể phủ
nhận, mô thức đó cũng tạo ra quá nhiều hỗn loạn và mất
mát trong lĩnh vực tinh thần, phá vỡ lòng tin của con người
về những giá trị nhân văn phổ biến, về niềm tự trọng
dân tộc chính đáng, xâm hại đến cả lợi ích tối thượng
của quốc gia.
Các biện pháp mà Nhà nước sử dụng bấy lâu để đối phó,
gọi là tuyên truyền, giáo dục, răn đe, trừng trị… đã tỏ
ra vô hiệu, một phần vì không triệt để nhưng do bất lực
là chính; các biểu hiện băng hoại về lối sống, các tệ
đoan xã hội, các hình thức tội ác… mà nguyên nhân chủ yếu
là cuộc thác loạn vì chủ nghĩa vật chất như đã được
nhấn mạnh nhiều lần, ngày một tăng "đô", ngày càng liều
lĩnh, ngang nhiên, thách thức. Không chỉ tạo ra cái bầu khí
bất an gây kinh hãi thường trực cho người lương thiện,
ảnh hưởng xấu đến mọi hoạt động giáo dục, văn hoá, kinh
tế, môi trường mà trong tình hình mới hiện nay, thứ triết
lý tham lam, chạy theo lợi ích nhất thời và vô trách nhiệm,
không màng đến hậu quả lâu dài, cũng đang trở thành một
chất xúc tác tâm lý lót đường cho những toan tính xâm nhập
của chủ nghĩa bành trướng Đại Hán phương Bắc, như đang
diễn ra gần đây, ai cũng nhận thấy.
Phát khởi một hình thức vận động giống như một cuộc
cách mạng tinh thần vào lúc này, có thể sẽ bị xem là quá
nhạy cảm. Nhưng dù vậy trước tình hình băng hoại đáng báo
động về văn hoá như hiện nay, nếu không dấy lên được
một phản ứng thức tỉnh quyết liệt của cộng đồng để
cảnh giác và tìm phương cách đối phó, thì nguy cơ rơi vào
một hình thức lệ thuộc kiểu thực dân mới nào đó về văn
hoá, hoặc một cái gì tương tự tinh vi hơn, không thể loại
trừ là không xảy ra. Điều đó khiến chúng ta không khỏi suy
nghĩ thêm về tình cảnh của đất nước vào những năm tháng
này: phải chăng vấn đề mất nước mà chúng ta tưởng đã
không còn đặt ra nữa sau ngày thống nhất, nay lại lấp ló
hiện ra, lần này không còn đến từ phương Tây nữa mà giống
như cả ngàn năm trước, lại từ phương Bắc. Có thật thế
không? Dù sao thì trong bất cứ hoàn cảnh nào, trước bất cứ
nguy cơ nào, mọi người đều có thể chia sẻ một cách thật
bức xúc sự cần thiết phải vun đắp lại một trạng thái
tinh thần lành mạnh và cường tráng cho các tầng lớp nhân
dân, qua đó tích tụ thành một tiềm năng văn hoá tích cực,
để khi cần thiết sẽ hiện thể thành những ứng phó thích
hợp với những thử thách mới trong tương lai. Đối với phần
việc này, những người lãnh đạo đất nước phải là những
người nhận lãnh trách nhiệm trước tiên: cùng với bao nhiêu
phần việc khác, công cuộc phát triển kinh tế mà họ đang
điều hành phải góp phần tạo ra những điều kiện thuân lợi
để củng cố thêm tinh thần đó chứ không thể làm ngược
lại.
Từ ý hướng đó mà nhìn lại thì rõ ràng mô thức phát triển
mệnh danh "đổi mới" cho đến nay đã không làm tròn được
chức năng nói trên, do vậy cái chính sách nửa vời đó đã
đến lúc cần phải chấm dứt – và mọi người phải có
nhiệm vụ tạo áp lực cho nó sớm chấm dứt – để chuyển
sang một mô thức phát triển có chất lượng tích cực hơn,
phù hợp hơn với hoàn cảnh mới của xã hội và lịch sử.
Nội dung của mô thức này ra sao, sẽ được hình thành như
thế nào, làm sao để thực hiện, là những vấn đề lớn lao,
có lẽ không phải là chỗ để bàn luận ở đây, bản thân
tôi cũng không dám lạm bàn. Tuy vậy do đã xuất phát từ một
tiền đề nhấn mạnh tính mô thức của một đường lối phát
triển tổng thể, tôi trộm nghĩ nếu mình được phép đưa ra
mấy nhận xét như sau thì cũng không có gì không thuận chiều
về mặt logic: trong nỗ lực đi tìm mô thức mới thay thế,
vực dậy đời sống tinh thần cho xã hội, nếu không thanh toán
cho được cơ sở lý luận cho phép người ta dựa vào các
phạm trù ý thức hệ lỗi thời để thiết lập chính sách
quốc gia, coi đó đã là những quyết định tối hậu, từ
trên áp xuống, dựa vào những lợi ích nhất thời, cục bộ
coi là giá trị để theo đuổi, cứ thế mà thực hiện, bất
chấp hậu quả, bất chấp lòng dân thì cái giá phải trả,
trong tình hình mới, không phải chỉ diễn ra như cũ, cũng
không chỉ trên phương diện văn hoá mà có thể dẫn tới
những tác hại quan trọng, không lường trước được, về
mọi mặt đối với sự an nguy của đất nước.
<center>* * *</center>
Với những phần nghiêng lệch về tiêu cực như đã phân tích,
chủ trương "đổi mới" với tư cách là một mô thức phát
triển, rõ ràng đã không còn lý do để tiếp tục nữa. Một
cách có ý thức và chủ động, nó phải được chuyển sang
một mô thức mới dựa trên những nguyên tắc mới về lý
luận và văn hoá, dân chủ hơn, hiện đại hơn. Như giáo sư
Trần Văn Thọ khi phân tích về viễn cảnh phát triển của
thế giới và đất nước, đã tìm thấy đủ lý do để đưa
tiễn nó về quá khứ. Vì: "đã qua một thời đổi mới
rồi!" (Diễn Đàn, 14.01.2009). Tôi cũng nghĩ như vậy và cho
rằng không có gì phải bịn rịn, do đó thiết tưởng cũng
không cần phải viết cho nó một lời ai điếu nào cả!
21.11.-2010
L.P
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/7195), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét