Nguyễn Gia Kiểng - Bắt đầu một giai đoạn thay đổi dồn dập

Quan hệ Việt – Trung đã thay đổi từ ngày 31-12-2008. Ngày hôm
đó Việt Nam và Trung Quốc hoàn tất việc cắm mốc biên giới
một cách tưng bừng, nhưng sau đó quan hệ giữa hai nước nhanh
chóng chuyển sang thế đối đầu. Các biến cố gây căng thẳng
dồn dập tới.

<h2>Một vài thí dụ.</h2>

Tháng 4-2009 Trung Quốc đơn phương ra lệnh cấm ngư dân Việt
Nam đánh cá trên Biển Đông từ 15/5 đến hết tháng 8 và ngay
sau đó gia tăng uy hiếp ngư dân Việt Nam, bắn chết nhiều
người, bắt giam, tịch thu tài sản, phạt tiền v.v. Việt Nam
mới đầu im lặng, thậm chí còn nhìn nhận ngư dân Việt Nam
có ăn cắp lưới để biện minh cho sự khiếp nhược của
mình, sau đó phản đối một cách ngày càng quả quyết hơn.

Tháng 5-2009 Trung Quốc đơn phương tuyên bố chủ quyền kinh tế
trên biển với một vùng hình lưỡi bò bao gồm gần trọn
Biển Đông và biểu quyết đạo luật bảo vệ vùng biển và
các hải đảo; Việt Nam phản đối và tranh thủ được sự
đồng tình của Malaysia trong một bản tuyên bố chung về lãnh
hải của hai nuớc đệ trình Liên Hiệp Quốc.

Tháng 7-2009, cùng với việc Mỹ chấp nhận ký Thoả Ước Hữu
Nghị và Hợp Tác với ASEAN để có thể tham gia Hội Nghị
Thượng Đỉnh Đông Á (East Asia Summit, EAS), ngoại trưởng Mỹ
trưởng Mỹ Hillary Clinton trịnh trọng tuyên bố tại Bangkok:
"<em>Mỹ trở lại Đông Nam Á</em>".

Trung Quốc tổ chức du lịch trên Hoàng Sa và Việt Nam phản
đối. Trung Quốc và Việt Nam đều đặt chính quyền địa
phương tại Hoàng Sa và Trường Sa. Gần đây, tháng 3 năm nay,
Trung Quốc tiến thêm một bước quyết định trong tham vọng
bành trướng, tuyên bố coi Biển Đông là vùng "<em>quyền lợi
cốt lõi</em>", một cách để nói rằng sẵn sàng dùng võ lực
nếu cần.

Một số sự kiện khác cũng đã góp phần đầu độc quan hệ
giữa hai bên một cách quyết định. Các báo điện tử Trung
Quốc cho đăng một số bài đe doạ đánh Việt Nam, hoặc cảnh
giác về "nguy cơ" Việt Nam sẽ tấn công họ; tướng hồi hưu
Tô Quang Vũ tuyên bố: "<em>Sở dĩ trong quá khứ chúng tôi bình
lặng trong các tranh chấp với các nước láng giềng là vì hải
quân của chúng tôi chưa đủ sức bảo vệ các khu kinh tế của
mình, nhưng bây giờ thì hải quân đã có khả năng làm nhiệm
vụ</em>". Sự "bình lặng" của Trung Quốc cho tới nay đã quá
ngột ngạt rồi, người ta tự hỏi Trung Quốc sẽ còn hung hăng
như thế nào trong thời gian sắp tới? Gần như một lời tuyên
chiến. Nên nhớ là khác với tại các nước phương Tây, các
tướng hồi hưu Trung Quốc vẫn còn sinh hoạt đảng và đo đó
những điều họ tuyên bố về chính sách của nhà nước vừa
phản ánh những gì họ đã biết trong thời gian tại chức vừa
không thể trái với chính sách hiện hành. Vả lại đảng và
nhà nước cộng sản Trung Quốc đã không hề đưa ra một lời
đính chính nào sau đó. Các nước trong vùng đều đã hiểu là
Trung Quốc đã dứt khoát chọn lựa chính sách bá quyền khu
vực dựa trên sức mạnh, và họ đều đã nhanh chóng tăng
cường sức mạnh không quân và hải quân, đặc biệt là Việt
Nam, nước chịu áp lực trực tiếp và mạnh nhất của Trung
Quốc, đồng thời cũng là nước có thể bị thiệt hại quyền
lợi nhiều nhất. Chính quyền CSVN đã hiểu là dù muốn hay
không đối đầu cũng là chọn lựa bắt buộc. Một đối sách
mới bắt đầu. Việt Nam làm ngơ để cho một số trí thức
lên án Trung Quốc, cụ thể là phản đối dự án cho Trung Quốc
khai thác bôxit tại Tây Nguyên, sau đó bộ ngoại giao lập trang
Web Biên Giới Lãnh Thổ chủ yếu đưa những thông tin và tuyên
cáo phản đối sự chèn ép của Trung Quốc; Việt Nam mua máy bay
chiến đấu hiện đại và tàu ngầm của Nga và Trung Quốc coi
đây như là một sự chuẩn bị để đối đầu với họ. Việt
Nam gia tăng quan hệ hợp tác về quân sự với các cường
quốc, bộ trưởng quốc phòng Việt Nam thăm viếng Hoa Kỳ, và
Trung Quốc nói bóng gió rằng Việt Nam đang tìm hậu thuẫn để
chống lại họ.

Tháng 3 và tháng 4-2010 Trung Quốc cho tập trận hải quân trong
vùng Đông Nam Á xuống tận phía đông eo biển Malacca và thực
tập oanh tạc các mục tiêu ngoài biển trong vùng Trường Sa.
Trung Quốc cũng không giấu mục tiêu nới rộng hoạt động
của hải quân ra khắp Thái Bình Dương. Sự leo thang dồn dập
của Trung Quốc đã khiến Hoa Kỳ hiểu rằng họ phải hiện
diện tích cực hơn tại vùng này. Các tàu chiến Mỹ trang bị
hoả tiễn Tomahawk được điều động đến thăm viếng thường
xuyên Biển Đông và các vùng biển lân cận. Nên lưu ý là trái
với các hoả tiễn nguyên tử chỉ có mục đích phô trương
một khả năng hành động trong trường hợp tuyệt vọng, các
hoả tiễn Tomahawk là những hoả tiễn chính xác với tầm hoạt
động 2500km đã từng được sử dụng, chúng nói lên một ý
chí sẵn sàng can thiệp nếu cần. Mỹ cũng bán thêm vũ khí cho
Đài Loan và tập trận với hải quân Hàn Quốc ngay sát nách
Trung Quốc. Báo chí và các quan chức Việt Nam nói tới các
chuyển động của hải quân Mỹ một cách có thiện cảm.

Người ta còn có thể kể vô số thí dụ khác. Điều đáng lưu
ý là những lời qua tiếng lại giữa Trung Quốc và Việt Nam
ngày càng nhiều và càng ít nể nang. Tuy chưa có những lời
tuyên bố thực sự thù địch giữa hai chính quyền nhưng
người ta không thấy một thiện chí hoà giải nào, trái lại
căng thẳng ngày càng gia tăng.

<h2>Và điểm đoạt tuyệt vừa đạt tới.</h2>

Tại Diễn Đàn Khu Vực ASEAN (ARF) khai mạc tại Hà Nội ngày
23-7 vừa qua, ngay sau hội nghị các ngoại trưởng ASEAN, Mỹ và
các nước ASEAN, đặc biệt là Việt Nam, đã công khai đứng
cùng một phía đối đầu với Trung Quốc, cùng phản bác những
yêu sách của Trung Quốc và cùng ủng hộ công thức giải
quyết các tranh chấp trên Biển Đông qua thảo luận đa phương
thay vì qua những cuộc thương thuyết song phương như Trung Quốc
vẫn đòi hỏi. Ngay trước mặt ngoại trưởng Trung Quốc Dương
Khiết Trì, Ngoại trưởng Hillary Clinton đã tuyên bố rằng
quyền lợi quốc gia của Hoa Kỳ gắn bó với tình hình an ninh,
tự do lưu thông và sự tôn trọng công pháp quốc tế trên
Biển Đông, do đó Hoa kỳ đặc biệt quan tâm tới những tranh
chấp trong vùng biển nàykể cả những tranh chấp trên hai quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và Hoa Kỳ sẽ ủng hộ các nước
muốn giải quyết những tranh chấp bằng thương thuyết thay vì
sức mạnh. Bà Clinton nói thêm rằng chủ quyền kinh tế trên
biển chỉ có thể xác định dựa trên chủ quyền đã được
nhìn nhận về đất và đảo. Ngoài việc phủ nhận cái lưỡi
bò của Trung Quốc đây là lần đầu tiên mà Hoa Kỳ chính
thức bác bỏ chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa và, một cách gián tiếp nhưng rõ rệt,
đứng về phía các nước ASEAN và Việt Nam trong thế đối
đầu với Trung Quốc. Đúng là Hoa Kỳ đã trở lại Đông Nam
Á.

<center>* * *</center>

Phải nhìn bước ngoặt quan trọng này như thế nào?

Trước hết, đối với Hoa Kỳ trở lại Đông Nam Á vào lúc
này chỉ giản dị là trở lại Việt Nam. Bởi vì người Mỹ
không có nhu cầu "trở lại" Đông Nam Á. Họ chưa hề ra đi và
còn đang hiện diện rất mạnh tại đây. Năm nước Đông Nam Á
quan trọng – Indonesia, Philippines, Thái Lan, Malaysia và Singapore -
đều là những đồng minh thân thiết của Hoa Kỳ. Trở lại
Việt Nam có nghĩa là Mỹ sẽ tăng cường quan hệ hợp tác với
Việt Nam và sẽ không để cho Trung Quốc ức hiếp Việt Nam. Và
quả như thế, đầu tháng 8, tàu sân bay George Washington đến
thăm cảng Đà Nẵng, một hội nghị giữa Hoa Kỳ và bốn
nước thuộc hạ lưu sông Mê Kông đang khốn khổ vì Trung Quốc
xây đập giữ nước trên thượng nguồn – Việt Nam, Lào,
Campuchia, Thái Lan - sắp được triệu tập; sau đó là một hội
nghị thượng đỉnh ASEAN - Mỹ vào tháng 10 sắp tới. Tất cả
như báo hiệu một liên kết giữa các nước ASEAN dựa vào Mỹ
để đương đầu với Trung Quốc.

Điều thứ hai cần được đặc biệt lưu ý là Mỹ đã trở
lại Đông Nam Á trong thế thượng phong. Từ lâu các nước ASEAN
đã muốn Hoa Kỳ hiện diện tích cực hơn trong vùng. Từ nhiều
năm nay họ đã yêu cầu Hoa Kỳ ký Hiệp Ước Hữu Nghị và
Hợp Tác với ASEAN để hiện diện trong Hội Nghị Thượng
Đỉnh Đông Á (EAS) nhưng Hoa Kỳ đã từ chối. Lý do là vì
hiệp ước này qui định các nước ký kết không can thiệp vào
các vấn đề nội bộ của nhau, thí dụ như không đặt vấn
đề nhân quyền. Đó là điều khoản mà Hoa Kỳ không chấp
nhận, họ đang trừng phạt Myanmar (Miến Điện), một thành
viên ASEAN, vì vi phạm nhân quyền và cũng dành quyền nhắc nhở
Việt Nam vì cùng lý do. Dù điều khoản này chỉ hiện diện
trong hiệp ước như một nguyên tắc chứ không phải như một
ràng buộc – không có qui định chế tài nào đối với các
nước không tôn trọng - nhưng Hoa Kỳ vẫn muốn giữ khả năng
can thiệp một cách danh chính ngôn thuận, và vấn đề đã dùng
dằng từ nhiều năm nay. Sau cùng thì trước chính sách bá
quyền ngày càng lộ liễu của Trung Quốc các nước ASEAN đã
phải nhượng bộ để có được hậu thuẫn của Hoa Kỳ. Chính
họ, trong hội nghị các ngoại trưởng ASEAN tại Hà Nội ngay
trước Diễn Đàn Khu Vực ARF, đã phải vị phạm nguyên tắc
này bằng cách phê phán mạnh mẽ tập đoàn quân phiệt Myanmar.
Việt Nam cũng đã phải nhượng bộ. Theo ông Phạm Gia Khiêm, Hà
Nội đã chấp nhận coi tình trạng nhân quyền tại Việt Nam
như là một vấn đề để thảo luận chứ không còn là một
vấn đề nội bộ nữa. Tóm lại, dù cần bảo vệ quyền lợi
và chỗ đứng của mình tại Đông Nam Á và trên Biển Đông,
Hoa Kỳ đã chỉ trở lại trong thế mạnh, với sự cầu khẩn
của các nước ASEAN, và đặc biệt của chính quyền CSVN. Không
những thế Mỹ còn trở lại với sự đồng tình và đồng
hành của Pháp. Cần lưu ý là ngay sau Diễn Đàn Khu Vực ARF bộ
trưởng quốc phòng Pháp Hervé Morin đã đến Hà Nội ký hiệp
ước hợp tác quân sự giữa hai nước theo đó Pháp sẽ cung
cấp thiết bị và giúp đào tạo các sĩ quan không quân và hải
quân Việt Nam. Tuy thua xa Mỹ nhưng Pháp vẫn là cường quốc
thứ 5 trên thế giới về kinh tế và thứ 3 về quân sự.

Thứ ba là chọn lựa sáp lại với Mỹ và tách khỏi ảnh
hưởng Trung Quốc không thể đảo ngược được và sẽ được
thể hiện ngày càng nhanh và mạnh hơn. Đồng minh với Hoa Kỳ
chắc chắn có lợi cho Việt Nam về mọi mặt, kể cả để có
thể chung sống bình yên với Trung Quốc. Điều này mọi người
đều đã biết từ lâu. Vấn đề là một quan hệ hợp tác
chặt chẽ với Hoa Kỳ mâu thuẫn với sự duy trì chế độ
độc tài đảng trị, vì thế ban lãnh đạo đảng CSVN đã ngoan
cố chống lại. Nhưng ngày nay họ đã bị bắt buộc phải
đổi ngược chính sách vì không còn chọn lựa nào khác do áp
lực không những của nhân dân Việt Nam mà còn của chính đa
số đảng viên cộng sản. Thay đổi ngoạn mục nhất trong nội
bộ ĐCSVN trong thời gian qua đã là sự kiện chỉ trong vài
tháng hầu như mọi cấp lãnh đạo đều trở thành chống Trung
Quốc. Không gì mạnh hơn một ý kiến đã chín muồi. Không ai
có thể đảo ngược chọn lựa này. Trái lại, như một thay
đổi phải có nhưng đã bị trì hoãn quá lâu, khi cuối cùng
phải đến nó sẽ có sức đẩy rất mạnh.

Ngoài ra cũng phải nói chính thái độ của Trung Quốc cũng
đóng góp khiến chọn lựa này vừa không thể đảo ngược
vừa phải gia tăng cường độ. Trung Quốc không thể vụng về
hơn. Họ đã quá ngang ngược và tham lam, không để cho Việt
Nam, và các nước ASEAN nói chung, một chọn lựa nào khác hơn
là dựa hẳn vào Mỹ để đương đầu với họ. Riêng đối
với Việt Nam, Bắc Kinh đáng lẽ phải hiểu là sau khi cắm xong
mốc biên giới Việt - Trung trên đất liền Việt Nam đã
được giải toả khỏi một một đe doạ lớn, đe doạ bị
gặm nhấm đất đai, và không còn phải sợ như trước nữa.
Nhưng thay vì đổi thái độ theo chiều hướng hoà nhã họ đã
xấc xược và kẻ cả hơn. Kết quả là trong Diễn Đàn Khu
Vực ARF vừa qua Trung Quốc đã hoàn toàn bị cô lập trước
cả một khối ASEAN đoàn kết với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ.

Điểm thứ tư là đồng minh với Mỹ là một chọn lựa rất an
toàn cho Việt Nam, dù không an toàn cho đảng cộng sản. Dù tức
giận tới đâu Trung Quốc cũng không thể gây hấn. Sức mạnh
quân sự của Trung Quốc so với Mỹ còn quá kém và sự thua kém
này tiếp tục tăng lên chứ không giảm đi vì ngân sách quốc
phòng Trung Quốc (72 tỉ USD năm 2009) dù đã gia tăng nhanh chóng
(14,8% năm 2009 và 17,6% năm 2008) vẫn chỉ bằng 11% ngân sách
quốc phòng của Mỹ. Thực tế đã cho thấy Trung Quốc đã bắt
đầu nhượng bộ. Tại Hà Nội, trả lời bà Clinton, ngoại
trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì nói rằng Mỹ đã dựa vào
một lý cớ hoàn toàn không có thực là an ninh trên Biển Đông
để "tấn công" Trung Quốc, rằng an ninh trên Biển Đông hoàn
toàn được bảo đảm và Trung Quốc luôn luôn chủ trương
giải quyết các tranh chấp một cách hoà bình qua thương
thuyết, Trung Quốc cũng sẵn sàng thương thuyết trên mọi vấn
đề, kể cả Trường Sa. Qua lời lẽ cứng rắn, đây rõ ràng
là bước đầu của một sự nhượng bộ. Ngay sau đó bộ
ngoại giao Trung Quốc đưa ra đề nghị năm điểm trong đó Trung
Quốc chấp nhận "thương thuyết giữa sáu nước". Như vậy
thương thuyết song phương không còn là đòi hỏi bất di bất
dịch nữa, dù Bắc Kinh vẫn chưa chịu thảo luận về Hoàng Sa.

Nhận định thứ năm là Việt Nam bắt buộc phải đi đến thế
đồng minh với Mỹ, không thể khác. Một mặt, Mỹ có thừa
sức bảo vệ Việt Nam nhưng cũng sẽ chỉ bảo vệ Việt Nam
nếu Việt Nam là một đồng minh của họ, mặt khác các nước
ASEAN và Việt Nam cần sự bảo vệ này nếu không chắc chắn
sẽ bị Trung Quốc chèn ép. Trung Quốc đã bộc lộ rõ rệt
thái độ sẵn sàng dùng sức mạnh quân sự. Đề nghị giải
quyết các tranh chấp bằng thảo luận tay đôi giữa Trung Quốc
và từng nước liên hệ chỉ là cách để dùng sức mạnh trấn
áp từng nước một và đề nghị tạm gác các tranh chấp để
cùng khai thác Biển Đông chỉ là để cho phép Trung Quốc thực
hiện tuyên bố chủ quyền kinh tế đơn phương của họ.

Cần đánh tan một hiểu lầm. Thực ra chính quyền cộng sản
Việt Nam đã không chọn làm đồng minh của Trung Quốc, họ là
một trong những chính quyền thù ghét Trung Quốc nhất. Hai bên
đã từng có chiến tranh biên giới trong mười năm và đã mạt
sát nhau thậm tệ. Việt Nam đã mất nhiều đất cho Trung Quốc,
nhiều lắm chứ không phải chỉ có thác Bản Giốc và ải Nam
Quan, và vẫn còn bị chèn ép sau thời gian "hữu nghị". Đảng
CSVN đã chỉ chọn "không đi với Mỹ" và vì chọn lựa này mà
họ phải bất đắc dĩ cầu hoà với Trung Quốc để được
nương tay phần nào trong thế cô lập. Nói cách khác, chỉ vì
không dám đi với Mỹ mà đành ngậm bồ hòn đi với Trung
Quốc. Như vậy từ nay khi đã nhận thấy là không thể đu dây
nữa, phải dựa vào Mỹ và lại thấy có thể được Mỹ bảo
vệ họ sẽ không còn cần phải nhịn nhục như trước nữa;
ngược lại Trung Quốc cũng không còn lý do để nương tay nữa,
trừ khi sợ phản ứng của Mỹ. Cái vòng xoắn thù địch này
sẽ bắt buộc Việt Nam dù không muốn cũng phải trở thành
đồng minh thực sự của Mỹ.

Cũng cần nói thêm là Việt Nam không những bị bắt buộc mà
còn được khuyến khích tách rời khỏi quỹ đạo Trung Quốc
và tiến đến thế đồng minh với Mỹ. Trung Quốc ngày càng
bị cô lập, một tâm lý bài Trung Quốc đang dần dần mạnh
lên trên khắp thế giới, các phê phán đối với Trung Quốc
ngày càng nhiều và gay gắt. Ngay tại Châu Phi, nơi Trung Quốc
đã đổ ra rất nhiều tiền để tranh thủ những đồng minh và
tăng cường sự hiện diện, họ cũng đang gây thất vọng.
Nigeria, Angola và Congo, những nước mà Trung Quốc đầu tư
nhiều nhất, đang xét lại nhiều hợp đồng với Trung Quốc
theo chiều hướng bất lợi. Diễn Đàn Khu Vực ASEAN (ARF) vừa
qua tại Hà Nội cho thấy Trung Quốc đã bị cô lập ngay tại
Đông Á, vùng mà họ vẫn coi là đất nhà. Cũng nên hiểu lý do
tại sao thế giới ngày càng nhìn Trung Quốc như một đe doạ.
Đó là vì Trung Quốc mạnh lên trong khi vẫn là một nước
độc tài chuyên chính. Trước đây, sau thế chiến II, Nhật và
Đức đã phục hồi rất mạnh mẽ -kinh tế Nhật đã tăng
trưởng trung bình 17% mỗi năm từ 1956 đến 1980, nhân tổng
sản lượng bình quân trên mỗi đầu người lên 40 lần, từ
300 USD lên 12.000 USD, trong vòng 24 năm- nhưng không hề gây một
lo ngại nào cả, trái lại còn được hoan nghênh vì đó là
những nước đã dứt khoát chọn lựa dân chủ và do đó không
đe doạ hoà bình thế giới.

<center>* * *</center>

Sau cùng và quan trọng nhất, việc chọn lựa tách khỏi ảnh
hưởng Trung Quốc để trở thành đồng minh với Mỹ sẽ có
hậu quả nào đối với Việt Nam?

Dù có thể là thừa cũng cần nhắc lại một lần nữa rằng
đây là một chọn lựa hoàn toàn đúng và rất có lợi cho
Việt Nam. Chọn Mỹ cũng là chọn cả khối phương Tây, Châu Âu
và Nhật. Chúng ta có rất nhiều điều để học ở họ. Đặc
biệt là ở Hoa Kỳ, quốc gia giàu mạnh và tân tiến nhất
đồng thời cũng là quốc gia năng động và sáng tạo nhất
thế giới. Chúng ta cần học nơi họ những kiến thức khoa
học kỹ thuật, cách suy nghĩ và lý luận độc lập, óc mạo
hiểm chấp nhận rủi ro, tinh thần thượng tôn luật pháp; quí
báu hơn hết là sự tôn trọng tự do cá nhân và phẩm giá con
người với niềm tin rằng con người tự do có tiềm năng rất
lớn. Nói chung là những giá trị nền tảng của một xã hội
dân chủ mà Trung Quốc hầu như không có.

Về mặt thương mại Hoa Kỳ cũng là một thị trường to lớn
và đầy hứa hẹn, như Châu Âu. Ngoại thương với Hoa Kỳ đem
lại cho chúng ta một thặng dư lớn (gần 10 tỉ USD năm 2009) và
còn có thể lớn hơn gấp nhiều lần trong tương lai. Ngược
lại quan hệ thương mại với Trung Quốc là một tai hoạ, thâm
thủng nặng (hơn 11 tỉ USD năm 2009), chưa kể số hàng lậu
đang bóp nghẹt sản xuất nội địa của ta. Càng ngày càng có
nhiều người, ngay cả trong số cán bộ đảng viên cộng sản,
nhận ra rằng quan hệ đối với Trung Quốc hoặc phải được
lành mạnh hoá hoặc phải chấm dứt.

Sở dĩ cho tới nay Hà Nội vẫn ngoan từ chối chọn lựa này
và theo chân Trung Quốc mặc dù biết bao tủi nhục và mất mát
là vì các cấp lãnh đạo cộng sản Việt Nam nhận định rằng
không thể đi với Mỹ và phương Tây mà vẫn duy trì chế độ
độc tài đảng trị. Đây là một nhận định đúng dù nó
chỉ nhắm quyền lợi của đảng cộng sản và hoàn toàn trái
ngược với quyền lợi dân tộc. Nó đã làm mất hơn hai mươi
năm cho đất nước nhưng đã giúp chế độ tiếp tục tồn
tại sau khi bức tường Berlin sụp đổ. Nhưng thế giới đã
thay đổi và xã hội Việt Nam cũng đã thay đổi, thời gian đã
làm công việc của nó. Và hiện nay cũng chính nhu cầu sống
còn buộc ban lãnh đạo cộng sản phải làm chọn lựa ngược
lại để tránh một sụp đổ tức khắc, do sự nổ bùng ngay
trong nội bộ đảng. Họ đã phải chọn giải pháp mà từ lâu
họ biết chắc là sẽ dẫn đến sự đào thải của chế độ.

Dĩ nhiên sau khúc quanh lịch sử này chọn lựa hợp lý kế
tiếp cho ĐCSVN là thẳng thắn chấp nhận dân chủ đa nguyên,
thực hiện hoà giải và hoà hợp dân tộc -bắt đầu bằng
cách trả tự do cho mọi tù nhân chính trị và phục hồi danh
dự và quyền lợi cho các nạn nhân của chế độ- và tự hoá
thân thành một đảng hoàn toàn khác về cả đường lối lẫn
nhân sự lãnh đạo. Chần chừ đồng nghĩa với tự sát, bởi
vì một thay đổi bắt buộc nhưng bị trì hoãn quá lâu thường
rất dữ dội khi cuối cùng phải đến. Tuy nhiên, tâm lý tham
quyền cố vị sẽ khiến những người cầm đầu đảng cộng
sản cố tự đánh lừa mình và lý luận quanh co để ngụy
biện rằng chế độ vẫn có thể tồn tại sau một vài thích
nghi, rồi vẫn ngoan cố chống lại mọi đòi hỏi dân chủ hoá.

Đảng cộng sản sẽ chọn con đường tự sát vì lý do giản
dị là chấp nhận dân chủ là một quyết định cực kỳ khó
khăn đối với một đảng mà thành tích duy nhất chỉ là
chiến tranh chống phương Tây và trong suốt quá trình thành lập
và trưởng thành chỉ biết có một triết lý chính trị chuyên
chính và khủng bố. Hơn nữa đảng cộng sản cũng không có
một lãnh tụ nào đủ uy tín để áp đặt chọn lựa đau nhức
này. Càng nhức nhối vì chấp nhận dân chủ cũng là chấp
nhận thất bại. Không ai có thể đánh giá đầy đủ sự thù
ghét của quần chúng đối với đảng và chế độ cộng sản.
Nó mạnh hơn nhiều lần mức độ mà người ta có thể tưởng
tượng. Đã không có đảng cộng sản nào sống sót được
trong cuộc chuyển hoá về dân chủ của các nước Đông Âu và
thuộc Liên Xô cũ, dù so với đảng CSVN đó phần lớn là
những đảng cộng sản chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn
hơn và cũng gây ít oán thù hơn đảng CSVN. Không phải là một
sự ngẫu nhiên mà chủ nghĩa cộng sản bị coi là một tội ác
đối với loài người. Trong một nước Việt Nam dân chủ và
hoà giải có thể có tương lai chính trị cho những đảng viên
cộng sản lương thiện và tiến bộ nếu họ lập ra một
đảng hoàn toàn khác, nhưng chắc chắn sẽ không có tương lai
nào cho đảng cộng sản. Nó sẽ bị quét sạch ngay trong cuộc
bầu cử dân chủ đầu tiên và mọi đảng được coi như là
sự tiếp nối của nó cũng sẽ chịu cùng số phận. Điều oái
oăm hiện nay chính là ở chỗ đảng CSVN tuy còn tất cả quyền
lực và cũng rất giàu nhưng lại chỉ có một chọn lựa duy
nhất là tự huỷ. Chọn lựa này quá khó, vì vậy có mọi
triển vọng là đại hội 11 sắp tới sẽ không làm gì khác
ngoài việc nhắc lại những khẳng định mà mọi người đều
biết là tuyệt vọng.

Những biện luận sắp tới, theo đó chế độ vẫn có thể
tiếp tục tồn tại, sẽ chẳng thuyết phục được ai vì thế
đồng minh Mỹ bao hàm những hậu quả nghiêm trọng cho đảng
cộng sản.

Nó khiến cuộc chiến tranh "chống Mỹ cứu nước" xuất hiện
như một sai lầm đẫm máu và một thiệt hại lớn cho dân tộc
mà đảng cộng sản là thủ phạm. Nó đồng thời cũng biến
sự du nhập chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam như một tội
lớn. Cuộc tranh cãi về công và tội của đảng cộng sản sẽ
chấm dứt và phán quyết sẽ không có phúc thẩm vì chính
quyền cộng sản lại là một chính quyền cực kỳ tham nhũng.

Nó cũng khiến các áp lực dân chủ hoá gia tăng ở một mức
độ ngột ngạt. Những áp lực chính trị của chính phủ Mỹ
-và các nước Châu Âu- tuy sẽ gia tăng nhưng sẽ không đáng
kể so với những áp lực hàng ngày đến từ sự cọ sát
thường trực, qua từng hợp đồng thương mại và đầu tư, qua
sự điều hành các công ty có vốn nước ngoài, qua trao đổi
văn hoá, giáo dục, âm nhạc, báo chí v.v. Vài thí dụ cụ thể:
chính quyền cộng sản sẽ không thể cấm các công ty nước
ngoài tuyển dụng những nhân viên mà họ muốn, cấm những
người Mỹ gốc Việt Nam về làm việc tại Việt Nam, cấm
nhập khẩu sách báo Mỹ, công an Việt Nam không còn có thể
đánh phá và gửi vi trùng vào các báo điện tử v.v. Tất cả
sẽ nhanh chóng tạo ra một bối cảnh chính trị mới, khiến
chính sách đàn áp trở thành vừa bất lực vừa vô duyên.

<center>* * *</center>

Dân chủ sẽ đến, nhưng sẽ đến lúc nào, trong vòng hai năm
hay mười năm? Và sẽ đến như thế nào, dân chủ lành mạnh
hay một thứ dân chủ hình thức bệnh hoạn, mafia, cũng không
khá hơn bao nhiêu so với chế độ này?

Đó là những câu hỏi lớn vượt ngoài khuôn khổ của bài
này. Nhưng có ít nhất hai điều cần được khẳng định ngay:

- Một là Mỹ và các nước dân chủ khác sẽ tuyệt đối không
tìm cách lật đổ chính quyền cộng sản, trái lại họ không
muốn có xáo trộn chính trị. Họ sẽ chỉ đòi chính quyền
này tôn trọng một số quyền tự do chính trị cơ bản. Những
đòi hỏi này, mà chính quyền cộng sản Việt Nam không thể
tiếp tục trắng trợn bác bỏ như cho tới nay, sẽ tạo ra một
bối cảnh thuận lợi cho cuộc vận động dân chủ hoá đất
nước, nhưng có thay đổi chính quyền hay không và thay đổi
sớm hay muộn hoàn toàn do người Việt Nam. Phải có một lực
lượng dân chủ đủ mạnh để thắng sự ngoan cố của ban
lãnh đạo cộng sản.

-Hai là để giành thắng lợi cho dân chủ cũng như để xây
dựng thành công sau đó một nước Việt Nam dân chủ chúng ta
cần những người dân chủ gắn bó với nhau trong một tổ
chức mạnh. Phải có ít nhất một đảng dân chủ đúng nghĩa
và có tầm vóc.

Trước mắt, một giai đoạn đoạn dồn dập thay đổi đầy
hứa hẹn nhưng cũng đầy thử thách sắp mở ra. Như thường
lệ sẽ vẫn có những nhân sĩ thấy tình hình thuận lợi nhảy
ra đề nghị bắt đầu lại từ số không, tranh đua gây tiếng
vang bằng những tuyên ngôn tuyên cáo và thành lập vội vã
những kết hợp chỉ có vỏ mà không có ruột. Những manh
động này cuối cùng chỉ có tác dụng đánh lạc sự chú ý
khỏi những cố gắng nghiêm chỉnh. Cũng sẽ không thiếu những
"tổ chức dân chủ" do đảng cộng sản lập ra trong mục đích
đánh lừa dư luận và biến môi trường dân chủ thành một
chợ trời nhốn nháo. Những người dân chủ đứng đắn, dù
ở trong hay ngoài nước, dù ở trong hay ngoài bộ máy đảng và
nhà nước cộng sản, phải cảnh giác để phân biệt hàng
thực và hàng giả, những cố gắng có chiều sâu và những
vọng động phù phiếm. Quan trọng hơn họ phải dám kết nghĩa
với nhau một cách chặt chẽ, mạnh bạo, thực tình trong một
tổ chức dân chủ thực sự, có mục tiêu trong sáng và có
đội ngũ gắn bó. Tóm lại, quyết tâm và sáng suốt.

Nguyễn Gia Kiểng

© Thông Luận 2010

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/6190), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét