Đỗ Kim Thêm – Tìm hiểu về khái niệm nhà nước pháp quyền tại Đức (1)

Để khởi đầu cho công cuộc đổi mới về kinh tế, Việt Nam
đã đề cao hai khái niệm quan trọng, nhà nước pháp quyền và
kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cho
đến nay, hai khái niệm này dù đã được triển khai nhưng vẫn
chưa giải đáp thỏa đáng như nhiều người mong đợi. Đây là
một nan đề cần được đặt ra và thảo luận nghiêm chỉnh
hơn. Vấn đề mà giới học thuật luôn quan tâm theo dõi là
Việt Nam cần phải hiểu thế nào về hai khái niệm này. Trong
khi chờ đợi những công trình nghiên cứu hoàn chỉnh ra đời,
bài viết này xin được góp một phần nhỏ vào công việc tìm
hiểu chung và chỉ giới hạn trong vấn đề khái niệm nhà
nước pháp quyền tại Đức.

<h2>I. Định nghĩa nguyên thủy ở thế kỷ XVIII</h2>

Nhà nước pháp quyền (<em>Rechtsstaat</em>) là một thuật ngữ
luật học xuất phát từ học giới của Đức, trong khi đó ý
niệm <em>rule of law</em> trong Anh ngữ hoàn toàn có một nội dung
khác và <em>État de droit</em> không hề có trong Pháp ngữ trước
đây. Khái niệm nhà nước pháp quyền (<em>Rechtsstaatsbegriff</em>)
bắt ngưồn từ chủ thuyết tự do của Đức trong thời kỳ sơ
khai (<em>Deutsches Frühliberalismus</em>), đặt luật pháp của nhà
nước trên nền tảng của lý trí (<em>Vernunftsrecht</em>). Robert
von Mohl là học giả đầu tiên đã dùng khái niệm này trong
sách luật giáo khoa mang tên Staatsrecht des Königsreich Würtemberg
năm 1829. Thật ra trước đó đã có nhiều học giả khác đề
cập đến khái niệm này, nhưng không triển khai sâu rộng bằng
von Mohl, đó là Carl Theodor Welcker với tác phẩm Die letzten Gründe
von Recht, Staat und Strafe năm 1813 và Johann Christoph Freiherr von
Aretin với tác phẩm Staatsrecht der konstitutionellen Monarchie năm
1824. Ba tác giả này đều đồng ý một điểm chung là nhà
nước pháp quyền không phải là một hình thái đặc biệt của
nhà nước (eine besondere Staatsform) mà là một thể loại nhà
nước chuyên biệt (eine eigene Staatsgattung). Nhà nước pháp
quyền theo von Mohl và Welcker phải được hiểu là nhà nước
đặt trên căn bản của lý trí hay lý tính (Staat der Vernunft,
Verstandestaat). Trong khi đó von Aretin nhấn mạnh đến khía cạnh
khác hơn, nhà nước pháp quyền cai trị trên nguyên tắc ý chí
chung của lý trí và chỉ nhắm mục tiêu đạt đến những
điều tốt đẹp nhất. Cả ba cùng chấp nhận nhà nước pháp
quyền là một nhà nước tôn trọng luật thiên về lý tính,
dựa theo những nguyên tắc lý tính này nhà nước sẽ thực
hiện việc sống chung của con người.

Thông qua khái niệm cơ bản này, các học giả đề cập đến
những đặc điểm quan trọng khác của nhà nước pháp quyền
như sau:

<strong>1.</strong> Nhà nước pháp quyền là một nhà nước thế
tục, không thuộc giáo quyền, là một chính thể cộng hoà (res
publica) nhằm đem đến phúc lợi cho toàn dân, phục vụ cho mỗi
cá nhân được tự do, bình đẳng và tự quyết định cho mục
tiêu của mình. Chính sự hỗ trợ này làm cho nhà nước đạt
được sự chính thống. Do đó, những vấn đề thuộc về
khuynh hướng siêu nhiên của con người liên quan tôn giáo và
đạo đức phải đặt ra ngoài phạm vi của nhà nước pháp
quyền.

<strong>2.</strong> Nhà nước pháp quyền chỉ giới hạn mục tiêu
trong trong phạm vi bảo vệ tự do và an toàn cũng như tài sản
của người dân, nghĩa là tạo điều kiện cho mỗi cá nhân
được đảm bảo tự do để tự phát huy theo phương cách
riêng. Vai trò bảo vệ của cảnh sát rất quan trọng trong nhà
nước pháp quyền. Cảnh sát phải được hiểu là lực lượng
tháo gỡ những chướng ngại, chống đỡ những nguy cơ, đem
đến an sinh, đây chính là một hình thức, dù phụ thuộc,
nhưng đem đến phúc lợi chung cho toàn thể.

<strong>3.</strong> Nhà nước pháp quyền phải tôn trọng những
quyền cơ bản của người dân: bảo vệ tự do cá nhân, tự do
tôn giáo, tự do báo chí, tự do đi lại, tự do kết ước và
tự do hoạt động nghề nghiệp; tài sản của người dân phải
được tôn trọng, toà án phải được độc lập trong các
quyết định và chính quyền phải có trách nhiệm với người
dân. Tất cả phải có tinh thần thượng tôn luật pháp, dân
chúng phải có cơ quan đại diện và có quyền tham gia vào sinh
hoạt lập pháp. Tổ chức nhà nước phải dựa trên nguyên tắc
phân quyền rõ rệt và được tất cả chấp nhận. Nguyên tắc
tam quyền phân lập của Montesquieu là nền tảng cho sự phân
công trong tổ chức của nhà nước, nhưng sự phân chia quyền
lực của nhà nước dựa trên những nguyên tắc đấu tranh bình
đẳng của các thế lực chính trị và xã hội, chứ không hẳn
là sự phân công thuần túy dựa trên chức năng chuyên biệt.

Khái niệm này đã bị ảnh hưởng khá sâu đậm từ nguyên
tắc lý tính của Immanuel Kant. Dựa trên tinh thần khai sáng
bằng lý trí, Kant đã định nghĩa nhà nước là một kết hợp
của con người trong luật pháp. Ông cho rằng luật pháp do nhà
nước quy định phải dựa trên nguyên tắc lý tính, những
đặc điểm về hình thức của nhà nước pháp quyền cần
phải được thể hiện và được cụ thể hoá bằng các học
thuyết về nhà nước. Theo Kant, dân quyền dựa trên quan điểm
pháp lý cần phải dựa trên những nguyên lý tiên thiên như sau:

- Tự do của mỗi cá nhân trong xã hội;

- Bình đẳng trong mối quan hệ với mọi người khác;

- Độc lập của từng cá nhân trong xã hội.

Những nguyên lý này sở dĩ gọi là tiên thiên là vì không
thuộc về kinh nghiệm, không phải người dân chỉ có được
vì luật pháp của nhà nước quy định, mà có sẵn trước khi
nhà nước ra đời. Một trong những hình thức tự do quan trọng
nhất của dân quyền mà Kant kể đến là tự do trong luật
pháp, nghĩa là người dân không thể tôn trọng một loại luật
pháp nào khác hơn là luật pháp mà chính người ấy đã đồng
tình. Quyền bình đẳng và sống tự lập không gì khác hơn là
có được quyền về tư hữu và tự do hoạt động nghề
nghiệp.

Khi bàn về những điểm chủ yếu của khái niệm nhà nước
pháp quyền, Kant cho rằng nhà nước chỉ nên chuyên tâm vào
việc đảm bảo quyền tự do và quyền tư hữu cho người dân,
mục tiêu này nhằm đem lại an sinh phúc lợi và chính mục tiêu
này tạo nên một chính thể cộng hoà (res publica). Những sinh
hoạt chính yếu của con người không nằm trong phạm vi những
sinh hoạt công cộng mà là những sinh hoạt cá nhân có liên hệ
đến phạm vi công. Thay vì chuyển hướng thiên về ý niệm
quyền lợi công cộng, nhà nước nên phát huy quyền cá nhân,
điều này sẽ tạo nên ý nghĩa hơn cho duy trì trật tự công
cộng. Khi nhà nước tạo được điều kiện cho mỗi cá nhân
tự thực hiện được việc đảm bảo tự do và tư hữu, thì
nhà nước đã tạo nên những đặc trưng cho một nhà nước
pháp quyền.

Theo định nghĩa nguyên thủy này thì luật pháp phải dựa trên
một nguyên tắc luật nhà nước thống nhất, cả về thủ tục
lẫn nội dung, đặc điểm của nó không thể chỉ giới hạn
vào luật thủ tục hay luật nội dung, vì nó biểu hiện đặc
trưng cho một nhà nước chuyên biệt, tạo nên một tinh thần
mới cho nhà nước, mà sự thực thi luật pháp này làm cho
phương thức cai trị khác với những hình thái của nhà nước
theo hình thái cổ truyền. Đối nghịch với nhà nước pháp
quyền không phải là thể chế quân chủ hay quý tộc mà là
thể chế thần quyền và bạo chúa. Hai thể chế thần quyền
và bạo chúa không gắn liền với nguyên tắc lý tính vì thể
chế thần quyền dựa vào những tín điều tôn giáo, trong khi
thể chế bạo chúa dựa trên ý chí độc đoán của người cai
trị. Bạo chúa không phải chỉ có thể xảy ra trong một thể
chế quân chủ tuyệt đối mà còn có trong thể chế dân chủ.
Nhà nước pháp quyền có khuynh hướng tự do nhưng không nhất
thiết có thể có khuynh hướng dân chủ. Do đó, tự do chính
trị và sự tham gia vào các sinh hoạt nhà nước của người
dân phải được bảo đảm. Nhưng tự do này cũng sẽ bị giới
hạn khi mà tự do chính trị không còn bảo vệ tự do của
người dân, nó còn gây nguy hiểm khi mà nó không còn hỗ trợ
cho nguyên tắc lý tính mà nhường chỗ cho nhưng ham mê quyền
lực.

Khái niệm về luật pháp (<em>Gesetzesbegriff</em>) trở nên vô
cùng quan trọng trong việc định hình và cụ thể hoá khái
niệm về nhà nước pháp quyền. Luật pháp có nghĩa là những
quy định tổng quát được hình thành qua sự đồng thuận của
các đại biểu dân chúng thông qua thủ tục thảo luận và
biểu quyết công khai. Tất cả những nguyên lý chủ yếu thuộc
về một nhà nước pháp quyền đều nằm trong khái niệm về
luật pháp này, trong đó có cả hai khía cạnh định chế và
thủ tục. Luật pháp không chỉ giới hạn ở thủ tục hay nội
dung, mà luật pháp là một thể thống nhất, nó nối kết hai
yếu tố này thành một loại hình luật pháp bất khả phân.
Sự đồng thuận của các đại biểu dân chúng nhằm đảm bảo
nguyên tắc tự do và vai trò người dân như một chủ thể hữu
quyền trước pháp luật. Luật pháp phải mang tính tổng quát,
vì tính cách này sẽ ngăn chặn mọi vi phạm có chủ đích
nhắm vào phạm vi tự do của người dân và xã hội, thông qua
những thủ tục thảo luận và biểu quyết công khai thì nội
dung của luật pháp sẽ đạt được một mức độ của lý
tính. Nguyên tắc hợp pháp của luật hành chánh chỉ rõ điều
này. Luật pháp của các cơ quan hành chánh đặt ra chỉ có
hiệu lực pháp lý, khi chính cơ quan hành chánh này tự đặt
mình dưới luật pháp và bị chi phối bởi luật pháp. Luật
pháp của một nhà nước pháp quyền là sự diễn đạt ý muốn
của nhà nước, nhưng ý muốn này thể hiện ý muốn chung và
quyền của toàn dân. Sự thống trị của luật pháp phải
được hiểu là sự cai trị dựa trên những nguyên lý về tự
do của người dân.

<h2>II. Định nghĩa bổ sung ở thế kỷ XIX</h2>

Tuy đề cao nguyên tắc lý tính và tự do chính trị của người
dân và gây ảnh hưởng sâu đậm trong học giới, khái niệm
nhà nước pháp quyền đã có nhiều thay đổi ở thế kỷ XIX,
đặc biệt là ở việc chú trọng thuần về hình thức của
luật pháp, nhất là luật về thủ tục tố tụng. Thật ra trào
lưu này hình thành không đồng bộ, các lập luận không xuyên
suốt và thuyết phục. Một trong những học giả thuộc học
phái này là Friedrich Julius Stahl. Ông cho rằng nhà nước phải
là một nhà nước pháp quyền, đó là một mẫu mực chung mà
chúng ta đồng thuận vì nó nằm trong chân lý của động lực
phát triển chung trong thời đại mới. Nhưng khái niệm này
phải quy định rõ đâu là đường hướng và giới hạn cũng
như khả năng bảo đảm phạm vi tự do của công dân trong luật
pháp. Vì lý do nhà nước phải tôn trọng đạo đức, khái
niệm này phải quy định rõ đâu là ranh giới cần thiết giữa
luật pháp và đạo đức. Nhà nước pháp quyền không thuần
túy thiên về những quy định theo luật hành chánh hay chỉ lo
bảo vệ quyền cá nhân. Khái niệm này không chỉ đề ra mục
tiêu cho nhà nước, mà chính nhà nước phải tự thực hiện
mục tiêu mình đề ra. Theo Stahl, không nên loại bỏ hẳn vai
trò nhà nước đạo đức và chế độ thần quyền trong sinh
hoạt chính trị. Nhà nước pháp quyền không còn là một thể
loại nhà nước như đã đề ra trước đây, nhằm tạo ra một
nguyên lý mới về nhà nước, đó là một quyền lực cai trị,
do đó vấn đề cần phân biệt giữa mục tiêu theo đuổi và
phưong cách thực hiện.

Khi chấp nhận định nghĩa này làm tiêu chí, thì những đòi
hỏi bảo đảm quyền tự do cho người dân, bình đẳng trước
pháp luật, khái niệm luật pháp trong khuôn khổ của luật nội
dung và định chế, sự độc lập của toà án, nguyên tắc pháp
định của các thủ tục hình sự như các tác giả của thế
kỷ XVIII đặt ra sẽ không còn quan trọng nữa. Khi cho rằng
một nhà nước hiến định sẽ tạo nên thể chế cộng hòa
(res publica), thì cũng khó chấp nhận rằng nhà nước này sẽ
có chiều hướng phát triển dân chủ. Đặc điểm của khái
niệm nhà nước pháp quyền này là tìm ra cái gì có thể khả
thi và bằng cách nào. Chú trọng vào tính hiện thực, khái
niệm này chỉ nhắm áp dụng trong phạm vi luật về thủ tục
hình thức tố tụng và về luật hành chánh, thí dụ như nguyên
tắc ưu tiên luật pháp trong phạm vi luật hành chánh, tạo ra
thể chế bảo vệ hữu hiệu người dân trước các cơ quan
hành chánh và tòa án, nhất là tạo ra luật hành chánh nhằm
bảo vệ tự do cho người dân. Đó là những điểm chủ yếu
của khái niệm nhà nước pháp quyền.

Trong chiều hướng này, Otto Mayer đã định nghĩa nhà nước
pháp quyền là một nhà nước có được một hệ thống luật
hành chánh được quy định chặt chẽ, dĩ nhiên để đạt
được điều này nhà nước pháp quyền phải lấy hiến pháp
làm cơ sở. Khi đề cập đến khái niệm nhà nước pháp
quyền, von Stein cho rằng những đặc trưng của nó là khi mà
người dân có chỗ đứng trong hiến pháp của nhà nước, mỗi
quyền mà người dân có được, kể cả việc chống lại bạo
lực nhân danh chính quyền, phải thực sự có giá trị. Nhà
nước pháp quyền không phải là một thể loại đặc biệt về
nhà nước như các học giả đã đề cập trước đây, mà
thực ra chỉ là một giai đoạn trong quá trình phát triển về
sinh hoạt tự do của nhà nước.

Định nghĩa bổ sung còn đề ra những đặc điểm sau đây:

1. Đối với Stahl, vì dựa vào quan điểm về nhà nước bảo
thủ và tôn giáo, nên nhà nước pháp quyền dựa trên nguyên
tắc lý tính và quyền cá nhân có phần giảm đi, chủ yếu là
chú trọng về nguyên tằc hình thức của nhà nước pháp
quyền. Nhà nước không chỉ là một nhà nước pháp quyền mà
còn phải đề cao tính cách đạo đức, một định chế được
tạo ra một trật tự thế gian theo mẫu mực tôn giáo. Khi so
với những quan niệm về nhà nước pháp quyền trước đây thì
mục tiêu xây dựng nhà nước như là một cơ quan tối thượng
cần xét lại. Khái niệm nhà nước pháp quyền thực ra chỉ
đúng với một khía cạnh ngoại tại của nhà nước mà thôi.

2. Rudofl von Gneist dựa vào định nghĩa của Stahl mà khai triển
thêm trong khi Freiherr von Stein cho rằng việc hình thành định
chế có tầm quan trọng đặc biệt. Một phần dựa vào ý
tưởng của von Stein, von Gneist đề ra hai quan điểm đối
nghịch, một trật tự nhà nước cho xã hội (đây là một mô
hình theo kiểu cai trị tự quản của Anh) và một trật tự xã
hội cho nhà nước (đây là một mô hình nhà nước tự do sau
Cách mạng 1789 của Pháp). Do đó, những quy định về mục tiêu
của nhà nước nhắm vào quyền tự do của cá nhân cũng bị
hạn chế hơn. Trong nhà nước pháp quyền, theo von Gneist, thì
luật pháp đặt ra khuôn khổ và giới hạn việc thi hành luật
cho nhà cầm quyền. Do đó nguyên tắc hành chánh tự trị không
được phép vượt qua khuôn khổ của luật pháp mà chính là
giúp cho việc thi hành luật pháp để bảo vệ nguời dân
được hữu hiệu hơn; chính cơ quan tài phán hành chánh sẽ
giám sát những thủ tục này để bảo đảm được tốt hơn.
Quan điểm của von Gneist là phải chú trọng xây dựng tổ chức
quốc hội. Quốc hội chỉ hoạt động hữu hiệu khi mọi tầng
lớp địa phương hợp tác tích cực với nhà nước. Sự tham
gia của người dân vào việc thi hành nhiệm vụ của nhà nước
cần phối hợp giữa nhiệm vụ công và hoạt động nghề
nghiệp riêng. Đối với von Gneist, việc thực thi khái niệm nhà
nước pháp quyền là một công việc thuộc về luật hành
chánh, đăc biệt hướng về cải tổ hành chánh địa phương
và toà án hành chánh. Ý niệm của ông ảnh hưởng khá sâu
đậm đến chính quyền thời bấy giờ.

3. Hai học giả khác cũng thuộc học phái này là Otto Bähr và
Otto von Gierke. Hai ông đã đi vào chi tiết hơn von Gneist khi bàn
về nhà nước pháp quyền. Theo hai ông, thật ra đây là một
khái niệm khác thuộc phạm vi luật hiến pháp. Nhà nước cũng
là một tổ chức, dù là tối cao, nhưng cũng chỉ là một hình
thái nối kết của con người trong xã hội với nhau như các
tổ chức khác trong xã hội, nhà nước không chỉ giới hạn
trong phạm vi cơ quan hành chánh chuyên lo cai trị dân chúng.
Luật hành chánh chỉ là một hình thức luật mà thôi, mà thực
chất của nó cần phải phân biệt với các luật khác. Nhà
nước trong khái niệm về nhà nước pháp quyền, cũng như các
tổ chức xã hội khác, phải tự đặt mình trong luật pháp,
không thể đặt trên luật pháp. Nhà nước pháp quyền phải
tạo thể thống nhất giữa nhà nước và pháp luật, nghĩa là
tạo mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với nhau trong
tinh thần tôn trọng luật pháp. Cụ thể là thẩm quyền của
các cơ quan phải do luật pháp quy định, việc thực thi quyền
phải được luật pháp công nhận và bảo vệ. Đặt cơ quan
hành chánh dưới sự giám sát của toà án nhằm bảo đảm cho
tinh thần thượng tôn luật pháp của nhà nước pháp quyền. Dù
không bày tỏ công khai nhưng Bähr và von Gierke cũng ghi nhận vai
trò của toà bảo hiến trong khái niệm nhà nước pháp quyền,
vì tất cả các cơ quan của nhà nước phải tự đặt mình
trong khuôn khổ luật pháp. Do đó, vấn đề quyền tối thượng
và quyền của các cơ quan quyền lực quốc gia được đặt
trong thể thống nhất của nhà nước và luật pháp, nên những
vấn đề khác chỉ là phụ thuộc.

Càng về sau thì những học thuyết tìm cách giảm bớt những
tính cách lý thuyết ra khỏi khái niệm nhà nước pháp quyền
để nhằm đề cao vai trò của sự áp dụng luật trong chính
trị. Do đó vấn đề mục tiêu nhà nước là gì trong khái
niệm về nhà nước pháp quyền cũng không được chú trọng.
Chính sự thay đổi này làm cho khái niệm nhà nước pháp quyền
chính xác hơn trước đây khi thiên về hình thức và giáo
đìều. Nhà nước pháp quyền phải quy định mối quan hệ
giữa luật pháp, chính quyền và cá nhân, và chính quyền cũng
như cá nhân không thể vi phạm luật pháp. Quan niệm này đối
nghịch với các khái niệm trước đây, vì cho rằng mối quan
hệ giữa nhà nước pháp quyền và cá nhân không phải là một
loại chế độ thuộc thần quyền hay theo bạo chúa, cũng không
hẳn là theo chế độ dựa trên cảnh sát trị. Nhưng quan điểm
này vẫn duy trì quan niệm sự thống trị của luật pháp và xem
đây là sự đảm bảo cho quyền tự do của người dân. Đặc
biệt hơn, các học giả này chỉ nhấn mạnh đến hai nguyên
tắc trọng pháp của cơ quan hành chánh cũng như quyền bào
đảm trước tòa án.

Cũng trong nỗ lực này các học giả đã giảm bớt hơn nửa
về nội dung khái niệm nhà nước pháp quyền. Nhà nước pháp
quyền không có nghĩa là nhà lập pháp có quyền tuyệt đối,
đây phải là một giới hạn cần được đặt ra. Nếu trước
đây nguyên tắc lý tính được coi là nền tảng chính thống
cho nhà nước, thì nay chính ý chí của cơ quan lập pháp mới
làm cơ sở cho luật pháp. Nguyên tắc tổng quát của luật pháp
được coi như là một điều chủ yếu, thì nay bị xem là thông
thường trong khái niệm của luật pháp. Ý niệm cơ bản của
luật pháp chỉ thuần về hình thức, nghĩa là một đạo luật
được coi là hợp pháp khi những nguyên tắc về luật thủ
tục được tôn trọng. Điều này cho thấy có sự chuyển biến
trong ý thức về khái niệm nhà nước pháp quyền. Richard Thomas,
ngược lại, cho rằng quan điểm này đã từ bỏ ý niệm về
nhà nước pháp quyền khi đem toàn bộ nhà nước giao cho một
cơ quan nào đó có một quyền lực tuyệt đối. Ông cũng chống
lại quyền lực tuyệt đối của nhà lập pháp trong việc thay
đổi hiến pháp. Thật ra ý kiến của Thomas không phải là
phản dân chủ, nhưng cho thấy tinh thần tôn trọng luật pháp
theo học thuyết thực tại pháp quyền. Nhiệm vụ của luật
pháp và quyết định tối hậu của nhà lập pháp là nhằm mang
lại hòa bình trong một xã hội đa dạng. Do đó, không thể cho
phép một đặc quyền chính trị cho một nhóm quyền lực nào
theo đuổi một muc tiêu riêng khi mà họ nhân danh quyền lực
với giá trị tuyệt đối trong các thủ tục lập pháp.

Dù chỉ đảm bảo tự do theo đúng nguyên tắc luật tố tụng,
khái niệm nhà nước pháp quyền thiên về hình thức này đã
chiếm ưu thế đến cuối thời kỳ Cộng hoà Weimar. Thật ra
không thể cho rằng các học giả này chủ trương một hình
thức trống rỗng, đây là một sự định hình và khách quan
hoá trong ý nghĩa của những nguyên tắc căn bản của sự phát
triển nhà nước pháp quyền: an toàn trong tự do và tôn trọng
quyền tư hữu. Chính nhà nước pháp quyền thiên về hình thức
này mới là nhà nước pháp quyền của dân chúng, nhằm đảm
bảo sự phân phối tài sản khi ngăn chặn mọi thủ tục vi
phạm quyền tư hữu của cá nhân. Dù là thiên về hình thức
nhưng nhà nước pháp quyền lại trung dung về chính trị, nghĩa
là tạo sự ổn định trong việc bảo vệ quyền tư hữu đã
được định hình.

(còn tiếp)


© 2010 Đỗ Kim Thêm

© 2010 talawas

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/6700), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét