và xã hội theo quy định của điều 4 Hiến pháp. Chính lẽ đó
nên mặc dù chỉ là một bộ phận trong cả hệ thống chính
trị, nhưng vì vai trò lãnh đạo là cương vị quyền lực cao
nhất bao trùm tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt cho nên
mọi cương lĩnh, chiến lược, chủ trương, chính sách, công
tác tư tưởng, tổ chức - cán bộ (nhân sự), công tác kiểm
tra, giám sát v.v... của Đảng Cộng sản Việt Nam được xem
như là "NGUỒN" cho mọi tổ chức và hoạt động Lập pháp,
Hành pháp, Tư pháp của Nhà nước trong quá trình xây dựng
quản lý điều hành đất nước.
Điều lệ của Đảng cũng là một nội dung của "NGUỒN" nói
trên.
Trải qua 70 năm từ ngày thành lập đến nay, Điều lệ của
Đảng được sửa đổi, bổ sung qua các kỳ Đại hội Đảng
toàn quốc để luôn phù hợp với xu thế thời đại và thực
tiễn của đất nước, phù hợp với ý chí, nguyện vọng của
nhân dân. Trước mỗi lần sửa đổi ở mỗi kỳ Đại hội
Đảng, dự thảo được phổ biến nội bộ lấy ý kiến trên
phạm vi toàn quốc cho tất cả Đảng viên tham gia góp ý, rồi
Đại hội thông qua.
Đáng chú ý nhất cho sự sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng
là việc lấy ý kiến trước Đại hội và thông qua tại Đại
hội toàn quốc lần thứ 10, năm 2006, về việc cho phép Đảng
viên làm kinh tế tư nhân (đoạn "<em>... có lao động, không bóc
lột...</em>" của Điều lệ cũ, Đại hội 9, qua Điều lệ
Đại hội 10 bỏ đi cụm từ "không bóc lột" tại khoản 1,
điều 1), đồng nghĩa là về mặt lý luận đã phát huy tinh
thần đổi mới của Đại hội 6 về xây dựng nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường,
cũng như đã ngày càng công nhận hơn vai trò của kinh tế tư
nhân đối với công cuộc xây dựng và phát triển đất nước,
coi như "cởi trói", cho phép, khuyến khích Đảng viên biết làm
ăn kinh tế trở thành những nhà tư bản.
Tuy nhiên, dù trải qua bao kỳ Đại hội, kể cả đến thời
gian này chuẩn bị cho Đại hội 11, có một điều khoản của
Điều lệ chưa hề được đưa ra thảo luận, đó là khoản 5
điều 9, vẫn hiệu lực cho đến nay, Điều lệ Đảng Đại
hội toàn quốc lần thứ 10 năm 2006 tiếp tục thông qua, đoạn:
"<em>... Ðảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số được
quyền bảo lưu và báo cáo lên cấp ủy cấp trên cho đến
Ðại hội đại biểu toàn quốc, song phải chấp hành nghiêm
chỉnh nghị quyết, không được truyền bá ý kiến trái với
nghị quyết của Ðảng. Cấp ủy có thẩm quyền nghiên cứu xem
xét ý kiến đó; không phân biệt đối xử với đảng viên có
ý kiến thuộc về thiểu số</em>".
Vì sao phải lấy ý kiến về nội dung này?
Xét về tính lịch sử đấu tranh của đất nước, thời kỳ
Đảng đang hoạt động và thực hiện vai trò lãnh đạo các
phong trào khi đất nước đang trong tình trạng chiến tranh, các
cuộc đấu tranh Chính trị, quân sự luôn trong tình thế mạng
lưới mật thám quân thù dày đặc, có nguy cơ bị quân thù đe
doạ về tinh thần, đàn áp, tấn công với hoả lực mạnh hơn
gấp bội. Do đó, việc giữ bí mật thông tin cho việc Đảng
lãnh đạo phong trào quần chúng, giữ vững lập trường cho
quần chúng Cách mạng khi đấu tranh Chính trị, tư tưởng cho
lực lực lượng vũ trang an tâm "<em>đời chúng ta đâu có giặc
là ta cứ đi</em>", tinh thần quyết chiến quyết thắng là ưu
tiên hàng đầu, nên việc Điều lệ Đảng quy định không
được truyền bá ý kiến trái với Nghị quyết của Đảng là
cần thiết. Nếu để lộ ra ý kiến thuộc về thiểu số sẽ
gây mất an tâm cho dân, cho quân, gây hoang mang, nghi ngờ, mất
đoàn kết đội ngũ, tổn hại tinh thần chiến đấu.
Xét về mặt kinh tế - chính trị, thời kỳ chống Pháp trước
và sau năm 1946, kể cả hai giai đoạn từ khi chưa lập được
Chính phủ đến lập được Chính phủ năm 1945, cho tới chiến
thắng Điện Biên lẫy lừng 1954, tiến về Hà Nội... thì sự
lãnh đạo của Đảng đối với nền sản xuất xã hội bị
hạn chế cả về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất do
Pháp và "<em>chính quyền Bảo Đại</em>" đang kiểm soát phần
lớn lãnh thổ Việt Nam. Do đó, việc đẩy mạnh phát triển xã
hội về mọi mặt trên cơ sở một nền Chính trị ổn định,
xã hội kỷ cương là chưa có nên chưa cần đặt ra yêu cầu
về thúc đẩy phát triển một xã hội Dân chủ.
Qua thời kỳ chống chủ nghĩa can thiệp Mỹ thì lãnh thổ
thuộc thẩm quyền của Chính phủ đặt dưới sự lãnh đạo
của Đảng chỉ hạn chế từ vĩ tuyến 17 trở ra Bắc, đến
năm 1972 đến được bờ Bắc sông Thạch Hãn, Quảng Trị,
phần còn lại của đất nước vẫn chưa dành được đang
tiếp tục đấu tranh, thì cũng tương tự giai đoạn trước năm
1954, yêu cầu về một xã hội Dân chủ cũng chưa cần thiết
phải mở rộng, vì tất cả cho cuộc đấu tranh quyết liệt
một mất một còn.
Tuy nhiên, sau khi đất nước thống nhất năm 1975, và nổi bật
là đường lối đổi mới được đưa ra từ Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ 6 năm 1986, thì đòi hỏi về một xã hội
Dân chủ văn minh phù hợp với quy luật khách quan, xu thế thời
đại và thực tiễn của đất nước được đặt ra và chú
trọng. Cả trong các nghị quyết của Đảng, các văn bản của
bộ máy chính quyền đều có nội dung bảo vệ và phát huy
quyền Dân chủ, trực tiếp và gián tiếp lồng ghép nội dung.
Song, vẫn tồn tại nhiều hạn chế về hiệu quả do nhiều
nguyên nhân. Về nguyên nhân khách quan thì có thể cần thời
gian và quyết tâm, nhưng, về chủ quan, vẫn còn đây đó mang
tính hô khẩu hiệu, vận động hình thức, thực hiện theo
kiểu "<em>thử sai, sai sửa</em>". Và, nguyên nhân của tình
trạng đó là nguyên nhân mang tính cơ chế, nó bị giới hạn
"<em>trói buộc</em>" từ nội dung hiệu lực của khoản 5 điều
9 Điều lệ Đảng đã nêu trên.
Đành rằng, trong điều khoản đó, có quy định thêm "<em>Cấp
ủy có thẩm quyền nghiên cứu xem xét ý kiến đó; không phân
biệt đối xử với đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu
số</em>", nhưng thực tế quy trình thực hiện chức năng tổng
hợp ý kiến của Đảng viên từ địa phương, từ các ban
ngành v.v... cho các cuộc họp của Ban chấp hành Trung ương
Đảng, rồi chức năng kiểm tra biên bản các cuộc họp trong
toàn Đảng để xem xét việc biên bản có thật sự phản ánh
đúng những gì đã diễn ra hay không, phải nói là nhiều bất
cập.
Một điều khoản đã không còn phù hợp với đường lối
đổi mới không ngừng của Đảng cho giai đoạn phát triển
của đất nước hiện nay.
Chính bởi điều khoản đó, một vị đại biểu của dân với
tư cách là Đại biểu Hội đồng nhân dân, Đại biểu Quốc
hội, nếu là Đảng viên, thì đương nhiên sẽ gặp vấn đề
khó xử khi nếu Nghị quyết của Đảng mà vị đó đã tham gia
họp, lại không trùng với nguyện vọng của dân địa phương
nơi vị đó đại diện, cho dù Nghị quyết lại đáp ứng
được nguyện vọng của dân nhiều địa phương khác mà vị
đó không đại diện. Do đó, một mặt vị Đại biểu có
nhiệm vụ phải nói lên tiếng nói của cử tri, nhưng mặt khác
với tư cách là một Đảng viên lại không được nói lên ý
kiến thuộc về thiểu số vì cử tri của Đại biểu đó là
thiểu số thôi so với cử tri đa số (trùng với Nghị quyết
của Đảng).
Rất khó xử. Không nói lên tiếng nói cho cử tri sẽ bị hiểu
nhầm, bất tín nhiệm. Và chắc chắn nếu nói ra ý kiến thuộc
về thiểu số sẽ chịu ngay một hình thức kỷ luật của
Đảng. Thực tế đã có không ít trường hợp như vậy.
Và cũng chính bởi điều khoản đó nên một thời các tổ
chức Đảng thuộc Đảng bộ PMU-18 luôn được đánh giá là
"<em>trong sạch vững mạnh</em>", cho đến khi vụ việc tham nhũng
nổi đình nổi đám được phanh phui thì "<em>cháy nhà mới ra
mặt chuột</em>", hoá ra các biên bản đánh giá quá trình lãnh
đạo của tổ chức Đảng ở đây còn nhiều khuất tất. Các
Đảng viên biết đấu tranh cho cái đúng bị chủ nghĩa cơ
hội, bè phái, chủ nghĩa cá nhân đã vùi dập. Ý kiến thuộc
về thiểu số trong tổ chức Đảng ở đây suốt thời gian
đằng đẳng chẳng ai bảo lưu hay xem xét cho thấu đáo.
Và cũng chính điều khoản đó nên nhưng Đảng viên có sáng
kiến mang tính cách tiến bộ, hứa hẹn mang lại hiệu quả cao,
nhưng vì mới lạ nên có phần gây nhận thức và tâm lý nghi
ngại trong đa số Đảng viên còn lại, cho dù họ sẵn sàng hy
sinh quyền lợi (chấp nhận hình thức kỷ luật) để phục vụ
cho mục đích ích nước lợi dân, nhưng khi bị họ bị kỷ
luật thì lý do không ai được nói ra ý kiến thuộc về thiểu
số theo quy định của Đảng khiến cho công luận nghi ngờ và e
ngại "<em>người Đảng viên bị kỷ luật</em>", bởi công chúng
tại thời điểm đó không mấy ai biết kỷ luật là vì sao;
một ví dụ điển hình là ông Kim Ngọc nguyên bí thư tỉnh uỷ
Vĩnh phúc, được xem là tác giả của "khoán 10" nổi tiếng.
Ngoại lệ là có cố Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, thời
tại vị Bí thư Thành uỷ thành phố Hồ Chí Minh có nhiều lúc
"xé rào" cải cách trong phát triển kinh tế, trong việc trọng
dụng người tài là người của chế độ cũ Việt Nam Cộng
hoà v.v... mà ông đã có thành công nhất định dù không ít dị
nghị từ trong Đảng về ông. Nhưng số Đảng viên giữ cương
vị cấp cao như ông thì mấy ai. Còn lại số giữ cương vị
thấp, không chức vụ thì khó có thể mấy ai biết sáng kiến
của họ được, nếu Nghị quyết Đảng (nơi họ là thành viên
và sinh hoạt) thông qua không có ý kiến của họ, thuộc về
thiểu số, cấm ai nói ra sau cuộc họp.
Và cũng chính điều khoản đó nên trong quá khứ, có những
chiến lược khi đưa ra thực hiện, qua thời gian đã chứng minh
tính sai lầm về cả lý luận lẫn thực tiễn, do chủ quan duy
ý chí muốn phát triển học theo lối "đại nhảy vọt". Sở dĩ
sai lầm không sớm nhận ra, mà kéo dài, một phần cũng bởi
những ý kiến thuộc về thiểu số (mang tính phản biện) cho
việc nhận ra sai lầm đã không được chú trọng cho đúng với
ý nghĩa của nó; sai lầm vẫn tiến hành lại còn được vinh
danh là "<em>chủ trương lớn của Đảng</em>".
Nếu đặt vấn đề bí mật Nhà nước là yêu cầu của điều
khoản nói trên, cũng như các chính sách chiến lược đối
ngoại, bí mật An ninh quốc gia, thông tin tình báo, bí mật
Quốc phòng, bí mật Điều tra v.v... thì cũng không vì lý do đó
mà cho là hợp lý. Bởi lẽ các cơ quan Nhà nước đã có Luật,
văn bản dưới Luật điều chỉnh chế độ công tác nói chung
hay cho các lĩnh vực công tác đặc thù về chế độ bảo mật.
Đó là các yêu cầu về chuyên môn trong tất cả các cơ quan
Nhà nước, thuộc thẩm quyền quản lý và điều hành của lĩnh
vực chuyên môn ngành nghề.
Không nên cho là bí mật của Đảng phải phụ thuộc vào bí
mật của các cơ quan được Đảng lãnh đạo. Ngay như các
Quốc gia thể chế chính trị họ có 2 hay nhiều Đảng phái có
Đảng viên trong bộ máy Nhà nước, nhưng hiệu quả giữ bí
mật cho nhiệm vụ quản lý điều hành Quốc gia đâu có kém
đi.
Và quan trọng hơn hết, "<em>Ðảng lãnh đạo, tôn trọng và
phát huy vai trò của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
và các đoàn thể chính trị - xã hội</em>" (Chương "Ðảng và
những vấn đề cơ bản về xây dựng Ðảng" - Điều lệ
Đảng Cộng sản Việt Nam).
"<em>Đảng bao biện làm thay Nhà nước sẽ hạ thấp cả vai trò
lãnh đạo của Đảng, cả hiệu quả quản lý của Nhà
nước</em>" (cố Tổng bí thư Lê Duẩn).
Cần xem xét sửa đổi khoản 5, điều 9 Điều lệ Đảng Cộng
sản Việt Nam!
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/6272), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét