<em><strong>Hỏi:</strong> Hiện tượng người dân trì trệ như
vậy có lẽ cũng là hệ quả của một quá trình được nhà
nước bao cấp từ cách nghĩ cho đến cách làm, cho nên họ khó
có thể nghĩ mình tự làm cái gì và được làm cái gì. Chỉ
có tầng lớp trí thức thì mới hiểu rằng anh có quyền tự do
ấy thì anh được làm cái này, được làm cái kia, còn người
dân thì biết sử dụng tự do vào đâu?</em>
<div class="boxright200"><div class="quotebody"><div class="quoteopen"><img
class="quoleft" src="/misc/quoleft.png"/></div>Tôi xin nói lại rằng,
dân tộc chúng ta có sánh vai cùng các cường quốc được hay
không là kết quả của sự thức tỉnh của nhân dân về các
quyền tự do của mình chứ không phải là kết quả của sự
nghe lời bảo ban của nhà nước.<img class="quoright"
src="/misc/quoright.png"/> <br class="quoteclear"></div></div>
<strong>Trả lời:</strong> Cách đây 10 năm chúng ta không biết,
hay chúng ta chỉ nghe về Internet như nghe người ta kể chuyện
Tam quốc. Nhưng bây giờ, chỉ sau 10 năm thôi, cả dân tộc này
có hơn 20 triệu người có thể truy nhập Internet làm cho Việt
Nam trở thành một trong những quốc gia thần kỳ về phát
triển thị trường sử dụng công nghệ thông tin. Nếu không
có khái niệm ấy thì bao giờ mới có sự bùng nổ của
người hiểu biết về nó? Tôi xin nói lại rằng, dân tộc
chúng ta có sánh vai cùng các cường quốc được hay không là
kết quả của sự thức tỉnh của nhân dân về các quyền tự
do của mình chứ không phải là kết quả của sự nghe lời
bảo ban của nhà nước.
Các nhà quản lý cũng phải tích cực lên, phải học cách quản
lý một xã hội khó. Một xã hội không khó, một xã hội ngủ
thì nhiều lắm cũng chỉ cần một vài người quản lý để
người ta không gác chân lên mặt nhau khi ngủ thôi. Một xã
hội sống, lao động, sáng tạo, loay hoay đi tìm giá trị của
mình thì xã hội ấy quả thật là khó quản lý. Nhưng các giá
trị của nhà nước chỉ được hình thành và tích luỹ trong
xã hội khó quản lý mà thôi. Một dân tộc nô lệ suốt hơn
100 năm, độc lập dân tộc không có, các khái niệm có chất
lượng văn hóa, có chất lượng phát triển, có chất lượng
nhân văn cũng chưa có, thế mà chỉ với 2000 đảng viên cộng
sản ban đầu thôi, chính đảng như thế đã tạo ra được
trạng thái xuất thần của cả dân tộc ấy.
Với những thành tựu như vậy của cha anh chúng ta thì không
phải là chúng ta chưa có tiền lệ về sự vĩ đại của
hoạt động lãnh đạo và quản lý. Năm 1985, lạm phát tới
800%/năm, nhưng sau 10 năm đổi mới, dân tộc ấy bỗng cảm
thấy mình có địa vị khu vực, địa vị thế giới, và đến
bây giờ thì ăn nói cũng tự hào lắm, mặc dù đôi lúc
cũng có những sự ngộ nhận. Nhưng nói gì thì nói đấy
cũng là sự thức tỉnh của cả một dân tộc. Vậy đấy có
phải là sự xuất thần của dân tộc chúng ta khi chúng ta có
tự do không?
Lịch sử của chúng ta có một số cuộc khởi nghĩa nông dân
từ thời Pháp thuộc như khởi nghĩa Ba Đình, khởi nghĩa Bãi
Sậy, khởi nghĩa Yên Thế. Tất cả những cuộc chiến nho
nhỏ như vậy không tạo ra được bất kỳ tiếng vang nào.
Vậy mà bỗng nhiên những người cộng sản xuất hiện và
chọn được một thời điểm, thời điểm ấy chính là sự
kẹt cứng của các cường quốc trong chiến tranh thế giới
thứ hai, và kết quả là những người cộng sản tiền bối
của chúng ta đã tạo ra một hiện tượng đột biến khổng
lồ của dân tộc. Dân tộc chúng ta ngay sau đó đã dám đối
đầu với người Mỹ mà trước đó chỉ dăm ba năm thôi chúng
ta mới nghe thấy đã sợ rồi. Trong truyện "Đất nước đứng
lên" của nhà văn Nguyên Ngọc, chúng ta thấy anh hùng Núp
phải bắn thử vào thằng Tây, thấy nó chảy máu thì kêu
lên nó là người. Cha anh chúng ta đã tạo ra những sự đột
biến vĩ đại như vậy thì tại sao chúng ta không dám tạo ra
một sự đột biến?
Tự do của con người không mâu thuẫn gì với sự ổn định
chính trị cả, nó chỉ làm khó các nhà quản lý. Bởi các nhà
quản lý phải có học hơn, phải thông thái hơn, tích cực hơn,
trong sạch hơn thì mới quản lý được một xã hội văn minh.
Còn nếu chúng ta muốn quản lý một xã hội ngủ thì chúng ta
không việc gì phải mất thì giờ bàn cãi làm gì. Quản lý
một xã hội hiện đại, một xã hội thừa nhận các quyền
tự nhiên của con người để nó phát triển, mới chính là
vinh dự chính trị.
<em><strong>Hỏi:</strong> Theo ông, dân trí chưa cao không phải là
trở ngại lớn nhất, cần phải khắc phục đầu tiên?</em>
<strong>Trả lời:</strong> Không thể đặt vấn đề dân trí là
tiền đề cho dân chủ hoá được, đấy chính là cái võ mà
xưa nay các thế hệ khác nhau của các nhà cầm quyền ở các
nước đều dựa vào. Đấy là một luận điểm tưởng là
tiến bộ, nhưng thực chất là nó cung cấp các căn cứ xã
hội để khất lần quá trình dân chủ. Trong dân trí có cả
quan trí, bởi hệ thống chính trị là kết quả của sự
hợp tác của nhà cầm quyền với nhân dân. Chúng ta quan niệm
hệ thống chính trị thuộc nhà cầm quyền mà quên mất rằng
hệ thống chính trị mà đứng ngoài nhân dân, đứng trên nhân
dân là sai.
Trong một bài trả lời phỏng vấn, tôi có nói: khi nào chính
trị mà đứng ngoài nhân dân, chính trị không được thực
hiện trong nhân dân, bằng nhân dân và được nhân dân điều
chỉnh thì nền chính trị ấy hỏng. Không đợi dân trí
được. Chúng ta thừa nhận là chúng ta có một nhà nước chậm
phát triển về chính trị nhưng nó đi theo khuynh hướng đúng,
còn hơn là chúng ta có một hệ thống chính trị nằm ngoài
nhân dân để nó không bấu víu vào đâu cả. Dân trí tăng,
trong đó đòi hỏi quan trí cũng tăng tương ứng?
Tôi nói lại với anh là không thể đặt vấn đề dân trí là
tiền đề cho sự phát triển dân chủ được. Dân chủ thuộc
về con người, con người ở mức độ nào cũng cần đến nó
cả. Dân trí tăng lên cùng với kinh nghiệm của con người chứ
không phải là tiền đề để gọi nó là người. Nếu mà như
thế thì ông giáo sư tiến sĩ phải cao hơn bà nông dân. Nhưng
trên thực tế có bao nhiêu trí thức của chúng ta là anh hùng
nếu đem so với những người nông dân mặc áo lính?
Đừng nói chuyện dân trí, nói dân trí là xúc phạm đến con
người. Trong quá trình chúng ta nói chuyện anh đã bổ sung cho
tôi rất nhiều kiến thức và tôi cũng cung cấp cho anh nhiều
kiến thức. Con người phát triển cùng với giao lưu một cách
tự do và con người củng cố các kinh nghiệm của mình bằng
cách va chạm với các vấn đề chính trị của thời đại mà
mình đang sống. Sự giao lưu giữa các nhà lãnh đạo với tôi
hoặc với anh nó tạo ra sự thức tỉnh ở họ về nhiều
thứ, và ngược lại chúng ta cũng được họ thức tỉnh
về nhiều thứ khác.
Tôi cho rằng các lỗi lầm của hệ thống chính trị này và
cả xã hội này mắc phải có một phần thuộc về trách
nhiệm của những người như chúng ta. Nếu chúng ta nói một
cách thân thiện thì thế nào cũng nói được, còn chúng ta nói
với tư cách là kẻ chống đối thì chắc chắn là không
thể yên được. Thực ra nhà nước này là một nhà nước
có vấn đề của nó, có nhiều khuyết tật của nó, nhưng
những bộ phận của nó thoái hóa không phải do đạo
đức thuần túy mà do các nguyên lý chính trị của nó có
vấn đề. Cho nên bây giờ phải sửa chữa nó chứ không phải
kết luận về nó.
<h2>Trải nghiệm tự do</h2>
<em><strong>Hỏi:</strong> Chúng ta đang bàn về các giá trị của
độc lập - tự do, nhưng tự do đặt ra trong giai đoạn hiện
nay như thế nào?</em>
<strong>Trả lời:</strong> Đó chính là vấn đề về con người,
đấy không phải là vấn đề dân tộc nữa. Nó không còn là
vấn đề tự do tập thể, tự do quốc gia nữa mà là tự do
của cá thể, tự do của con người.
Nếu nghiên cứu, anh sẽ thấy rằng, Hồ Chí Minh là lãnh tụ
châu Á đầu tiên biến tuyên ngôn độc lập của nhà nước mà
mình sáng tạo ra thành tuyên ngôn nhân quyền. Tuyên ngôn Độc
lập của Việt Nam là tuyên ngôn nhân quyền đầu tiên ở khu
vực châu Á. Đấy là một tuyên ngôn có giá trị vĩ đại.
Tuyên ngôn ấy là tuyên ngôn của một nền văn minh chính trị.
<em><strong>Hỏi:</strong> Có một số ý kiến cho rằng Hồ
Chí Minh kế thừa chuỗi giá trị này của Tôn Trung
Sơn?</em>
<strong>Trả lời:</strong> Không phải. Đây là sự kế thừa của
các tư tưởng cách mạng Pháp.
<em><strong>Hỏi:</strong> Vậy tại sao lại không đề là "tự
do - bình đẳng - bác ái"?</em>
<strong>Trả lời:</strong> Đấy là cách diễn đạt khác nhau
của những dân tộc khác nhau và đấy chính là văn hoá. Người
Pháp đặt ra tự do, bình đẳng và bác ái vì họ không có vấn
đề độc lập dân tộc. Nước Pháp chỉ có vấn đề với
độc lập của quốc gia khác chứ không có vấn đề độc
lập của chính nó. Còn Việt Nam là một quốc gia bị đô
hộ, bị xâm lược, bị chiếm đóng và nó cần độc lập. Văn
hoá không phải chỉ là những khái niệm vu vơ mà con người
nhập vào đời sống tinh thần của mình. Văn hoá được hình
thành trong quá trình đòi hỏi các quyền cơ bản của mỗi
một dân tộc và mỗi một con người, trong những môi trường
xã hội, môi trường tự nhiên khác nhau. Vì thế văn hoá của
mỗi một dân tộc là khác nhau. Đấy chính là bản sắc. Bản
sắc văn hoá không phải là các thói quen hút thuốc lào hay gác
chân lên ghế. Người ta vẫn quan niệm văn hoá ở mức tầm
thường như vậy, nhưng tôi thì cho rằng những dấu vết của
văn hoá có mặt trong những vấn đề chính trị quan trọng
nhất của một dân tộc. Khi nào nghiên cứu văn hoá ở tầng
cao nhất của nó, ở vết cao nhất của các hành vi chính trị
của nó thì chúng ta mới hiểu giá trị thiêng liêng của văn
hoá. Tại sao cái ý chí độc lập dân tộc nó ám ảnh, nó bám
riết vào người Việt cho đến phút mà chúng ta đang ngồi ở
đây? Là vì chúng ta luôn luôn cảnh giác về câu chuyện của
lịch sử để lại. Rất nhiều người đến đây nói về nguy
cơ Hán hoá, tôi hỏi họ tại sao không nghiên cứu năng lực
Việt hoá. Tại sao chúng ta không nghĩ đến chuyện chúng ta
Việt hoá rất nhiều thứ mà chúng ta chỉ nghĩ đến chuyện
bị Hán hoá và đủ các thứ "hoá" khác?
<em><strong>Hỏi:</strong> Làm thế nào để các nhà quản lý
nhận ra giá trị có tính nhân loại trong kho tàng truyền
thống của mình?</em>
<strong>Trả lời:</strong> Khi chúng ta sống một cách bình đẳng,
một cách vui vẻ giữa con người với nhau, chúng ta bỏ qua khía
cạnh chính trị đi, chúng ta chỉ để ý đến khía cạnh con
người thôi thì chúng ta sẽ nhận ra ngay rằng chúng ta cũng có
những giá trị thông thường như các dân tộc khác, thậm chí
có những giá trị của chúng ta còn mạnh hơn. Tôi nói với
các vị tướng lĩnh rằng, Việt Nam là một dân tộc "không bị
khuất phục" đối với nhân loại. Tất cả các dân tộc, kể
cả người Nga vĩ đại cũng đã phải quỳ gối trước Thành
Cát Tư Hãn. Người Mông Cổ chiếm đóng nước Nga tới mấy
trăm năm và chỉ đến khi có sự xuất hiện của Đại
công tước Moskva nước Nga mới được giải phóng ra khỏi sự
đô hộ của người Mông Cổ. Vậy mà chúng ta mặc dù chặn
đứng được người Mông Cổ nhưng chúng ta không thấy tự
hào, chúng ta lại cứ sợ bị Hán hoá. Chúng ta chẳng bị
"hoá" gì cả, và nếu để ý khía cạnh như thế thì chúng ta
thấy rằng chúng ta cũng "hoá" khối thứ thành của mình. Tôi
nghĩ rằng những người cầm quyền, những người lãnh đạo
buộc phải ý thức được những khía cạnh ấy thì mới tạo
ra sự tự tin và một thái độ phải chăng của người Việt
đối với các vấn đề quốc tế.
Hiện nay chúng ta quan niệm về các vấn đề quốc tế không
phải chăng, và nó gây ra cho chúng ta rất nhiều cái khó.
Người Việt Nam làm tất cả mọi việc đều dễ, trừ hội
nhập.
<em><strong>Hỏi:</strong> Sau khi vào WTO, xã hội cứ nói rất
nhiều là rong thuyền ra biển lớn này khác, nhưng hình như
đấy cũng chỉ là cách nói động viên?</em>
<strong>Trả lời:</strong> Người Việt có một bệnh nữa là
bệnh khoa trương. Chúng ta cứ nói quá lên những thứ mình có
để che dấu sự không tự tin. Người Việt chỉ tự tin khi nào
chúng ta xác định được kẻ thù. Nếu không kiếm được kẻ
thù để đối mặt với nó, không nhìn rõ nó thì chúng ta luôn
luôn thiếu tự tin. Cho nên người Việt loay hoay đi tìm kẻ thù
mà quên mất rằng kẻ thù lớn nhất của chúng ta là chính
mình. Những chuyện tham nhũng như hiện nay thì liên quan gì
đến ngoại xâm? Tất cả những hiện tượng xã hội lộn
xộn, bạ đâu nói đấy, cứ thấy ngứa mắt là phản đối
rào rào, chưa khai thác được hết những quyền mà mình đang
có thì đã đòi hơn, có liên quan gì đến ngoại xâm?
Các bức tường chính trị không tự giãn ra bằng sự nói to
của bất kỳ ai. Nó chỉ giãn ra cùng với sự thức tỉnh của
nhân dân mà thôi, cho nên, không cần phải nói to. Tôi chẳng
nói to điều gì. Anh hỏi tôi thì tôi nói. Tôi chưa bao giờ
chủ động nói bất kỳ lời nào của mình, tôi chỉ trả lời
các câu hỏi thôi. Tôi không viết bài nào chủ động lên án
cái này, phê phán cái kia, tôi không mất thì giờ làm những
chuyện như vậy.
<em><strong>Hỏi:</strong> Tức là khi có nhu cầu cuộc sống
đặt ra thì ông mới nói?</em>
<strong>Trả lời:</strong> Đương nhiên. Đấy chính là khoa học.
Khoa học sinh ra để xử lý các đòi hỏi của cuộc sống.
Người có tầm nhìn thì nhìn thấy các đòi hỏi xa hơn một
chút, nhìn thấy các đòi hỏi đang đến. Nhìn thấy cái
đang đến thì công sức bỏ ra để thoả mãn nó hay để giải
quyết nó sẽ tiết kiệm hơn nhiều so với việc nhìn cái đã
đến rồi. Nếu tôi có góp ý gì với các nhà lãnh đạo thì
chỉ để báo cho các anh ấy biết rằng cái thứ ấy nó đang
đến.
<h2>Tòa án tham mưu cho mức độ văn minh</h2>
<em><strong>Hỏi:</strong> Trong xu hướng toàn cầu hóa tràn
vào, Việt Nam cũng không cưỡng được, vậy những cái
đó nó mang lại tác dụng gì đối với cái độc lập,
tự do và hạnh phúc mà người Việt Nam khao khát trong hơn
nửa thế kỷ qua?</em>
<strong>Trả lời:</strong> Chúng ta phải luôn nhớ rằng độc
lập, tự do và hạnh phúc là những khái niệm động.
Những khái niệm ấy thay đổi chất lượng của nó
cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Nó
không phải là hệ thống giá trị cố định, vì thế cho
nên các học giả phải luôn luôn xây dựng nội hàm của
khái niệm này phù hợp với đòi hỏi của giai đoạn mà
chúng ta đang sống. Độc lập trong thời kỳ đầu thế
kỷ XX khác, độc lập trong thời kỳ giữa thế kỷ XX và
cuối thế kỷ XX cũng khác, độc lập ở những năm
đầu thế kỷ XXI cũng khác.
Càng toàn cầu hóa bao nhiêu thì khái niệm độc lập
càng phong phú, càng phức tạp bấy nhiêu và càng đòi
hỏi phải có trí tuệ để xử lý nó một cách thỏa
đáng. Vì thế cho nên, đưa các đòi hỏi của thời đại
hay đưa giá trị của thời đại vào các khái niệm cổ
xưa là công việc của khoa học, là công việc của trí
thức. Nghĩa vụ của trí thức chính là xây dựng nội
hàm của các khái niệm căn bản của xã hội loài
người vào những thời điểm phát triển khác nhau của
nó.
<em><strong>Hỏi:</strong> Theo ông giai đoạn hiện nay nội hàm
độc lập gồm có những thành tố gì?</em>
<strong>Trả lời:</strong> Chúng ta phải giữ lại, phải
khẳng định một số yếu tố cơ bản, yếu tố cổ
điển, những yếu tố không thể thay đổi được. Phải
phân loại các yếu tố. Cái gì không thể thay đổi
được là phải giữ, tuy nhiên, tôi đồ rằng những yếu
tố ấy cũng không nhiều lắm. Còn lại là quá trình
hội nhập các giá trị. Phải phân biệt việc hội nhập
các giá trị khác với sự lấn át, sự đè nén, sự
lai tạo một cách cưỡng bức. Chúng ta biết rằng trong
quan hệ nam nữ thì sự chung sống bằng tình yêu khác
với sự chung sống bằng cưỡng bức. Chung sống bằng
tình yêu thì tạo ra hạnh phúc, còn chung sống bằng
cưỡng bức thì tạo ra sự bất hạnh. Về mặt vật lý
thì nó như nhau, nhưng về mặt tinh thần thì nó hoàn
toàn khác nhau.
Trí thức chính là đối tượng giúp nhân dân phân biệt
giữa cưỡng bức và tự nguyện. Nếu không phân biệt
được thì đôi khi chúng ta chống lại sự tự nguyện
của một số đông mà chúng ta không biết, do sự bảo
thủ của một cá thể cụ thể nào đó, và trong nhiều
trường hợp cá thể ấy có thể là nhà cầm quyền.
Như vậy, khái niệm độc lập trong thời đại của chúng
ta gồm hai loại yếu tố, yếu tố cố định và yếu
tố có thể thay đổi. Ví dụ, "toàn vẹn lãnh thổ" là
yếu tố cố định, yếu tố ấy không thể thay đổi.
Biên giới, lãnh thổ là không thể thay đổi được,
nhưng cái quyền hoạt động trên cái lãnh thổ ấy như
là một thương nhân, như là một người cư trú quốc
tế thì lại khác. Đôi khi chúng ta không biết, chúng ta
chống kẻ xâm lấn lãnh thổ của chúng ta và chống luôn
cả những người đi vào lãnh thổ của chúng ta như một
đối tác. Mà làm như vậy thì tức là chúng ta đóng
cửa, chúng ta bế quan tỏa cảng. Các học giả phải mất
công giúp xã hội phân biệt những điều này. Và hơn
nữa, ngay cả trong những hành động xâm nhập một cách
hợp tác thì chúng ta cũng phải đủ trí tuệ để phân
biệt được đâu là tự nguyện, đâu là cưỡng bức.
Đấy là sự tinh khôn của trí thức, và các nhà chính
trị phải căn cứ vào sự phân loại và phân tích như
vậy để đưa ra chính sách đối ngoại.
<em><strong>Hỏi:</strong> Trí thức của chúng ta đã đủ sự
tinh khôn này chưa?</em>
<strong>Trả lời:</strong> Tôi không thể nói là đủ hay không
được. Phải nói rằng trí thức Việt Nam thiếu rất
nhiều thực tế, bởi vì cả dân tộc chúng ta mới hội
nhập được mươi năm, mà mới hội nhập trên văn bản
và trên các hệ thống tuyên truyền chứ cũng chưa hẳn
là hội nhập thật, cho nên chúng ta chưa thể có đầy
đủ sự dày dạn, sự từng trải, sự tinh khôn đối
với loại thực tế phức tạp như thế này và chúng ta
vẫn phải học thôi. Đấy là cái đương nhiên. Chẳng có
gì mất danh dự khi chúng ta nói rằng chúng ta chưa biết
hết mọi thứ.
<em><strong>Hỏi:</strong> Ở phạm vi vi mô, đối với mỗi con
người, sự độc lập trong cách nghĩ đi liền với tự
do của người ta. Trong điều kiện hiện nay thì những
cái đó được đảm bảo như thế nào?</em>
<strong>Trả lời:</strong> Báo Công lý là tờ báo liên quan
đến cơ quan rất quan trọng của bất kỳ hệ thống chính
trị nào là Tòa án. Tòa án là nơi đầu tiên phải đưa
ra đòi hỏi về một hệ thống pháp luật có chất
lượng. Cơ quan tòa án hành nghề, tồn tại và phát
triển trên hệ thống pháp luật, tức là hệ thống
các qui tắc, cho nên nó là một trong những cơ quan từng
trải nhất về các qui tắc và do đó, nó chính là cơ
quan có đầy đủ điều kiện nhất để thẩm định
chất lượng của các qui tắc. Bất cứ qui tắc nào xâm
phạm, làm hại con người đều phải được sửa đổi,
cho nên mới có cơ quan tu chính. Trong một chừng mực nào
đó, tòa án tối cao được xem là nơi thẩm định chất
lượng của hiến pháp và sự tương thích giữa hiến
pháp và pháp luật. Đấy là cơ quan có kinh nghiệm nhất
của một đất nước về chuyện ấy.
<em><strong>Hỏi:</strong> Chức năng cơ bản của tòa án là
xét xử nên có thể nói nó là cơ quan kiểm nghiệm sự
hợp lý, đúng mực về mặt chất lượng làm
luật?</em>
<strong>Trả lời:</strong> Tôi không nghĩ thế. Trong những
nước mà hệ thống pháp luật đã hoàn chỉnh rồi thì
đấy là chức năng của tòa án. Nhưng trong một quốc gia
mà hệ thống pháp luật của nó đang hình thành thì
tòa án là cơ quan tham mưu có chất lượng xã hội trong
việc hình thành các qui tắc. Nói một cách khái quát,
tòa án tối cao là nơi tham mưu cho mức độ văn minh của
một dân tộc, bởi trình độ văn minh của một dân tộc
thể hiện tập trung nhất ở hệ thống pháp luật của
nó, ở hệ thống qui tắc xã hội của nó. Địa vị
ấy cao hơn cái nhiệm vụ mà tòa án tối cao được phân
công. Địa vị ấy là địa vị lịch sử, còn cái nhiệm
vụ được phân công hiện nay không phải là cái để xác
định địa vị cao nhất, địa vị tinh thần của tòa án
tối cao.
<em><strong>Hỏi:</strong> Khi đời sống dân chủ càng cao thì
vai trò của tòa án và báo chí càng lớn, nhưng trong
thực tế hiện nay có rất nhiều cái khó. Trong qui định
của hiến pháp cũng như trong luật tổ chức tòa án,
tính độc lập luôn được đề ra, nhưng thực sự là
tòa án rất khó độc lập.</em>
<strong>Trả lời:</strong> Nếu chúng ta chuyển từ phân tích
sự độc lập của một dân tộc sang sự độc lập của
một cơ quan thì đấy là một sự chuyển đổi không
thuận về mặt logic. Không có sự đồng dạng giữa
độc lập của một cơ quan với độc lập của một dân
tộc, vì thế cho nên không thể liên hệ khái niệm này
với khái niệm kia được. Tuy nhiên ở đây có một mối
liên hệ khác, đó là để đảm bảo quyền độc lập
của mỗi một cá thể thì tòa án giữ một địa vị
vô cùng quan trọng. Nền văn minh của nhân loại về cơ bản
được qui định bởi chất lượng và địa vị của tòa
án. Trong một hệ thống chính trị không có phân lập mà
chỉ có phân công, phân nhiệm (như hiện nay nhiều người
đang nói một cách công khai) thì đấy là một cách nói
tạm thời, không thể khẳng định nó là một nguyên lý
vĩnh cửu được.
Nguyên lý ấy có thể đúng trong trạng thái phát triển
hiện nay của đời sống chính trị Việt Nam, nhưng nếu
chúng ta khẳng định đấy là một chân lý vĩnh cửu
thì nhân loại sẽ nhìn chúng ta và cười nhạo. Nếu
chúng ta nói đấy là trạng thái hiện nay của mối quan
hệ trong cơ cấu quyền lực nhà nước thì người ta có
thể thông cảm được, vì người ta biết những người
lãnh đạo cao nhất, những người có trí tuệ lớn
nhất của dân tộc đứng đầu các cơ quan như vậy cũng
ý thức được sự trái khoáy của các trạng thái chính
trị nhưng chưa có điều kiện thay đổi. Vì thế mới
có hỗ trợ tư pháp. Tôi là người Việt Nam đầu tiên
với tư cách là giám đốc một công ty ký hợp đồng
cung cấp dịch vụ hỗ trợ tư pháp với Tổng chưởng
lý của chính phủ Úc (tương đương với Bộ trưởng Tư
pháp). Hỗ trợ tư pháp chính là nhấc các tầng văn minh
của các dân tộc khác nhau trong cộng đồng thế giới
vươn lên trạng thái có thể đối thoại với nhau một
cách bình đẳng. Nếu chúng ta từ chối hỗ trợ tư
pháp thì tất cả những sự hỗ trợ khác sẽ biến
mất. Người ta hợp tác với Việt Nam, đầu tư lâu dài
vào Việt Nam là người ta hy vọng rằng trạng thái hiện
nay của chúng ta là trạng thái tạm thời của chính trị.
Còn nếu chúng ta khẳng định đấy là nguyên lý bất di,
bất dịch thì tức là chúng ta từ chối hỗ trợ tư
pháp và chúng ta đóng cửa, chúng ta trở thành dân tộc
không chịu phát triển, không hòa nhập với văn minh nhân
loại. Nhiều nhà lãnh đạo cũng phải rút kinh nghiệm trong
khi nói với thiên hạ. Nói với thiên hạ khác nói với
người dân, cũng như anh nói với con anh khác anh nói với
hàng xóm. "Vợ chồng em bận quá, đi suốt ngày nên không
kèm cặp con được. Nếu cháu nó có chót dại ném đá
vào nhà bác thì bác thông cảm, hỏng đâu thì em chữa cho
bác". Đấy là một cách nói mà anh có thể duy trì
được quan hệ của anh với hàng xóm của anh. Còn nếu
anh nói rằng "gia đình tôi là thế, con tôi là thế, vĩnh
viễn thế, dứt khoát không thay đổi đâu, nó vẫn ném
đá vào nhà anh đấy", thì chỉ có mỗi một cách hoặc
người ta phải dọn đi, hoặc anh phải dọn đi.
<em><strong>Hỏi:</strong> Nhấn mạnh vai trò của Tòa án, phải
chăng ông muốn nói đến phải luôn có một cơ chế đảm
bảo độc lập, tự do, hạnh phúc của mỗi người
dân?</em>
<div class="boxright200"><div class="quotebody"><div class="quoteopen"><img
class="quoleft" src="/misc/quoleft.png"/></div>Đi đến tự do và
hạnh phúc của người dân là một hành trình chính trị,
một quá trình chính trị, một tác phẩm chính trị vĩ
đại mà ai làm được thì người ấy trở thành anh
hùng dân tộc. Chúng ta chỉ mới tôn vinh các anh hùng dân
tộc trong quá trình giành độc lập, nhưng chúng ta chưa
tôn vinh những con người biết đấu tranh, biết kiên
nhẫn, biết nghiên cứu, biết làm mọi thứ để tạo ra
cái nửa còn lại của đời sống độc lập - tự do -
hạnh phúc.<img class="quoright" src="/misc/quoright.png"/> <br
class="quoteclear"></div><</div>
<strong>Trả lời:</strong> Đấy là một hành trình chính
trị vô cùng quan trọng. Đi đến tự do và hạnh phúc của
người dân là một hành trình chính trị, một quá trình
chính trị, một tác phẩm chính trị vĩ đại mà ai làm
được thì người ấy trở thành anh hùng dân tộc.
Chúng ta chỉ mới tôn vinh các anh hùng dân tộc trong quá
trình giành độc lập, nhưng chúng ta chưa tôn vinh những
con người biết đấu tranh, biết kiên nhẫn, biết nghiên
cứu, biết làm mọi thứ để tạo ra cái nửa còn lại
của đời sống độc lập - tự do - hạnh phúc.
Tôi có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng
chúng ta sẽ thấy một ngày mà nhiều nhà lãnh đạo của
chúng ta thừa nhận công khai rằng: tự do gắn liền và
là cội nguồn của sự phát triển đột biến của xã
hội chúng ta.
<strong>Hỏi:</strong> Làm thế nào để có sự phát triển đột
biến?
<strong>Trả lời:</strong> Với tính chất hiện nay của thể
chế chính trị thì chúng ta không thể có đột biến
phát triển được. Bởi vì ai tạo ra sự đột biến?
Không có nhà lãnh đạo thiên tài nào có thể làm thay
nhân dân được cả. Làm phát triển một cách đột
biến những năng lực của xã hội, những năng lực của
người dân là cách duy nhất để tạo ra sự phát triển
đột biến của xã hội chúng ta. Và tự do của họ
chính là yếu tố số một, yếu tố cội nguồn của
sự phát triển đột biến các năng lực, mà không phát
triển đột biến các năng lực thì không có sự phát
triển dân tộc chúng ta một cách đột biến được
đâu. Nếu hy vọng vào tâm linh vu vơ, hy vọng vị thánh này,
vị thánh kia phù hộ cho dân tộc chúng ta ngủ mà vẫn
kiếm được tiền thì không bao giờ có. Không có hoạt
động tâm linh nào thay thế được hoạt động chính trị
cần mẫn để tạo ra trạng thái tự do cho người dân.
Đấy là điều chắc chắn.
<em><strong>Hỏi:</strong> Nhu cầu đó người dân và trí
thức có thể thấy rõ, nhưng như cầu của các nhà quản
lý chỉ cần sự ổn định, họ có thể bằng lòng với
thời cuộc, vậy làm cách nào để tiến trình nhanh
lên?</em>
<strong>Trả lời:</strong> Bởi vì lý thuyết của chúng ta
không tạo ra định nghĩa rõ ràng. Tài năng chính trị là
tài năng tạo ra sự phát triển đột biến của năng lực
xã hội. Chúng ta chấn chỉnh anh này, anh kia lệch hướng,
tức là chúng ta gán những căn bệnh kinh điển trong lý
luận cổ điển cho trạng thái hiện đại để đánh giá
chất lượng chính trị của cán bộ, thế thì làm sao
mà chúng ta có thể có tương lai được. Chúng ta đã
định nghĩa chính trị là gì đâu. Chính trị theo nghĩa
hiện đại chính là toàn bộ các hoạt động để tạo
ra sự phát triển năng lực xã hội.
<em><strong>Hỏi:</strong> Định nghĩa này có vẻ rất hiện
đại và dường như chưa có trong lý luận của các nhà
quản lý hiện nay?</em>
<strong>Trả lời:</strong> Tôi nghĩ rằng mọi cái mà ngày
mai dân tộc chúng ta cần, nhân dân chúng ta cần đều chưa
có trong ý niệm của ai cả. Hàng ngày những học giả
chính trị phải phấn đấu để có cái mà ngày mai thiên
hạ hỏi. Đừng bao giờ thỏa mãn là chúng ta biết tất
cả mọi thứ. Chỉ có những kẻ lười biếng và ngu dốt
mới tự hào rằng mình biết đủ mọi thứ, còn những
người trí thức thật, những người ý thức được
sứ mệnh và chức phận xã hội của mình thì phải
biết rằng cái mà ngày mai xã hội cần, hôm nay chúng ta
có thể chưa có và chúng ta phải chuẩn bị. Nếu đêm nay
không nghĩ cẩn thận thì ngày mai chúng ta không trả lời
được câu hỏi. Ví dụ đêm qua tôi không nghĩ thì không
thể trả lời câu hỏi của anh hôm nay được.
Tôi xem tờ báo của các anh là tờ báo quan trọng nhất,
xét về phương diện văn hóa chính trị mà tôi quan niệm.
Tôi xác nhận rằng hệ thống tòa án của chúng ta là
tiêu điểm để đánh giá chất lượng của nền văn minh
chính trị Việt Nam. Các anh không nên ngại rằng nếu thế
thì tòa án phải độc lập. Tòa án vẫn không độc
lập ngay cả khi nó ý thức được chuyện ấy, bởi vì
tính chất của hệ thống chính trị của chúng ta chưa cho
phép hay chưa thừa nhận sự độc lập của tòa án
đối với chính trị. Nhưng chánh án Tòa án Nhân dân
Tối cao là Ủy viên Trung ương Đảng, Chánh án Tòa án
Nhân dân Tối cao buộc phải làm cho quan niệm ở tầng cao
nhất của hệ thống chính trị nhận thức được địa
vị tinh thần của tòa án đối với toàn bộ tiến
trình phát triển của nền văn minh Việt Nam. Đấy không
phải là một nhiệm vụ vu vơ mà là nhiệm vụ quan trọng
nhất của hệ thống tòa án.
<em><strong>Hỏi:</strong> Tòa án là một nhánh quyền lực
trong bộ máy nhà nước cho nên nó cũng giống các cơ quan
khác. Các cơ quan này có căn bệnh chung là nặng về bao
biện, tìm cách giải thích những sai lầm, hư hỏng của
mình hơn là tìm cách khắc phục nó.</em>
<strong>Trả lời:</strong> Tôi tán thành cách nói của anh.
Tôi xác nhận rằng nếu tôi có nói thì tôi cũng sẽ
nói như anh. Sự bao biện không cứu được giá trị của
hệ thống tòa án, thậm chí nếu tiếp tục duy trì
trạng thái này thì cũng không cứu được hệ thống
chính trị. Chúng ta chỉ có thể cứu được hệ thống
chính trị, tức là chỉ có thể cứu được Đảng, cứu
được uy tín của Đảng trong toàn bộ tiến trình phát
triển của dân tộc chừng nào chúng ta biến những tư
tưởng hiện đại thành nội dung của đời sống chính
trị. Những tư tưởng hiện đại ấy là gì thì chúng ta
phải kiểm nghiệm. Kiểm nghiệm cái gì? Kiểm nghiệm
những giá trị phổ quát mà thế giới có và tính
thích ứng của nó đối với các điều kiện của xã
hội Việt Nam, với các điều kiện của văn hóa Việt
Nam, kể cả những khía cạnh có thể tương thích với
đặc điểm của hệ thống chính trị hiện nay.
Nếu phân lập thì không thích hợp với điều kiện
chính trị hiện nay, tôi hoàn toàn đồng ý điều ấy.
Nhưng chúng ta chưa phân lập được thì không có nghĩa là
chúng ta trở thành phụ thuộc. Trong ba bộ phận cấu
thành một nhiệm vụ chính trị chung của xã hội, không
phải là cái nào lệ thuộc cái nào mà chúng lệ
thuộc lẫn nhau. Các anh phải phân tích được rằng, nếu
chúng ta có sự phân lập hoàn toàn thì chúng ta gặp
phải khó khăn gì. Cái khó khăn ấy liệu có vượt quá
năng lực quản lý của hệ thống mà chúng ta đã xây
dựng ra, liệu có mâu thuẫn kịch trần với các nguyên
lý chính trị mà trong thời điểm hiện nay chúng ta không
thay đổi được hay không. Tất nhiên, nói như thế không
có nghĩa là chúng ta nằm bẹp ra, chúng ta ăn vạ cái
nhược điểm của hệ thống chính trị, như cái hiện nay
chúng ta đang làm là đổ lỗi cho cơ chế.
Chúng ta đều thấy rõ rằng không phân lập thì chúng ta
gặp phải một chuyện là tham nhũng tràn lan, lạm dụng
quyền lực tràn lan. Tham nhũng và lạm dụng quyền lực
tràn lan cũng phá vỡ sự tồn tại chính trị của những
người cộng sản, của Đảng Cộng sản không kém gì phân
lập hóa nó. Vậy chúng ta phải tìm một ranh giới hợp
lý giữa việc dung hòa các đặc điểm chính trị vốn
có của xã hội chúng ta với việc tạo ra một thể
chế mà các nhánh quyền lực có khả năng kiềm chế
lẫn nhau để tránh hiện tượng lệ thuộc vào nhau một
cách thái quá. Tìm ra ranh giới ấy chính là nhiệm vụ
của khoa học pháp lý, thậm chí nhiệm vụ của khoa học
chính trị.
Nói tóm lại, khi chúng ta không nói đến khái niệm tam
quyền phân lập hay nhà nước pháp quyền thì nó sẽ
biến thành chuyện tham nhũng và lạm dụng quyền lực. Cho
nên, làm thế nào để chống lại tham nhũng và lạm dụng
quyền lực trong điều kiện của nền chính trị mà
chúng ta đang giữ nguyên tắc cơ bản như vậy là nhiệm
vụ của khoa học chính trị trong điều kiện Việt Nam. Tôi
lấy một ví dụ, nếu chánh án tòa án tối cao mà là
một Ủy viên Bộ Chính trị thì chắc chắn là địa vị
của hệ thống tòa án sẽ khác. Một ví dụ khác: việc
tách Viện Kiểm sát khỏi Bộ Tư pháp là một cái mẫu
sai. Cơ quan công tố phải là một cơ quan quyền lực thì
nó mới đủ điều kiện để khởi tố cả những đối
tượng mà về mặt chính trị nó không khởi tố
được, và từ đó mới bảo đảm được tính kiểm
soát lẫn nhau trong cùng một hệ thống chính trị.
<em><strong>Hỏi:</strong> Vấn đề này đã có chủ trương.
Nghị quyết 49 ra sau nghị quyết 08 về cải cách tư pháp
đã nâng vai trò, địa vị của tòa án lên, do đòi hỏi
của các nước trên thế giới.</em>
<em>Theo kế hoạch đến 2020, chánh án tòa án tối cao
đương nhiên phải là ủy viên bộ chính trị và chánh án
địa phương phải là tỉnh ủy viên. Nghị quyết 49 đã ra
vài năm rồi, nhưng trong cả nước mới chỉ có vài ba
tỉnh có chánh án tham gia cấp tỉnh, còn người ta vẫn
coi tòa án chỉ như một sở thôi. Tóm lại, những qui
định như vậy dường như chúng ta có đủ nhưng vấn đề
thực thi nó, hiểu nó trong từng tình huống một lại
không giống nhau, vì thế nó mới dẫn đến chỗ có nó
nhưng nó lại không có hiệu lực?</em>
<strong>Trả lời:</strong> Có nó thật rồi thì vẫn chưa
hết vấn đề. Bởi vì ba anh có quyền lực như nhau thì
có thể có quyền tham nhũng như nhau. Nhưng ba con hổ mà
nhìn một con nai thì có thể con nai thoát chết. Đấy
không phải là giải pháp triệt để, nhưng nó là một
giải pháp tốt trong điều kiện chính trị của chúng ta.
Tôi luôn luôn tôn trọng các điều kiện chính trị cụ
thể của đất nước. Không xây dựng được một nhà
nước có thể kiềm chế lẫn nhau giữa các nhánh
quyền lực thì nhà nước trở thành tai họa. Với tình
trạng hiện nay thì nhà nước trở thành tai họa của
chính nó, tai học của các viên chức nhà nước chứ
không phải chỉ xã hội. Bây giờ chúng ta có những bộ
trưởng mà hễ cái gì bí thì đều hỏi ý kiến thủ
tướng, thủ tướng làm sao mà trả lời được hết
hàng nghìn câu hỏi một ngày.
<em><strong>Hỏi:</strong> Đấy có lẽ là văn hóa bao biện,
đổ lỗi?</em>
<strong>Trả lời:</strong> Cái nền văn hóa ấy nó tác
động ngược và tự bắn vào chính mình chứ không
phải chỉ bắn vào thiên hạ. Tôi ngồi đây nhưng tôi đang
hình dung thấy sự giãy dụa trước sức ép nhiều
chiều của xã hội lên trên một địa vị, mà mỗi một
địa vị chính trị ấy là một nhánh của thể chế.
<em><strong>Hỏi:</strong> Có một nhà nghiên cứu chính trị
nói rằng bộ máy nhà nước Việt Nam là bộ máy sao
chép cái nền cơ bản là của Liên xô, Đông Âu, về sau
này có ảnh hưởng của Trung Quốc, Mỹ, mỗi thứ một
chút, cho nên cái cỗ máy rất cọc cạch, chạy rất tốn
nhiên liệu và tốn nhớt. Nếu dừng nhớt thì cỗ máy
dừng hoạt động. Theo ông điều đó có đúng không?</em>
<strong>Trả lời:</strong> Tôi không thích cái mô tả ấy.
Cái mô tả ấy sai ở một chỗ là nó quên mất rằng
các yếu tố để cấu thành bộ máy ấy là con
người. Cái bộ máy ấy tồi nhưng nó không vô vọng như
cái mô tả ấy. Rất nhiều người không muốn tham nhũng.
Cái guồng ấy nó cuốn người ta đi và người ta phải
giãy dụa trong cái trào lưu tham nhũng ấy. Họ bị hút
bởi văn hóa tham nhũng thì họ phải nhìn cho kỹ mới
biết cách để điều chỉnh, để chống lại sức hút
ấy. Không phải cả bộ máy ấy là vứt đi. Không quốc
gia nào đủ tiềm lực để xây dựng lại bộ máy, vì
việc xây dựng lại bộ máy là kết quả của cách mạng.
Tôi có cả một lý thuyết về phi cách mạng hóa đời
sống chính trị. Thậm chí, tôi còn nói rằng không có
cách mạng cam, cách mạng nhung. Cách mạng là cách mạng
bởi nó gắn liền với hệ thống phương pháp tạo ra
nó. Các phương pháp ấy tiêu diệt con người, tiêu diệt
năng lực của một dân tộc. Và cái tai họa ấy nó kéo
dài hàng chục năm, thậm chí hàng thế kỷ sau đó.
<em><strong>Hỏi:</strong> Thói quen nói những cái rất phi
pháp chế như "thấu tình đạt lý" hoặc là "nhu cầu
chính trị địa phương" cũng thể hiện trạng thái tiêu
cực của hệ thống pháp luật?</em>
<strong>Trả lời:</strong> Đấy là mặt trái của sự vô
nguyên tắc về chính trị. Chúng ta tưởng rằng chúng ta
vô nguyên tắc thì chúng ta dễ thay đổi, nhưng tất cả
những kẻ lợi dụng sự vô nguyên tắc ấy nó thông minh
hơn và có qui mô rộng lớn hơn tòa án tối cao. Khi ứng
dụng các nguyên lý có chất lượng mềm dẻo, thấu tình
đạt lý của hệ thống tòa án tối cao là ở dưới
người ta làm linh tinh ngay. Chúng ta phải cảnh giác với
hiện tượng này, bởi vì sự linh tinh ấy nó sẽ lớn
lên ở qui mô xã hội. Cách đây khoảng 30 năm, tôi nói
với một vị thủ trưởng của tôi rằng "Anh à, chớ bao
giờ để cho khuyết điểm của một con người trở
thành số đông. Khi nó trở thành số đông thì nó là
nhân dân, mà chống lại nhân dân thì phải coi chừng". Cho
nên phải ngăn chặn ngay từ đầu. Muốn ngăn chặn ngay
từ đầu thì phải có điều kiện gì? Phải nhìn thấy
trước cái sự lan tỏa, sự phát triển đến mức đại
trà của các thói xấu. Mà cái đấy lệ thuộc vào
người đứng đầu các nhánh quyền lực.
Nhiều khi người ta cứ sốt ruột cho nên chỉ thấy các
lợi ích ngắn hạn trước mắt mà không thấy những
lợi ích khác lâu bền hơn. Nếu ở vào địa vị của
các quan chức thì tôi vẫn làm chức phận của tôi một
cách nghiêm túc và cái sẽ đó đem lại cho tôi một giá
trị xã hội rất lớn. Khi tôi đã trở thành một đối
tượng quí hiếm rồi thì vào lúc tôi về hưu, rất
nhiều công ty, tập đoàn sẵn sàng mời tôi tham gia vào
hệ thống quyền lực trong tổ chức của họ để sử
dụng các kinh nghiệm và uy tín xã hội của tôi. Lương
một năm của tổng thống Clinton có khi chỉ bằng tiền
thù lao cho một buổi nói chuyện sau khi ông ta về hưu. Cho
nên, khi đang đương chức thì anh phải trong sạch, sự trong
sạch ấy sẽ được trả giá bởi sự tín nhiệm của
xã hội đối với thương hiệu của một kẻ trong sạch.
Đấy là một kinh nghiệm, một công nghệ để thoát ra
khỏi sự nghèo khổ mà một quan chức trong sạch phải có
sau khi chấm dứt nhiệm kỳ.
Nhưng phải phân biệt được sự trong sạch với sự ngớ
ngẩn. Dày dạn kinh nghiệm, lọc lõi, chai sạn, từng trải
nhưng vẫn trong sạch được mới khó, còn vì ngẩn ngơ
mà trong sạch thì xã hội có đầy.
Trong vấn đề cải cách thể chế, điểm quan trọng nhất
sau cải cách lý luận chính trị, cải cách cương lĩnh
chính trị chính là cải cách hệ thống tòa án. Nó quan
trọng hơn cả cải cách kinh tế, hơn cả cải cách các
tập đoàn. Điểm trung tâm của cải cách tư pháp là cải
cách hệ thống tòa án. Nhưng tư pháp chỉ là một cái
chùa chung chung, cho nên cần phải tách hệ thống tòa án
ra khỏi khái niệm tư pháp để cải cách nó như một
thực thể chính trị có giá trị biểu dương công lý.
<em><strong>Hỏi:</strong> Về mặt lý luận, trong nghị quyết
đó người ta cũng cho rằng trong cải cách tư pháp thì
cải cách tòa án là trung tâm. Và trong cải cách tòa án
thì trọng tâm của nó là tranh tụng tại các phiên tòa,
thay cho cách xét xử một chiều trước đây. Trong việc
cải cách ấy cũng còn nhiều vấn đề. Ví dụ hiện nay
các hội thẩm nhân dân vẫn được chọn từ những
thẩm phán hoặc luật sư về hưu, điều này có vẻ
không phù hợp lắm với thông lệ trên thế giới?</em>
<strong>Trả lời:</strong> Thành phố Hà nội có mời tôi
làm hội thẩm nhân dân, tôi nói là tôi không nhận lời
được. Người ta hỏi tôi tại sao từ chối? Tôi trả lời
rằng, nếu tôi nhận lời các anh thì các anh thích, nhưng
những người luật sư khác trên thế giới này sẽ nhìn
tôi như một kẻ thiếu hiểu biết. Bởi vì tất cả các
tòa án trên thế giới này đều lựa chọn những đối
tượng không liên quan đến vụ án, không liên quan đến
những nghề nghiệp hiểu biết luật pháp một cách
đặc biệt vào bồi thẩm đoàn. Nhiệm vụ của các
hội thẩm nhân dân chính là đánh giá các vụ án bằng
tình cảm, bằng linh cảm con người, bằng nhận thức của
một người bình thường.
<em><strong>Hỏi:</strong> Không ít ý kiến rằng trước hết
phải có dân trí rồi sau đó mới có dân khí được. Khi
người dân hiểu được mình cần phải làm gì, quyền
của mình đến đâu thì lúc đó mới có thể nói đến
những vấn đề lớn lao hơn được. Nếu cứ tình trạng
thế này thì khó có thể nói đến sự thay đổi?</em>
<strong>Trả lời:</strong> Dân trí là vấn đề của mọi
thời đại, là vấn đề của mọi nhà nước, mọi xã
hội. Dân trí bao giờ cũng thấp nếu đem so với nhu cầu
của sự phát triển. Dân trí là kết quả của giáo dục,
mà hệ thống giáo dục nào trên thế giới này cũng lạc hậu
cả, vì thế luôn luôn tồn tại vấn đề dân trí.
Không bao giờ có xong cái này rồi mới làm cái khác, nó là
một quá trình tự lớn lên, tự phát triển trên tất cả các
khía cạnh, kể cả khía cạnh dân trí. Phải có dân chủ thì
mới có kinh nghiệm về dân chủ. Tại sao bây giờ chỉ có
mỗi một định nghĩa về nhân quyền thôi mà từ chủ tịch
nước cho đến người dân thường bình luận hoàn toàn khác
nhau và chẳng đâu vào đâu? Vì chúng ta đã có kinh nghiệm
về nhân quyền đâu mà chúng ta thảo luận được. Khi trao
đổi với các anh ở Hội đồng Lý luận Trung ương tôi
cũng đã nói như vậy.
<em><strong>Hỏi:</strong> Trở lại với chủ đề độc lập - tự
do - hạnh phúc, xem ra cuộc thảo luận này tập trung vào bức
xúc của xã hội hiện nay nhất là tự do. Chưa có tự do theo
mong muốn của người dân thì cũng chưa thể có hạnh phúc
được?</em>
<strong>Trả lời:</strong> Cái đó là chắc chắn, không thể có
hạnh phúc được. Lý do rất đơn giản, người ta có nhu cầu
thể hiện tất cả những ham muốn của con người mà người ta
không thể hiện được. Ngay cả sự không bằng lòng của con
người trước nhiều thực trạng xã hội người ta cũng không
thể hiện được. Người ta đau mà không kêu được.
Trong quyển sách "Cội nguồn cảm hứng" tôi có nói rằng
tự do chính là quyền kêu đau. Tự do ngôn luận về cơ bản
là quyền kêu đau của con người. Nhưng từ quyền kêu đau bản
năng cho đến quyền tự do ngôn luận là một khoảng cách, và
như vậy hệ thống chính trị của chúng ta phải chọn một
giới hạn hợp lý để ngăn chặn việc sử dụng quyền tự
do ngôn luận để chống đối mà không hạn chế các quyền
kêu đau của xã hội. Chính sách vĩ mô là chính sách mà nó
chẹt vào từng con người một, nếu con người không kêu đau
được thì có thể sẽ bị nó chẹt chết. Kêu đau là một
dấu hiệu để nhà nước lắng nghe và từ đó điều chỉnh
sự tác động có chất lượng vĩ mô thông qua chính sách.
<em><strong>Hỏi:</strong> Theo kinh nghiệm cũng như sự nhạy cảm
của một nhà nghiên cứu, ông có thể dự báo bao nhiêu lâu
nữa thì đất nước có thể phát triển với lộ trình
này?</em>
<strong>Trả lời:</strong> Tôi nghĩ rằng vấn đề đặt ra là
thiện chí chính trị và trí tuệ của những người lãnh
đạo. Nếu thiếu thiện chí một chút thì phải có trí tuệ
bù lại. Một nhà chính trị chỉ có thể tồn tại được
bằng sự bù trừ giữa hai thứ: trí tuệ và thiện chí. Thiếu
thiện chí một chút nhưng thông minh thì cũng có thể tìm ra
một giải pháp hợp lý, thiếu một chút trí tuệ mà nhiều
thiện chí thì xã hội vẫn có thể yêu mến.
Như lúc đầu tôi nói với anh là nếu chúng ta chưa có nhân
quyền thì chúng ta phải bù nó bằng tình yêu con người. Tình
yêu con người là thiện chí, ý thức về nhân quyền là trí
tuệ. Nếu chúng ta thiếu một chút trí tuệ về chuyện ấy thì
chúng ta bù lại bằng bản chất con người của nhà lãnh đạo.
Đấy là tiêu chí để xã hội vỗ tay trước sự lựa chọn
của Đảng đối với những nhà lãnh đạo tương lai của đất
nước.
<em>Xin cảm ơn ông về buổi nói chuyện thú vị và thẳng
thắn! </em>
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/6215), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét