Phỏng vấn nhà kinh tế Đặng Phong: Tư sản hôm qua, hữu sản hôm nay

<div class="special_quote">Trong giới sử học, ông thuộc số ít
viết sử kinh tế. Người như ông, GS Đặng Phong - tác giả
của hàng chục ngàn trang sử kinh tế VN, còn ít hơn nữa. Ông
bảo: "Nền kinh tế miền Nam trước 1975 phồn vinh thật nhưng
giả tạo ở chỗ nó không tự nuôi nổi nó". Báo Người Đô
Thị xin giới thiệu cùng bạn đọc bài phỏng vấn GS Đặng
Phong, thuộc ĐH Kinh tế Quốc dân Hà Nội trong chuyên đề
"Sài Gòn-TPHCM năm thứ 33: Nhận định bản sắc, phát triển
tiềm năng"</div>

Ông mời tôi ăn cơm trưa: "Có cá diếc kho tương và rau muống
học trò vừa mang đến. Đừng ra quán, tôi mà thấy "chúng
nó" hét dzô, dzô... không nuốt nổi". Ăn lối nhà quê, nhưng
ông hút xì gà và có cả một bộ sưu tập tẩu Tây sang trọng.

<h2>Người ta sợ tôi bị "mua"</h2>

<em>Thưa, ông học kinh tế trong nước, sao lại qua Pháp giảng
dạy?</em>

- GS Đặng Phong: Tôi học ĐH Kinh tế Quốc dân ở Hà Nội, rồi
làm tổng biên tập tờ Vật giá của Ủy ban Vật giá Trung
ương. Đến 1988, cao trào thời kỳ đổi mới, Tổ chức Lương
Nông Liên Hiệp quốc (FAO) dành cho VN 2 suất học bổng Học
viện Nông nghiệp Địa Trung Hải (TP Montpellier – Pháp).
Trường này nổi tiếng, các tiền bối GS Nguyễn Mạnh Tường,
GS Phạm Huy Thông, GS Đỗ Đình Thiện... ở đó ra. Tôi cũng
bất ngờ vì họ chọn mình, luận văn kết thúc khóa học của
tôi là: "Chế độ thu mua thóc ở VN", được đánh giá tốt,
có lẽ vì thế ông thứ trưởng Bộ Giáo dục Pháp mời tôi ở
lại giảng ở trường ĐH Paris VII.

<em>Nghe nói ông từng bị "đả đảo" ở Mỹ?</em>

- Việc tôi du học Pháp, được họ giữ lại giảng dạy là
"chuyện động trời" đối với một trí thức xã hội chủ
nghĩa. Thêm chuyện trường ĐH Irvine (bang California - Mỹ) mời
tôi từ Pháp qua luôn với họ, dư luận xôn xao rằng tôi đã
"bị phương Tây mua rồi". Ngại bị hiểu lầm, nên sau khi
trao đổi thẳng thắn với một cán bộ đại sứ quán ta ở
Pháp, tôi quyết định trở về nước. Rồi từ VN tôi mới qua
Mỹ vào năm 1991.

Buổi giảng đầu tiên tại Irvine "Thực trạng kinh tế VN"
khá ồn ào vì bị một số Việt kiều biểu tình "đả
đảo", đòi "Đặng Phong hãy nói về nhân quyền!" Họ đòi
bằng được phải có đại diện vào giảng đường chất vấn.
Tôi đồng ý, có ba người xấn vào nóng nảy lên án tình
trạng tham nhũng ở VN và chính quyền tham quyền cố vị. Về
tham những, tôi nói đúng có tham nhũng - nhưng chính quyền Sài
Gòn trước kia tham nhũng gấp 10 lần cơ. Tôi làm sử kinh tế,
có đầy đủ số liệu chứng minh, họ chịu. Còn tham quyền
cố vị, thì chính quyền Thiệu, Kỳ... không hề muốn xuống
ghế. Vì bản chất người cầm quyền có ai chịu tự nguyện
rời chức vụ đâu? Tôi cũng chỉ là một công dân, có nguyện
vọng chính quyền không nên tham quyền, và được bày tỏ
nguyện vọng đó như mọi công dân khác.

Sau này trở thành bạn bè, thỉnh thoảng qua Mỹ tôi lại gặp
họ trò chuyện. Tôi có một kinh nghiệm rằng đừng nổi nóng,
đừng vội quy kết ta-địch, mình có sai lầm thì thừa nhận,
sửa chữa - sự tử tế là cách thuyết phục nhau tốt nhất.

<h2>Nhặt tiền lẻ xây được nhà lầu?</h2>

<em>Năm 1975 ở R về Sài Gòn, khá "choáng váng" trước cảnh
phồn vinh của đô thị này, tôi được nghe giải thích sự
phồn vinh ấy chỉ là giả tạo?</em>

- Phồn vinh là thật đấy! Miền Nam VN dân số trước 1975
chừng 17 triệu, trừ số dân thuộc vùng giải phóng, còn
khoảng 8 triệu người. Sở dĩ họ giàu là nhờ nguồn viện
trợ khổng lồ của Mỹ bằng 4 con đường chính.

Thứ nhất, bình quân mỗi năm Mỹ đổ vào Nam VN 1 tỉ USD. Con
số đó không thấm tháp gì so với vốn nước ngoài bây giờ
đầu tư vào VN – nhưng xin nhớ dân số VN nay khoảng 84 triệu.
1 tỉ USD chia bình quân cho 8 triệu người, vẫn là lớn. 1 tỉ
USD trút vào nuôi bộ máy Nhà nước, binh lính - thu nhập của
họ rất cao. Cấp thiếu úy được nhà riêng (gia binh), một
tổng trưởng (bộ trưởng) lương trị giá 10 cây vàng/tháng.

Thứ hai, chi phí chiến tranh (nằm ngoài 1 tỉ USD viện trợ - có
thời kỳ lên đến 28 tỉ USD/năm, như các năm 1967, 1968). Mỹ
quản lý nhưng vẫn rơi vãi vô khối ra dân sự. Riêng vỏ đạn
cũng đủ tạo ra 7 nhà máy đồng, xác chiến xa và các loại vũ
khí... là đầu vào của các nhà máy cán thép, dù miền Nam làm
gì có mỏ sắt. Chi phí quân sự đã trở thành kinh tế dân
sự.

Thứ ba, cũng nằm ngoài 1 tỉ USD viện trợ - là sức chi tiêu
tại chỗ của nửa triệu binh lính Mỹ, bình quân 1 người 800
USD/tháng. Khoản tiền khổng lồ này tạo ra vô khối ngành
dịch vụ và thu nhập cho người dân. Câu "nhất Mỹ, nhì lô,
tam cô, tứ tướng" là vậy. Tôi quen một chủ tiệm giặt là
từng nhận thầu giặt đồ cho lính Mỹ. Anh ta bảo chỉ nhặt
tiền lẻ trong đống quần áo, gom lại trong 1 năm xây được
nhà 4 tầng lầu và anh ấy có đến dăm cái tiệm như thế ở
các quận Sài Gòn.

Thứ tư, ngoài 1 tỉ USD tiền còn các khoản viện trợ thường
xuyên bằng hàng hoá do người Mỹ chỉ định mua từ nước
nào, hãng nào, loại hàng gì, theo giá nào... để giải quyết
cán cân thương mại giữa Mỹ và các nước đồng minh. Cách
làm này tạo ra vô số nhà máy đường, nhà máy dệt v.v không
trồng mía, bông – nhưng nhập nguyên liệu từ Indonesia,
Malaysia, Nhật Bản... để sản xuất.

Có thể nói chiến tranh là bầu sữa quan trọng nhất của nền
kinh tế Nam VN trước năm 1975. Nó tạo ra cuộc sống phồn vinh
thật ở các đô thị miền Nam (vùng nông thôn rất nghèo khổ).
Nhưng đó là nền kinh tế không nuôi nổi nó.

<h2>Bộ máy kinh tế giỏi</h2>

<em>Không nuôi nổi nó, cần gì một bộ máy vận hành kinh tế
giỏi?</em>

- Cần phải phân biệt rõ: nền chính trị thối nát (không
phải tôi nói, mà người Mỹ và người trong giới chính trị
Sài Gòn nói) với bộ máy kinh tế chuyên nghiệp. Những cấp
cao nhất, tổng thống, phó tổng thống, thủ tướng... phần
lớn là dân võ biền, là lính sang làm chính trị như Thiệu,
Kỳ, Khiêm..., Ngô Đình Diệm là ông quan của triều đại phong
kiến. Nói chung, họ không có mấy kinh nghiệm để điều hành
một xã hội dân sự văn minh. Nhưng điều đặc biệt là cấp
dưới của họ (bộ trưởng, tổng trưởng...) và các chuyên gia
hàng đầu đều là những người có học vấn, kiến thức kinh
tế - xã hội rất giỏi để vận hành khối lượng tiền, hàng
cực lớn. Bằng chứng là Nam VN khi đó đã có hệ thống ngân
hàng, hệ thống thuế, bảo hiểm... trình độ quốc tế, hoạt
động toàn cầu. Dân đã xài séc, các công cụ tín dụng, công
sở xài máy tính IBM, tổ chức nền kinh tế đã sử dụng các
phương tiện hiện đại, mà bây giờ chúng ta mới chập chững
tiến vào.

<em>Theo ông, có thể kế thừa công nghệ quản lý nền kinh tế
đó?</em>

- Rất tiếc chúng ta xóa bỏ bộ máy điều hành kinh tế miền
Nam nhanh quá. Tới Đại hội Đảng VI đã ghi nhận sai lầm do
chủ quan, nóng vội xóa bỏ các thành phần kinh tế phi xã hội
chủ nghĩa. Nhưng nhiều chuyên gia kinh tế đã ra đi...

<em>Nhưng bây giờ chúng ta lại có nhiều doanh nhân làm kinh tế
giỏi?</em>

- Marx nói "Giai cấp tư sản đã tạo ra sự phát triển trong
100 - 200 năm bằng tất cả lịch sử của nhân loại". Tức là
tư sản tạo ra sự tăng trưởng. Trước kia ta đánh tư sản
mại bản (xuất nhập khẩu hàng hóa), giờ ta khuyến khích
xuất khẩu đồ gỗ sang Mỹ và nhập máy móc của họ. So với
mại bản trước 1975, thì mại bản bây giờ (trong công nghiệp,
tài chính, hàng không) quy mô lớn hơn nhiều. Sự tăng trường
ấy tốt về số lượng, nhưng quản lý tồi.

Chúng ta đánh đổ giai cấp tư sản cũ, nhưng phải xây dựng
được tầng lớp hữu sản mới. Sự ra đời của tầng lớp
này là cần thiết, chứ với chỉ "lực lượng lao động hợp
tác xã" thì chết. Nhưng đó phải là một tầng lớp hữu
sản có văn hóa và có lương tâm. Con đường ra đời giai cấp
này trên thế giới khác ta - bằng cách cướp bóc thuộc địa,
gây chiến tranh. Ở ta, ra đời bằng cách đánh đổ giai cấp
tư sản cũ - nằm trong diễn biến chung của các nước xã hội
chủ nghĩa.

Tham nhũng cũng là một cách ra đời tầng lớp hữu sản cho nên
đạo lý kém hơn, chụp giật hơn, lưu manh hơn...

<em>Nhưng chính quyền Sài Gòn trước 1975 tham nhũng ghê
gớm?</em>

- Đó là một trong các nguyên nhân lớn của sự sụp đổ. Quân
đội thì nhận hàng của Mỹ, tuồn ra ngoài, lợi dụng chiến
tranh nhiều rủi ro không kiểm soát nổi. Chính quyền dân sự
thì ăn vào các dự án, bệnh viện Vì Dân (Thống Nhất bây
giờ), sân bay Tân Sơn Nhất... là vài ví dụ. Tướng tá, quan
chức thầu công trình, đường sá... rồi bán thầu cho Hoa
kiều. Tướng Đồng Văn Khuyên thầu hết các bãi rác quanh các
căn cứ quân sự (tivi, honda, tủ lạnh cũ...) chuyển thành hàng
secondhand cho dân Sài Gòn v.v... Tất nhiên sự tham nhũng ấy có
lợi cho ta. Nhờ thế ta mua được xăng, gạo, thuốc men, vũ
khí... Đó một nguồn hậu cần quan trọng giúp chúng ta thành
người chiến thắng.

<em>Làng Yên Phụ cổ của ông giờ nằm kẹp giữa hai con
đường đang mở. Đô thị hóa đến tận nhà rồi, miếng đất
150m² này đã đưa ông thành người hữu sản?</em>

Năm 1975 dọn từ phố ra làng, tôi mua nó giá 1,5 cây vàng. Bây
giờ 7 cây vàng/m2, tài sản của tôi tăng 1.000 lần, mà không
cần làm gì. Chiếm hữu thật nhiều đất đai là cũng là con
đường "nâng giai cấp " của người Việt hiện nay đấy,
anh bạn.

<div class="special_quote"><h2>Hơn và kém xưa</h2>

Tròn 33 năm giải phóng miền Nam, GS Đặng Phong nhận xét về
đời sống người dân đô thị miền Nam trước 1975 và ngày
nay:

- Mức sống vật chất bây giờ rõ ràng là cao hơn trước đây
rất nhiều. Thu nhập, tiện nghi, nhà cửa, phương tiện đi
lại, mức ăn, mặc... đều vượt xa Sài Gòn trước đây, nếu
nhìn trên bình diện chung của toàn xã hội. Riêng một số
tầng lớp trên - thì ngày xưa giới thượng lưu giàu có không
nhiều và cũng không giàu như những triệu phú đô la ngày nay.

- Về mức an toàn của cuộc sống thì trước đây rất kém, vì
có chiến tranh. Nhà nào cũng có người đi lính, nếu muốn
tránh đi lính thì phải trốn, phải chạy vạy, đút tiền. Cái
chết đe dọa, rình rập tất cả các gia đình ở thành thị. Xe
của cảnh binh có khi chặn ngay ở các cửa trường để bắt
lính. Đến năm 1975 thì hầu như nhà nào cũng có bàn thờ một
hay hai đứa con chết trận. Còn bây giờ đã có hòa bình,
người ta không sợ đi bộ đội, thậm chí người ta còn chạy
vạy để được đi bộ đội, để học các trường sĩ quan.
Vào quân đội bây giờ không bị cái chết đe dọa mà lại
được đảm bảo cuộc sống, vị trí xã hội. Trong đời sống
hiện nay cũng có nhiều khía cạnh không an toàn như những vụ
trấn lột, chém giết, cướp bóc... Nhưng đó chỉ là những
hiện tượng cá biệt, đột xuất. Cuộc sống hằng ngày của
người dân nói chung rất an toàn. Thậm chí có thể nói cuộc
sống ở VN là một trong những nơi an toàn nhất thế giới.
Không có khủng bố, không có phe này phái kia đánh nhau, trừng
trị nhau, không có lật đổ, không có bạo loạn... Mọi người
được yên ổn làm ăn.

- Cuộc sống văn hóa và tinh thần thì có thể nói thời trước
có hai mặt của nó. Một mặt là sự hiện diện của quân
đội Mỹ và quân đội đồng minh để lại những ảnh hưởng
rất xấu trong xã hội. Đó là tệ nạn đĩ điếm, ma cô, chạy
theo đồng đô la một cách khá trắng trợn. Chính người dân
miền Nam thời đó cũng phản ứng rất gay gắt. Nhưng mặt
khác, cuộc sống xã hội và tinh thần trong nội bộ xã hội
Việt Nam, trong trường học, trong công sở, trong các gia đình,
xóm giềng, bạn hữu... lại là quan hệ có nề nếp, có văn
hóa. Học trò lễ phép với thầy, vợ chồng, cha con, mẹ con
thương yêu gắn bó với nhau. Thời đó học trò ra đường
không hỗn láo như bây giờ. Không có hiện tượng chửi thề,
các quan chức cũng có chơi bời nhưng không tệ hại tới mức
như một số quan chức hiện nay. Công an thời đó ít có hiện
tượng chặn đường để ăn tiền mãi lộ một cách phổ biến
như ngày nay. Xin giấy tờ ở cấp này cấp kia cũng không phải
đút lót một cách phổ biến, đặc biệt là trong trường học
thì tình trạng chạy điểm, mua điểm, ném phao, quay cóp gần
như không có. Có thể nói, so với xã hội trước đây thì trên
một số khía cạnh nào đó, cuộc sống văn hóa và tinh thần
hôm nay đã xuống cấp nghiêm trọng... Những trí thức trước
đây, công chức trong công sở là những người có tư cách,
đàng hoàng, cả nói năng và hành xử rất có văn hóa. Còn bây
giờ, một tỉ lệ đáng kể công chức và cả một số trí
thức cũng không có được một phong độ văn hóa như trước
đây.

Các nhà kinh doanh, trước đây hầu hết là tư nhân. Ngày nay
kinh doanh tư nhân cũng phát triển khá mạnh, nhưng doanh nghiệp
quan trọng nhất vẫn là doanh nghiệp quốc doanh. Xét riêng khu
vực tư nhân thì trước đây những nhà kinh doanh tư nhân phần
lớn là những người đã có truyền thống từ nhiều đời
để lại. Họ có kinh nghiệm, họ có văn hóa, họ có bạn
hàng, họ có thị trường, có những quy tắc nghiêm ngặt trong
kinh doanh. Kinh doanh tư nhân hiện nay là một tầng lớp mới
lên, đa số chưa có nhiều kinh nghiệm, không có truyền thống,
mang nặng tính chất chụp giật, tạm bợ, số phận của họ
cũng không ổn định.

Về quản lý và điều hành nền kinh tế, như tôi đã nói sơ
trên, cấp điều hành và các chuyên gia hàng đầu đều là
những người có học vấn. Họ hiểu luật pháp quốc tế vì
đã từng tu nghiệp ở Mỹ, ở Pháp. Họ có phong độ của
những nhà quản lý, có kiến thức quản lý. Họ có thể tham
dự các cuộc đàm phán quốc tế không cần phiên dịch. Hệ
thống quản lý của ta ngày nay về mặt đó là kém hơn. Phần
lớn là các cán bộ chính trị của ta tri thức về quản lý
vẫn còn bất cập so với những đòi hỏi của một cơ chế
kinh tế thị trường hoàn hảo. Trình độ ngoại ngữ cũng như
kiến thức chung về xã hội cũng vậy. Do đó, trong sự điều
hành gặp nhiều vấp váp. Tình trạng lạm phát, những ách tắc
trong đời sống kinh tế như nạn kẹt xe, xây cất lung tung, tai
nạn xảy ra liên tục... thể hiện sự bất cập của hệ
thống quản lý hiện nay.

<em>Đặng Phong</em></div>

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/6178), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét