Nguyễn Trần Bạt - Bàn về Độc lập – Tự do – Hạnh phúc (1)

<div class="special_quote">Ngay sau ngày Quốc khánh 2-9-1945 cho đến
nay, trong mọi văn bản hành chính, dưới quốc hiệu là tiêu
đề "Độc lập – Tự do – Hạnh phúc" như một khát vọng
lớn lao của dân tộc. Trước thềm năm mới 2010 đầy hoài
niệm những thành công trong quá vãng và thao thức hy vọng vào
tương lai, chúng tôi đã có cuộc phỏng vấn nhà nghiên cứu
Nguyễn Trần Bạt, tác giả cuốn "Cội nguồn cảm hứng"
chứa đựng nhiều suy ngẫm sâu sắc, thú vị xung quanh ba giá
trị "Độc lập – Tự do – Hạnh phúc" nêu trên…</div>

<h2>Độc lập là điều kiện của tự do</h2>

<em><strong>Hỏi:</strong> Chúng tôi được biết ông có những
bài viết luận giải về tự do và hạnh phúc rất thú vị.
Nhân đó tôi nghĩ rằng tại sao chúng ta lại không mở
rộng ra bàn về cả khái niệm độc lập trong mối quan
hệ với tự do và hạnh phúc. Chúng ta đều biết rằng
đi kèm sau quốc hiệu của chúng ta bao giờ cũng là ba giá
trị rất lớn lao như vậy. Chúng tôi muốn trò chuyện với
ông xung quanh chuỗi giá trị này?</em>

<strong>Trả lời:</strong> Chúng ta đã có hơn một nửa thế kỷ
bàn đến độc lập rồi. Độc lập là kết quả của một
cuộc đấu tranh cách mạng, một cuộc chiến tranh lâu dài tới
nửa thế kỷ. Độc lập là hệ quả tất yếu của quá trình
lịch sử vừa hào hùng, vừa gian khổ, vừa nguy hiểm và dài
quá sức chịu đựng thông thường của con người. Vì thế cho
nên, độc lập đã là một tất yếu, đã là một thực tế
khách quan. Đôi khi có những sự việc, có những sự kiện, có
những khía cạnh của cuộc sống nhắc nhở người ta nghĩ
đến độc lập. Lý do là độc lập là một thứ luôn luôn
dễ bị mất, nhất là trong thời hiện đại, khi mà quá trình
toàn cầu hoá đang lan rộng trong phạm vi toàn thế giới, cho
nên có những khía cạnh của khái niệm độc lập đôi lúc bị
xâm phạm, bị mất đi hoặc bị quên đi. Vì thế cho nên đôi
khi chúng ta phải nhắc nhở đến nó, nhưng thời lượng dành
cho nó không nên nhiều quá, bởi vì các nguy cơ ấy có nhưng
chưa phải là một thực tế, nhất là chưa trở thành một
thực tế chính trị. Đôi khi chúng ta vẫn nhầm lẫn về
những trạng thái giả mất độc lập.

<em><strong>Hỏi:</strong> Giả mất độc lập là thế nào, thưa
ông?</em>

<strong>Trả lời:</strong> Nghĩa là có những hiện tượng chúng
ta cảm thấy độc lập của mình bị xâm phạm. Do kết quả
của quá trình toàn cầu hóa, của quá trình xâm nhập lẫn nhau
mà có những hiện tượng va chạm làm người ta thức tỉnh về
sự mất độc lập hoặc về sự xâm phạm đến khái niệm
độc lập, nhưng nó chưa phải là hiện tượng thực tế mà là
hiện tượng tiền mất độc lập.

<em><strong>Hỏi:</strong> Theo ông, ba giá trị đó quan hệ với
nhau thế nào, ngang nhau hay phụ thuộc vào nhau?</em>
<strong>
Trả lời:</strong> Tôi cho rằng cái trước là tiền đề, là
điều kiện của cái sau. Đó là một chuỗi logic rất rành
mạch, rất tự nhiên là không có độc lập thì rất khó có
tự do, mà không có tự do thì không thể có hạnh phúc. Khi
không có độc lập, khi mất độc lập thì rất khó có tự do.
Nhưng khi không có tự do thì không thể có hạnh phúc được.
Đôi khi những cá nhân thông thái, những cá nhân khôn ngoan có
thể tìm thấy tự do trong các điều kiện độc lập không rõ
ràng. Ví dụ bỏ đất nước mà đi là không có độc lập,
nhưng người ta vẫn đi để tìm tự do. Tự do là cái mà có
thể tìm thấy ở mọi chỗ, nhưng độc lập thì người ta chỉ
có thể tìm thấy ở một chỗ là trên đất nước của mình
thôi. Cho nên tự do mà gắn liền với độc lập tức là tự do
gắn liền với sự cư trú của người Việt Nam trên chính lãnh
thổ của họ.

Chuỗi logic độc lập - tự do - hạnh phúc là một chuỗi quan
hệ có tính chất hệ quả, cái này là điều kiện của cái
kia. Ba phạm trù này chính là ba thành tố tạo ra các giá trị
tư tưởng của Hồ Chí Minh. Tôi không biết có ai cố vấn cho
ông cụ không, nhưng khi ông cụ đặt tiêu đề này bên dưới
tên gọi của đất nước chúng ta thì phải nói rằng việc
làm ấy thể hiện một ý chí, một khát vọng, một nỗi
niềm nhất quán trong toàn bộ đời sống tinh thần, đời sống
tư tưởng của ông cụ. Độc lập - tự do - hạnh phúc là
những phạm trù nền tảng của việc hình thành một quốc gia
mà ở đó con người tìm kiếm được đời sống thông
thường của mình, đời sống phát triển của mình và hạnh
phúc của mình.

<em><strong>Hỏi:</strong> Hạnh phúc là từ hay được nói đến,
với ông thì hạnh phúc là gì?</em>

<strong>Trả lời:</strong> Người ta hay nói đến dấu hiệu thỏa
mãn, nhưng tôi không đồng nghĩa thỏa mãn với hạnh phúc. Nếu
xác lập mối quan hệ giữa thỏa mãn và hạnh phúc thì tôi cho
rằng hạnh phúc là năng lực biết thưởng thức và giữ gìn
cho bền vững tất cả những gì tạo ra sự thỏa mãn. Hạnh
phúc là đầu ra của quá trình phấn đấu của con người với
tư cách là một cá nhân và với tư cách là một thành viên
của một cộng đồng, một dân tộc, một quốc gia.

<h2>Khát vọng lớn lao</h2>

<em><strong>Hỏi:</strong> Vậy ba phạm trù ấy được đặt
dưới quốc hiệu như một khát vọng để hướng tới hay
chỉ như một tính từ của chế độ mới?</em>

<strong>Trả lời:</strong> Người Việt Nam chúng ta là một dân
tộc vị lai, luôn luôn hướng tới tương lai, vì thế cho nên ba
phạm trù ấy được đặt bên dưới tên gọi đất nước
chúng ta để thể hiện khát vọng vươn tới.

Từ năm 1945 – 1975 chúng ta có 30 năm mới tiến tới độc lập
hoàn toàn, bởi độc lập theo nghĩa của người Việt Nam chính
là toàn vẹn lãnh thổ và toàn vẹn về các giá trị của
người Việt. Sự toàn vẹn lãnh thổ là mặt vật chất của
khái niệm độc lập, còn sự toàn vẹn các giá trị tinh
thần chính là tự do của dân tộc ấy. Không có độc lập thì
dân tộc ấy không có tự do trong quan hệ với các dân tộc
khác.

<div class="boxright200"><div class="quotebody"><div class="quoteopen"><img
class="quoleft" src="/misc/quoleft.png"/></div>Tự do của một quốc gia
và tự do của con người trong quốc gia ấy là hai mức độ
khác nhau của khái niệm tự do. Một dân tộc mà không có tự
do thì dân tộc ấy không thể bàn đến tự do của công dân
của nó được. Chúng ta phấn đấu cho mãi đến năm 1975 mới
có tự do của quốc gia này, và do đó chúng ta mới có đủ
địa vị chính trị, quyền lực chính trị để tổ chức ra
nền tự do của chính dân tộc này. Và bây giờ cũng phải
nói thẳng rằng tự do của mỗi một con người trong quốc gia
ấy cũng đang tiếp tục là một vấn đề chính trị khổng
lồ.<img class="quoright" src="/misc/quoright.png"/> <br
class="quoteclear"></div></div>
Nhưng khái niệm tự do trong cái mệnh đề có tính chất định
ngữ như anh nói là một khái niệm lý tưởng, nó chưa phải
là một thực tế. Tự do của một quốc gia và tự do của con
người trong quốc gia ấy là hai mức độ khác nhau của khái
niệm tự do. Một dân tộc mà không có tự do thì dân tộc ấy
không thể bàn đến tự do của công dân của nó được. Chúng
ta phấn đấu cho mãi đến năm 1975 mới có tự do của quốc gia
này, và do đó chúng ta mới có đủ địa vị chính trị,
quyền lực chính trị để tổ chức ra nền tự do của chính
dân tộc này. Và bây giờ cũng phải nói thẳng rằng tự do
của mỗi một con người trong quốc gia ấy cũng đang tiếp
tục là một vấn đề chính trị khổng lồ.

<em><strong>Hỏi:</strong> Như vậy, sau khi giành được độc lập,
toàn vẹn lãnh thổ thì vấn đề tự do trở thành mối quan tâm
và đáng chú trọng nhất hiện nay phải không thưa ông?</em>

<strong>Trả lời:</strong> Hẳn là như vậy. Tự do của cả dân
tộc thì phải trả bằng máu mới có, còn tự do của mỗi
một con người trong quốc gia ấy thì phải trả bằng mồ hôi
nước mắt. Bởi chúng ta phải làm cho con người tự do với
điều kiện vật chất, tức là không được đói khổ quá.
Chúng ta phải làm cho con người tự do với quá khứ, bởi vì
quá khứ của chúng ta vất vả quá. Chúng ta phải tự do với
nhau bởi chúng ta vẫn chưa tôn trọng lẫn nhau. Và đặc biệt
là chúng ta phải tự do với những người khác ở bên ngoài
lãnh thổ chúng ta hoặc những người khác với chủng tộc
chúng ta. Khi nào mà mỗi một người dân chưa có cái quyền tự
do ấy thì phải nói rằng quyền tự do của dân tộc là một
quyền hạn chế. Bởi khi từng người dân chưa có tự do thì
nhân dân nói chung không đủ bản lĩnh để bảo vệ tự do của
dân tộc mình, tức là bảo vệ cái tự do vĩ mô.

<em><strong>Hỏi:</strong> Tức là từ cái tự do vĩ mô đến cái
tự do cho mỗi cá nhân còn là một chặng đường?</em>

<strong>Trả lời:</strong> Đúng, ây là một quá trình phấn đấu
rất gay go. Chúng ta đã đi một nửa chặng đường để đạt
được độc lập - tự do - hạnh phúc của dân tộc này,
nhưng chúng ta chưa thực hiện được công việc trong nửa
chặng còn lại là mỗi một con người, mỗi một thành phần
tạo ra dân tộc ấy có những quyền tương tự. Chúng ta đã
làm được một nửa, nửa rất quan trọng phải trả bằng
nhiều máu, nhiều nước mắt, bây giờ chúng ta phải làm nốt
chặng còn lại, chặng đem gói vĩ mô ấy phân bố lên trên
mỗi một đầu người. Khi nào mà mỗi một người dân chưa có
cái quyền tự do ấy thì phải nói rằng quyền tự do của dân
tộc là một quyền hạn chế.

Mỗi một con người phải được sở hữu tự do và đó
không phải là một quyền lợi có chất lượng chính trị thông
thường. Người ta vẫn xem tự do như là những quyền chính
trị, nhưng không phải thế. Một dân tộc không thể có sức
mạnh được nếu cái gói tự do của dân tộc ấy không đến
được từng người. Đây là một lợi ích chính trị khổng
lồ của mọi quốc gia. Nếu chúng ta không ý thức được
chuyện ấy, chúng ta vẫn nói rằng chúng ta nghèo, chúng ta khổ,
chúng ta chưa phát triển, chúng ta không cần đến tự do, chúng
ta không cần đến dân chủ thì đấy là ngụy biện. Nhưng
nếu có ai đó nói rằng chúng ta dùng quyền ấy để chống
lại chính quyền mà chúng ta đã thiết lập ra bằng cách chưa
phải là khoa học lắm, hay bằng cách chưa phải là phổ quát
lắm là sai. Nó vẫn là một chính quyền, nó vẫn là người
đại diện cho dân tộc này để thương lượng, để đối
thoại, để đấu tranh, để hợp tác.

Cho nên, tôi nghĩ rằng chúng ta phải ý thức được các quyền
tự do là phổ quát, nhưng việc sử dụng các quyền ấy thì có
điều kiện trong từng quốc gia một. Điều kiện nào? Điều
kiện vật chất là chúng ta chưa có, điều kiện nhận thức
chúng ta cũng chưa có, vậy thì chúng ta phải phấn đấu cho
quá trình ấy. Hay nói cách khác, thế kỷ XXI này là thế kỷ
người Việt Nam phấn đấu để đưa đất nước của mình
đến một chặng mà ở đó chúng ta thiết lập một cách thành
công nền dân chủ Việt Nam, tức là dân chủ đến từng con
người Việt Nam, và cái đấy sẽ tạo ra sự phát triển
bùng nổ của dân tộc này.

Lâu nay về mặt chính trị chúng ta vẫn tranh luận giữa quyền
quốc gia với quyền của từng con người, nhưng hai cái đấy
không mâu thuẫn với nhau. Khi các quyền ấy không thuộc về con
người và không đến từng con người thì năng lực của dân
tộc không đủ để giữ gìn độc lập - tự do - hạnh phúc cho
cả dân tộc. Cho nên không có mâu thuẫn chính trị nào ngăn
cản người Việt chúng ta đi đến phổ quát hoá các giá trị
thuộc về con người. Những ai cho rằng có mâu thuẫn này, mâu
thuẫn kia giữa khái niệm tôi và chúng ta, giữa khái niệm dân
tộc và cá nhân thì đấy chính là hiểu nhầm về mặt chính
trị, tôi không tin là có mâu thuẫn ấy.

<em><strong>Hỏi:</strong> Để những cái đó trở thành sở hữu
của mỗi người thì người ta phải có đủ năng lực nhận
thức để bảo vệ quyền đó của mình, kèm theo đó là phải
có nhà nước pháp quyền để đảm bảo tự do của người
này không ảnh hưởng đến tự do của người khác. Tóm lại,
chúng ta cần tự do nhưng dường như chúng ta lại cần có một
vạch phấn để biết chúng ta được tự do trong khoảng nào
đó. Chính cuộc đấu tranh này làm cho vạch phấn nó càng mở
rộng. Vậy vấn đề đặt ra là mở rộng đến đâu là
vừa và như thế nào là phù hợp?</em>

<strong>Trả lời:</strong> Tôi nghĩ rằng không nên cơ học hoá
hay sơ đồ hoá khái niệm tự do của con người theo hình ảnh
mà anh mô tả. Không có vạch phấn nào cả. Bởi nếu có tự do
thật cho con người thì người nọ sẽ vỗ vai người kia để
bảo rằng anh đang đi quá. Nhà nước chúng ta đã làm thay xã
hội việc vỗ vai từng người một, và do đó nó tạo ra sự
khó chịu về mặt tâm lý. Đấy là kết quả của sự không
khéo hoặc không nhận thức đầy đủ. Con người vỗ vai nhau
nhiều chứ. Qua sự tranh cãi trên các hệ thống thông tin, sự
tranh cãi trong xã hội về một số sai trái của các quan chức
hoặc công chức, chúng ta thấy rằng người dân Việt Nam dám
vỗ vai cả nhà nước thì tại sao họ không vỗ vai nhau. Tất
nhiên những chuyện như vậy có mặt trái của nó, có những
hệ quả xã hội hoặc chính trị nào đó của nó, nhưng về cơ
bản những chuỵên ấy là chuyện tốt đẹp. Khả năng vỗ vai
nhau và vỗ vai các công chức hoặc quan chức trong việc điều
hành xã hội là một biểu hiện rất lành mạnh của xã hội
chúng ta. Với tư cách là một nhà nghiên cứu tôi rất hạnh
phúc khi thấy có những dấu hiệu như vậy. Bởi vì đấy
chính là những dấu hiệu thức tỉnh rằng người Việt đang
sống, người Việt có thể sống, người Việt phải sống và
sống rất lành mạnh, sống trong tự do, sống trong dân chủ
chứ không phải chỉ sống trong vạch phấn mà anh vừa nói.

Tôi không nói đến các hình thức nhà nước như tam quyền phân
lập, tôi nói rằng tất cả những cái đấy chỉ là phương
tiện để đảm bảo nội dung mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
đưa vào trong quốc hiệu của đất nước của chúng ta. Tam
quyền phân lập là những điều kiện hay những phương tiện
có tính chất lý thuyết, có tính chất kỹ thuật để tạo
điều kiện cho những nội dung ấy hình thành và phát triển
hoặc tạo ra lợi ích xã hội chứ nó không phải là cái bắt
buộc. Tôi lấy ví dụ, khái niệm tế nhị nhất mà ai cũng
ngại bàn là khái niệm nhân quyền nhưng tôi không ngại, bởi
vì tôi nhìn nhân quyền khác với những người khác. Những
nhà lãnh đạo hay những người cầm quyền thì nhìn nhân
quyền như là những điều kiện không thể thực hiện trong xã
hội mà trình độ dân trí thế này, trình độ vật chất thế
này, và năng lực quản lý thế này. Đấy là chúng ta căn cứ
vào những điều kiện thực tế để hạn chế các mức độ
phát triển của khái niệm này. Có những người bị quản lý
cảm thấy quyền của mình bị xâm phạm, và nếu không có nó
thì ta không hạnh phúc hoặc nếu không có nó thì nhà nước
xấu. Tôi không cho rằng một trong hai quan điểm ấy là đúng
đắn. Chúng ta phải nhớ rằng xã hội là một cộng đồng tự
cân bằng và biểu hiện hình thức hay biểu hiện bên ngoài
của sự cân bằng ấy là khả năng vỗ vai lẫn nhau. Gần đây
nếu anh nghiên cứu dư luận thì sẽ thấy một số hiện
tượng có tính chất phản đối. Ở đây tôi chưa nói
chống đối bởi trên thực tế chúng ta ít có hiện tượng
chống đối ở trong nước, chỉ có những hiện tượng chúng
ta xem và chúng ta ngộ nhận là chống đối. Mức độ cao
nhất của các hiện tượng chính trị ở Việt Nam hiện nay là
phản đối chứ không phải chống đối. Cái đấy nó diễn ra
trên thực tế, nhưng nó không trầm trọng như cách mà chúng ta
đo đạc. Chính những quan niệm sai về các mức độ khác nhau
của các dòng tâm lý xã hội làm cho chúng ta sử dụng những
biện pháp thái quá.

Quay trở lại vấn đề nhân quyền. Trong rất nhiều xã hội
người ta chưa có các bộ luật tương ứng để thừa nhận
nhân quyền như một quyền hiển nhiên, nhưng tình yêu giữa con
người với nhau đã thay thế việc thừa nhận một cách pháp
lý cái gọi là quyền con người. Tất nhiên tình yêu của con
người không thay thế một cách bền vững, một cách chắc
chắn và một cách bình đẳng được, nhưng trong những quá
trình dịch chuyển nào đó thì tình yêu giữa con người với
nhau, hay nói cách khác là nhân đạo đã thay thế pháp đạo.
Nhưng đôi khi vì chúng ta không tin vào nhau, xã hội không nhìn
thấy cái cốt lõi tốt đẹp từ trong các lực lượng khác
nhau, cho nên chúng ta đối với nhau bằng một thái độ cảnh
giác hơi địch ta, và cái đấy nó tạo ra các bi kịch không
cần thiết.

<h2>Tự do – Quyền con người</h2>

<em><strong>Hỏi:</strong> Có rất nhiều yếu tố, nguyên nhân liên
quan, tác động đến sự phát triển của đất nước, vì sao
ông lại nhấn mạnh và đặc biệt chú trọng đến quyền tự
do?</em>

<strong>Trả lời:</strong> Có một nhóm nghiên cứu nào đó trên
thế giới nói rằng xã hội phát triển bằng hai yếu tố, thứ
nhất là gen và thứ hai là men. Tôi đã Việt ngữ hoá khái
niệm men ấy thành khái niệm cảm hứng, cho nên tôi mới
viết quyển sách "Cội nguồn cảm hứng". Cảm hứng mà mất
đi thì mọi sự phát triển sẽ rất lâu vì nó phát triển nhờ
vào các gen và chỉ bằng gen. Tất cả những sự biến đổi
về gen là biến đổi rất chậm, nó là biến đổi thông qua
hình thức chọn lọc. Nhưng đôi khi khái niệm men hoặc cảm
hứng tạo ra những trạng thái bùng nổ, những trạng thái phát
triển đột biến. Sau nhiều chuỗi phát triển bằng cảm
hứng, thì nó tạo ra những kết quả mang chất lượng cách
mạng. Và nếu nghiên cứu Cách mạng Tháng Tám của chúng ta
thì chúng ta thấy rằng đó là kết quả của cảm hứng.

<em><strong>Hỏi:</strong> Ông đang nói đến một khía cạnh của
tự do?</em>

<strong>Trả lời:</strong> Vâng. Tự do là gì? Tự do tức là
người ta có thể phát triển hết năng lực vốn có của
mình. Tự do là quyền phát triển, tự do không phải chỉ là
quyền chính trị. Từ xưa đến nay các nhà chính trị vẫn gán
cho tự do một ý nghĩa rất hạn hẹp và về cơ bản là sai.
Các quyền chính trị chỉ khẳng định các quyền phát triển,
tạo điều kiện cho các quyền phát triển, nhưng nó không phải
là quyền phát triển. Chính những giải pháp chính trị vụng
về đã làm cho các quyền phát triển trở thành các quyền
chính trị. Khi nào còn ở trạng thái chính trị thì các quyền,
ví dụ như quyền con người, không phát huy tác dụng tích cực.

<em><strong>Hỏi:</strong> Tự do có thể tính trong quyền con
người không?</em>

<strong>Trả lời:</strong> Tự do là quyền cơ bản của con
người, là quyền gốc của con người, tự do tạo ra con
người. Tôi không nghiên cứu tự do như một quyền chính trị.
Trong toàn bộ tác phẩm "Cội nguồn cảm hứng", tôi không
nghiên cứu tự do như một quyền chính trị, và trong thực tế
về mặt lý luận tôi cũng không xem tự do là quyền chính trị.
Tự do bị chính trị hoá chứ không phải bản chất nó là một
quyền chính trị.

<em><strong>Hỏi:</strong> Nhưng có gì mâu thuẫn giữa cái mong
muốn của người quản lý muốn cho mọi việc ổn định,
bình yên, không đột biến với khát vọng tự do của mỗi
người dân như ông nói?</em>

<strong>Trả lời:</strong> Luôn luôn có mâu thuẫn giữa quyền
chung và quyền riêng, vì thế nhân loại đã tìm ra hàng trăm,
hàng nghìn cách để dàn xếp mối quan hệ giữa những mâu
thuẫn ấy. Anh cứ tưởng tượng xem bỗng nhiên gần một
trăm triệu người Việt Nam không ai cần đến tự do thì dân
tộc chúng ta trở thành cái gì? Bây giờ các nhà lãnh đạo
của chúng ta, những người quản lý của xã hội chúng ta bỗng
nhiên có một nhân dân ngoan ngoãn, bảo gì làm nấy thì chắc
chắn là toàn thể tập thể lãnh đạo ấy sẽ biết làm gì?
Với tư cách một người làm cha, anh thử nghĩ xem nếu tất cả
những đứa con của anh đều ngoan và suốt ngày chờ bố chỉ
bảo nó làm cái gì thì anh sống làm sao được. Cho nên, đôi
khi vì những nhu cầu có chất lượng quản lý mà các nhà
quản lý đã đẩy chính mình đến chỗ buộc phải cõng một
dân tộc.

Nếu nhà quản lãnh đạo như năng lực hiện nay lại phải cõng
cả dân tộc ấy thì khốn khổ cho họ bao nhiêu. Tôi biết
rằng tâm trạng lo lắng về một dân tộc hay một cộng đồng
dân chúng chờ đợi sự chỉ đạo, chờ đợi sự khuyên bảo,
chờ đợi lệnh để làm nó đè nặng lên tâm lý của một
nhà chính trị có trách nhiệm. Vì chúng ta cứ chỉ trích
Đảng với Chính phủ nên chúng ta rất lúng túng và sợ nói
đến tự do. Tôi không sợ nói đến tự do vì tôi không chỉ
trích họ. Tôi vạch ra cho họ thấy rằng nếu dân tộc này
ngồi yên để chờ họ chỉ đạo thì thân phận của họ,
những người lãnh đạo cao nhất sẽ khốn khổ đến mức nào.

Tất nhiên, khi con người chưa được giáo dục về tự do
mà thả họ ra để họ làm một cách tự do thì họ sẽ
làm lung tung và do đó sẽ gây ra nhiều rắc rối. Nhưng xử
lý những sự rắc rối của đời sống xã hội chính là
nội dung của đời sống quản lý. Những nhà quản lý phải
luôn luôn hiểu rằng xã hội càng phức tạp bao nhiêu thì danh
dự của nhà quản lý, công tích của nhà quản lý càng lớn
bấy nhiêu. Bởi các nhà quản lý sinh ra để quản lý những
cái khó chứ không phải để sắp đặt một xã hội ngủ yên
trên các chỉ dẫn của họ.

(còn tiếp)

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/6214), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét