Căn cứ vào một trong những định nghĩa mới nhất, thì xã
hội dân sự là một khái niệm dùng để chỉ <em>lĩnh vực
của những hành động tập thể mang tính tự nguyện xoay quanh
những lợi ích, mục tiêu và giá trị được chia sẻ. </em>[1]
Trong mối quan hệ giữa một bên là cá nhân, gia đình và bên
kia là nhà nước, xã hội dân sự đóng vai trò trung gian. Mặc
dù một số lý thuyết gia thuộc trường phái tự do kinh tế
(economic liberalism) muốn xếp thị trường vào lĩnh vực của xã
hội dân sự, nhưng xu hướng chung của phần lớn các nhà khoa
học xã hội là phân biệt giữa xã hội dân sự và thị
trường. Như vậy, xã hội dân sự, nhà nước và thị trường
là ba lĩnh vực khác nhau, mặc dù có quan hệ đan xen với nhau.
Trong thực tế, xã hội dân sự thường bao gồm nhiều hình
thức tổ chức đa dạng : từ các hội từ thiện có đăng ký,
các tổ chức tôn giáo, các hội nghề nghiệp (professional
associations), các công đoàn, các nhóm tự giúp (self-help groups)[2]
cho đến các phong trào xã hội, các hiệp hội của các nhà kinh
doanh (business associations), các nhóm bênh vực (advocacy groups) [3],
v.v…
Theo tài liệu của Trường Kinh tế Luân Đôn (LSE) [4] thì thuật
ngữ "xã hội dân sự" mặc dù rất thịnh hành trong các
thế kỷ 18 và 19, đã bị bỏ quên trong một thời gian khá dài,
hay nói đúng hơn, chỉ còn là đối tượng quan tâm của các
nhà sử học. Trong vòng nửa thế kỷ, các ngành khoa học xã
hội ở phương Tây chỉ lưu tâm đến hai lĩnh vực : thị
trường và nhà nước, tựa hồ như con người sống trong một
thế giới chỉ có hai khu vực. Sự sụp đổ của chủ nghĩa
cộng sản ở Trung và Đông Âu nằm ngoài khả năng dự báo
của các nhà khoa học xã hội, và đó là một lý do hết sức
quan trọng khiến cho xã hội dân sự trở thành chủ đề trung
tâm của các ngành khoa học xã hội ở phương Tây trong vài
chục năm gần đây. Cũng từ đây, người ta bắt đầu chú ý
đến một khu vực thứ ba nằm giữa thị trường và nhà
nước, bao gồm những thiết chế xã hội không phù hợp với
cách nhìn lưỡng cực "nhà nước-thị trường", ví như :
các hội tự nguyện, các tổ chức từ thiện, các quỹ tài
trợ và các tổ chức phi-chính phủ, v.v…
Mặt khác, việc trở lại với chủ đề xã hội dân sự cũng
giúp cho các nhà khoa học xã hội ở phương Tây từ bỏ định
kiến về những khái niệm "thị trường" và "nhà nước"
hoàn toàn độc lập, không có liên quan gì đến các xã hội và
các nền văn hóa bản địa. Điều này giúp họ thấy được
những mối quan hệ giữa nhà nước, thị trường và văn hóa,
làm thay đổi cách nhìn đối với các nước thuộc thế giới
thứ ba. Riêng trong phạm vi của các nước tiên tiến, người ta
cũng chú ý nhiều hơn đến vai trò của xã hội dân sự trong
việc hoạch định đường lối chính sách, mà tiêu biểu là
cuộc Đối thoại Dân sự (Civil Dialogue) do Liên hiệp châu Âu
(EU) tổ chức vào thập niên 1990.
Thực tế lịch sử cho thấy trong việc xây dựng một thể chế
dân chủ nhằm bảo đảm đầy đủ các quyền tự do căn bản
cho mọi người trong xã hội, người ta có thể xây dựng
được một hệ thống chính trị tương đối hợp lý, tương
đối ưu việt, nhưng vẫn không thể đạt đến một nhà nước
tuyệt đối hoàn hảo. Một nhà nước hoàn thiện, toàn bích
vẫn là một hình mẫu "lý tưởng" không bao giờ có thể
đạt tới, quyền lực chính trị không bao giờ có thể hoàn
toàn trong sạch; do đó sự tồn tại của một xã hội dân sự
độc lập với nhà nước vẫn là một giải pháp tốt nhất
để bảo đảm cho vai trò làm chủ của người dân. Một nhà
nước thật sự dân chủ không thể là một nhà nước toàn
năng, bao biện, can thiệp vào mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội mà phải biết tự hạn chế phạm vi quyền hạn của mình
và giành cho xã hội dân sự một địa vị xứng đáng. Bằng
cách đó, quan hệ giữa nhà nước và xã hội dân sự mới có
thể là quan hệ hài hòa, hợp tác với mục tiêu chung là phục
vụ cho công ích nhưng cũng đồng thời bảo đảm các quyền
tự do căn bản của người dân và của con người nói chung.
<h2>Khái niệm "xã hội dân sự" áp dụng vào Việt Nam</h2>
Chế độ chính trị đang tồn tại ở Việt Nam là một chế
độ toàn trị (totalitarianism, totalitarisme) thoát thai từ chuyên
chính vô sản. Cho đến nay, mặc dù về kinh tế Việt Nam đã
tiến những bước dứt khoát sang hướng kinh tế thị trường,
nhưng về chính trị hầu như chưa có những thay đổi căn bản.
Đảng cộng sản sau hơn hai thập niên "đổi mới" vẫn là
một Đảng độc quyền, lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối.
Một trong những đặc điểm của hệ thống chính trị "chuyên
chính vô sản" là Đảng cộng sản đóng vai trò trung tâm, chi
phối toàn bộ các sinh hoạt xã hội. Đảng là quyền lực tối
cao, điều khiển hai nhánh khác là nhà nước và các đoàn thể
quần chúng. Như vậy Đảng không những nắm Quốc hội, Chính
phủ, bộ máy tư pháp, công an, quân đội mà còn nắm tất cả
các tổ chức quần chúng như Mặt trận Tổ quốc, Đoàn Thanh
niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Công đoàn,v.v… Nói cách
khác, Đảng vừa nắm nhà nước, vừa nắm xã hội dân sự.
Trong hoàn cảnh đó, cần phải tìm một định nghĩa thật chính
xác, khoa học để xác định thế nào là một tổ chức
phi-chính phủ (non-governmental organization, N.G.O.) nếu không muốn
rơi vào tình trạng mơ hồ, lẫn lộn.
Không kể đến những trường hợp đảng viên tham gia vào các
tổ chức phi-chính phủ với tư cách cá nhân, điều cần làm
rõ hơn cả là "sự lãnh đạo của Đảng" đối với các
tổ chức này. Chính vì Đảng luôn luôn muốn vươn cánh tay
rất dài của mình để can thiệp vào xã hội dân sự cho nên
người ta thường chứng kiến những hiện tượng hết sức kỳ
quái, những hoàn cảnh dở khóc dở cười. Như trường hợp
một số vị lãnh đạo Đảng ở cấp tỉnh hay cấp huyện sau
khi về hưu vẫn tiếp tục "cống hiến" bằng cách đảm
nhiệm các chức vụ trong các tổ chức của xã hội dân sự
như: hội trưởng hội làm vườn hay chủ nhiệm câu lạc bộ
trồng hoa, hội trưởng hội võ thuật hoặc trưởng ban bảo
trợ đội bóng đá, v.v… Thậm chí cả chuyện tang ma, nhiều
khi Đảng cũng không chịu để yên cho người dân mà vẫn
"tận tình" can thiệp. Và trong hầu hết mọi trường hợp,
những đảng viên tiến hành những sự can thiệp "mất lòng
dân" đó hoàn toàn không phải do ý muốn cá nhân mà là do sự
phân công của "tổ chức".
Ở Việt Nam, quyền lực của Đảng là quyền lực tuyệt đối,
không bị thách thức bởi bất cứ quyền lực nào khác - kể
cả nhà nước. Để thực hiện quyền lãnh đạo của mình,
Đảng đã tùy tiện đặt ra những quy định hết sức kỳ quái
như: hiệu trưởng một trường đại học tư, chủ nhiệm một
hiệp hội nghiên cứu khoa học, thậm chí lãnh đạo của một
tổ chức từ thiện, v.v… phải là đảng viên. Trong trường
hợp cần phải dành vị trí ấy cho những nhân vật "không -
đảng" nhưng lại có uy tín, thì Đảng giả vờ nhượng bộ
để được tiếng là tôn trọng hiền tài, "cởi mở" đối
với trí thức. Nhưng mặt khác, Đảng lại tìm cách cài cho
bằng được một vài đảng viên vào cơ quan lãnh đạo hay ban
chấp hành của tổ chức đó để bảo đảm "sự lãnh đạo
toàn diện và tuyệt đối của Đảng". Do đó, sự xuất hiện
của một đảng viên, một tổ đảng hay một chi bộ trong một
tổ chức của xã hội dân sự không thể coi là chuyện bình
thường, bởi vì đó có thể là bước đầu tiên trong quá
trình làm "biến chất" tổ chức đó thành một thứ tổ
chức nhà nước hoặc nửa-nhà nước nhằm bảo đảm "sự
lãnh đạo của Đảng".
Chúng ta có thể nêu ra hai trường hợp để hiểu rõ thêm về
các tổ chức được mệnh danh là phi – chính phủ. Trường
hợp thứ nhất là Ủy ban Mặt trận Tổ quốc (thường gọi
tắt là Mặt trận). Bất cứ ai đã từng tham gia hoặc trực
tiếp điều hành Mặt trận đều biết rõ đây là một tổ
chức của Đảng, ăn lương của Đảng và phục vụ cho Đảng.
Mặt trận không do ai bầu ra bằng phiếu kín mà hình thành
bằng con đường "hiệp thương", một cách thức sắp xếp
mà quyền chủ động thuộc về Đảng. Số lượng ủy viên
Mặt trận thì rất đông và thuộc nhiều thành phần, nhưng
phần lớn đều là những người tham gia đi họp "xuân thu
nhị kỳ", vô thưởng vô phạt, quyền rơm vạ đá. Riêng bộ
phận thường trực điều hành Mặt trận lại bao gồm những
người được lựa chọn rất cẩn thận và được chỉ đạo
trực tiếp bởi một ban của Đảng có tên là Ban Dân vận
(hoặc Ban Dân vận - Mặt trận). Mặt trận thường đóng vai
trò mang tính hình thức, không có quyền lực thực chất, đến
nỗi nhiều cán bộ Mặt trận gọi đùa đó là cơ quan "đưa
Mặt ra chịu Trận". Nhưng khi cần thiết, Mặt trận lại
được trao trách nhiệm rất lớn, thực hành những công tác
rất quan trọng như : tổ chức các cuộc bầu cử đại biểu
Quốc hội và Hội đồng Nhân dân, trong đó có việc chọn lựa
các ứng cử viên, sắp xếp ứng cử viên vào các đơn vị
bầu cử, tổ chức bỏ phiếu và kiểm phiếu, công bố kết
quả bầu cử, v.v… Tất nhiên, quyền và trách nhiệm đó không
phải của bản thân Mặt trận mà chỉ là quyền lực của
Đảng được thực hiện thông qua Mặt trận.
Trong thực tế, đã từng có không ít "ứng cử viên" bị
người dân địa phương phản đối về tư cách đạo đức
hoặc chê bai về trình độ nhưng vẫn được ứng cử và trúng
cử dễ dàng vì được Mặt trận "di dời" nhẹ nhàng sang
một đơn vị bầu cử khác – nơi mà cử tri không biết ất
giáp gì về nhân thân và thành tích công tác của đương sự.
Ngược lại, mỗi khi Đảng muốn gạt bỏ một ứng cử viên
vì một lý do nào đó thì Mặt trận cũng dễ dàng loại trừ
người đó bằng cách lặng lẽ "vận động" cử tri gạch
tên trên lá phiếu bầu hoặc gọn ghẽ hơn nữa, "vận
động" quần chúng trong tổ dân phố hay trong cơ quan bác bỏ
tư cách ứng cử viên của đương sự ngay từ vòng ngoài.
Phương thức "Đảng cử, dân bầu" đó làm người dân chán
ngấy, nhưng do không thể thay đổi được tình hình nên mỗi
khi bị bắt buộc đi bỏ phiếu thì họ thường làm qua loa
chiếu lệ để tránh rắc rối với chính quyền. Với những
thủ thuật quen thuộc đó, các cuộc bầu cử đáng lẽ phải
nghiêm túc, trung thực lại biến thành trò chơi trong tay Đảng,
mà tổ chức đứng ra chịu trách nhiệm chính là cơ quan "đưa
Mặt ra chịu Trận".
Vào giữa năm 2006, trả lời phỏng vấn báo Tuổi Trẻ, Giáo sư
Tiến sĩ Đặng Ngọc Dinh, Viện trưởng "Viện Những vấn
đề phát triển" ( VIDS) nhận định : "Theo quan niệm đó thì
ở Việt Nam Mặt trận Tổ quốc là tổ chức xã hội dân sự
lớn nhất, bao gồm các đoàn thể (công đoàn, phụ nữ, thanh
niên, nông dân...), hội nghề nghiệp, các tổ chức phi chính
phủ..."[5]
Mệnh đề "Mặt trận Tổ quốc là tổ chức xã hội dân sự
lớn nhất" là một mệnh đề phi khoa học, không căn cứ vào
thực tế. Mệnh đề này che giấu một sự thật : Mặt trận
không phải là một tổ chức do chính người dân lập ra, cũng
không sống bằng cách tự gây quỹ hay do dân đóng góp, mà là
một cơ quan do Đảng lập ra, sống bằng ngân sách của nhà
nước và được điều hành bởi những cán bộ do Đảng bổ
nhiệm. Nói cách khác, Mặt trận chính là một cơ quan nhà
nước hoặc nửa – nhà nước nấp dưới hình thức của xã
hội dân sự và có tham vọng bao trùm toàn bộ xã hội dân sự.
Trường hợp thứ hai là công đoàn. Công đoàn trên thế giới
là tổ chức do công nhân lập ra để bảo vệ quyền lợi của
chính họ. Cán bộ công đoàn sống nhờ vào quỹ do công nhân
đóng góp hoặc tạo ra. Các công đoàn cơ sở kết hợp lại
thành tổ chức công đoàn cấp trên, thậm chí có quy mô toàn
quốc và có quan hệ quốc tế, nhưng công đoàn không phải là
tổ chức của nhà nước. Ở một số nước (như Hoa Kỳ), công
đoàn hoạt động hoàn toàn phi-chính trị. Ở một số nước
khác (như ở Anh và các nước Bắc Âu), các tổ chức công
đoàn lớn thường là chỗ dựa của các đảng dân chủ -xã
hội trong cuộc cạnh tranh để giành các ghế đại biểu trong
Quốc hội hay trong các hội đồng dân cử ở địa phương.
Nhưng trong bất cứ trường hợp nào, công đoàn vẫn giữ quy
chế độc lập với nhà nước, và trong một mức độ nào đó,
độc lập cả với đảng chính trị mà nó ủng hộ (mặc dù
đây là những đảng chính trị trong một môi trường chính
trị tự do cạnh tranh chứ không phải là một Đảng độc
quyền về mặt chính trị). Nói cách khác, công đoàn thuộc
phạm vi của xã hội dân sự.
Riêng ở Việt Nam, công đoàn có nguồn gốc từ các công hội
đỏ, thực ra không sinh ra từ nhu cầu tự nhiên của công nhân
(nhu cầu bảo vệ quyền lợi của công nhân) mà sinh ra từ nhu
cầu chính trị (giúp Đảng cộng sản giành chính quyền). Do
đó sau khi thành lập chuyên chính vô sản, các công đoàn chỉ
làm nhiệm vụ giúp cho Đảng và chính quyền quản lý, kiểm
soát công nhân chứ không phải để bảo vệ quyền lợi của
công nhân. Các cán bộ công đoàn không trưởng thành từ phong
trào đấu tranh của công nhân mà do Đảng bổ nhiệm; họ
thường xuất thân từ "cán bộ phong trào" (tức cán bộ
hoạt động trong các đoàn thể do Đảng lập ra như Đoàn Thanh
niên, Hội phụ nữ,…) hoặc là cán bộ điều động từ các
cơ quan chính quyền, cơ quan Đảng, thậm chí từ quân đội và
công an. Cần nói thêm là ở Việt Nam, tư cách đảng viên là
một thứ chìa khóa vạn năng (passe-partout). Một khi đã là
đảng viên thì có thể làm được bất cứ nghề gì, giữ
được bất cứ chức vụ nào!
Mang danh công đoàn nhưng thực chất là một tổ chức chính
trị của Đảng, và vì Đảng độc quyền nắm quyền lực
chính trị cho nên công đoàn trở thành một thứ tổ chức nhà
nước hoặc nửa – nhà nước (người dân thường gọi nôm na
là công đoàn "quốc doanh"). Đó là lý do giải thích tại sao
từ khi chuyển sang kinh tế thị trường, hàng loạt các cuộc
đình công xảy ra đều là đình công bất hợp pháp. Lý do rất
đơn giản : công nhân bất tín nhiệm công đoàn và cán bộ
công đoàn "chính thức", trong khi họ lại không được
quyền thành lập công đoàn và bầu ra những người đại diện
cho mình. Do đó, phong trào công đoàn thiếu hẳn những người
hay tổ chức có đủ thẩm quyền và uy tín để đại diện cho
công nhân trong việc điều đình với giới chủ.
Như vậy, ở Việt Nam, khái niệm "tổ chức phi-chính phủ"
(nongovernmental organization, N.G.O.) là một khái niệm mơ hồ,
không rõ nghĩa. Một tổ chức phi-chính phủ nhưng đặt dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản thì cũng chỉ là một tổ
chức chính quyền trá hình hoặc là một tổ chức nửa –
chính quyền trá hình. Cần phải thay thế bằng một định
nghĩa khác : một tổ chức phi-chính phủ thật sự phải là
một tổ chức vừa phi-chính phủ, vừa phi-đảng.
Đã đến lúc cần phải điều chỉnh lại câu khẩu hiệu:
"Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ".
Bởi vì nếu cái gì cũng do Đảng lãnh đạo thì nhân dân còn
cái gì để làm chủ? Để nhân dân có thể làm chủ, Đảng
phải tự hạn chế sự lãnh đạo của mình và cho phép xã hội
dân sự được phục hoạt dưới sự quản lý của Nhà nước.
Nhưng Nhà nước phải quản lý xã hội dân sự bằng pháp luật
công khai, rõ ràng, đặt dưới sự giám sát của người dân
chứ không phải bằng một thứ pháp luật tùy tiện, được
"vận dụng" một cách co giãn bởi một thiểu số nắm
quyền lực.
Cho phép phục hồi xã hội dân sự chính là tiêu chí đánh giá
"thiện chí" của Đảng cộng sản trong thực tâm dân chủ
hóa đất nước. Bằng không thì từ ngữ "của dân, do dân và
vì dân" chỉ là sự dối trá, một sự dối trá có dụng ý
nhằm che đậy dã tâm tước đoạt các quyền tự do căn bản
của người dân và bảo vệ cho một bộ máy nhà nước tham
nhũng - một bộ máy nhân danh nhân dân để đè đầu cưỡi cổ
nhân dân.
Để chuyển hóa một chế độ toàn trị trong đó xã hội dân
sự đã bị "chính trị hóa" đến mức tối đa thành một
chế độ thật sự dân chủ, chúng ta phải tiến hành một quá
trình "phi-chính trị hóa" xã hội dân sự. Quá trình đó là
sự khởi đầu thật sự cần thiết nhằm nâng cao dân trí,
tập dượt cho người dân cách thức làm chủ bản thân, làm
chủ xã hội. Dân trí chỉ có thể được nâng cao trong quá
trình thực hiện dân quyền (tức là quyền công dân và quyền
con người, ngày nay chúng ta thường gọi là nhân quyền). Và
thực hiện dân quyền chính là bước tập dượt để chuyển
đổi một thể chế mà Đảng làm chủ trở thành một thể
chế trong đó dân làm chủ. Đó chính là cốt lõi của "tư
tưởng Phan Châu Trinh" được vận dụng vào điều kiện mới,
hoàn cảnh mới.
Con đường nâng cao dân trí, thực hiện dân quyền đó chính là
con đường phục hoạt xã hội dân sự dựa trên nguyên tắc :
cái gì là của dân, phải trả lại cho người dân!
Đà lạt, 19.8.2008
MAI THÁI LĨNH
_______________________________
[1] Định nghĩa của Trung tâm Xã hội Dân sự (Centre for Civil
Society, CCS) thuộc Trường Kinh tế Luân Đôn (LSE):
http://www.lse.ac.uk/collections/CCS/what_is_civil_society.htm
[2] Nhóm tự giúp (self-help group) là một tổ chức được hình
thành bởi những người có cùng chung một vấn đề hay có cùng
một hoàn cảnh, tập hợp nhau lại để cùng nhau góp vốn hay
thu thập thông tin và hỗ trợ, chăm sóc lẫn nhau. Một trong
những nhóm tự giúp nổi tiếng là Hội Những người nghiện
rượu Nặc danh (Alcoholics Anonymous) ra đời ở Hoa Kỳ trong thập
niên 1930.
[3] Nhóm bênh vực hay nhóm biện hộ (advocacy group) là một nhóm
vận động xã hội nhằm hỗ trợ cả về vật chất lẫn về
mặt pháp lý cho những người đang gặp khó khăn trong cuộc
sống (vd : người tàn tật, người bị bệnh tâm thần, v.v…).
[4] Trường Kinh tế Luân Đôn (London Economic School, LSE) do Hội
Fabian thành lập vào năm 1895, ngày nay thuộc hệ thống của
Viện Đại học Luân Đôn (University of London). Đây là một trong
những trường hàng đầu thế giới về kinh tế học và các
khoa học xã hội. Trong số các cựu giáo sư và cựu sinh viên
của trường, có 15 người đoạt giải Nobel và hơn 40 người
là nguyên thủ quốc gia hay đứng đầu các chính phủ trên thế
giới. Cố Tổng thống J.F. Kennedy của Hoa Kỳ và nhà lãnh đạo
Lý Quang Diệu của Singapore đã từng học ở trường này.
[5] "Đừng sợ xã hội dân sự", Tuổi Trẻ Online, Chủ
Nhật, 21/05/2006.
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=138839&ChannelID=3
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/6107), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét