7/2010 có hai biến chuyển đáng quan tâm tại Á châu. Thứ nhất,
hội nghị của Diễn Đàn An Ninh Á châu (Asean Regional Forum –
ARF) họp thường niên tại Hà Nội. Tại hội nghị, Hoa Kỳ
tuyên bố chính sách mới tại Biển Đông. Thứ hai, Hải quân
Hoa Kỳ và Nam Hàn tập trận tại vùng biển chung quanh bán đảo
Triều Tiên (1).
Trước đó cũng trong tháng 7/2010, giáo sư Carlyle Thayer ở Úc
viết bài "The United States and Chinese Assertiveness in the South China
Sea" (Hoa Kỳ và Trung Quốc xác định thái độ tại Biển
Đông) với đầy đủ chi tiết về sự tranh chấp Biển Đông
giữa Trung Quốc, Việt Nam và Hoa Kỳ. Tài liệu ngắn gọn,
nhưng súc tích giúp cho những ai muốn tìm hiểu về các vấn
nạn của Biển Đông trong mấy chục năm qua.
Sau đây là bản lược dịch. Giáo sư Thayer bắt đầu bài
viết bằng cách nói đến sự quan trọng của căn cứ Hải quân
Trung Quốc tại Hải Nam và vụ tàu Trung Quốc chận đường
chiến hạm Impeccable của Hải quân Hoa Kỳ và những lời tuyên
bố chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông. Ba động tác
này là một thách thức các nước chung quanh vùng Biển Đông và
Hoa Kỳ. Giáo sư Thayer đưa ra 3 nguyên nhân gỉải thích tại sao
Trung Quốc lại có thái độ giành quyền kiểm soát Biển Đông.
Và sau cùng đưa ra 7 đề nghị giúp giải quyết căng thẳng
tại đó.
Trần Bình Nam</div>
<h2>Bối cảnh:</h2>
Với chính sách chính thức tuyên bố là "<em>hoà bình, hợp
tác và phát triển</em>" (peace, cooperation and development), Trung
Quốc đã theo đuổi chủ thuyết tạo một thế giới "<em>hài
hoà</em>" (harmonious world) qua đường phát triển kinh tế và
góp phần duy trì hoà bình thế giới.
Trung Quốc rất thành công trong chính sách kinh tế nhắm vào
xuất cảng là chính, và việc này đòi hỏi năng lượng. Hai nhu
cầu, phát triển kinh tế và đầy đủ năng lượng đòi hỏi
Trung Quốc lo bảo đảm sự lưu thông của các đường biển
huyết mạch gần lục địa Trung Quốc. (Sea Lines of Communications
– SLOCs).
Mặc dù thế giới đang trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế,
ảnh hưởng kinh tế của Trung Quốc vẫn rất mạnh trong vùng.
Trung Quốc đặc biệt có vị thế quan trọng vì Trung Quốc là
chủ nợ 2 trillion mỹ kim mà con nợ là Hoa Kỳ.
Để giúp giải quyết khủng hoảng kinh tế thế giới Trung
Quốc giải tỏa ngân khoản kích thích kinh tế (stimulus package)
trong nước, chính yếu trong ngành xây cất và ngoài nước bỏ
nhiều tiền đầu tư làm cho Trung Quốc càng có uy thế khi kinh
tế thế giới vãn hồi dần.
Nhờ sức mạnh kinh tế, Trung Quốc cải tiến trang bị quân
đội như tăng cường hỏa tiễn đặt trên đất liền và trên
biển đồng thời cải thiện kho vũ khi nguyên tử để đối
đầu với kho vũ khí nguyên tử của Hoa Kỳ.
Trung Quốc còn phát triển hỏa tiễn tầm ngắn và tầm trung
dùng vào việc tấn công Đài Loan trường hợp Đài Loan tuyên
bố độc lập. Đồng thời Trung Quốc tăng cường sức mạnh
của Hải quân để bảo vệ các đường giao thông trên biển
và bảo đảm không ai có thể chận eo biển Malacca.
Hoa Kỳ, Nhật Bản và Úc châu từng nhận xét rằng sự phát
triển quân lực Trung Quốc vượt ngoài nhu cầu tự vệ, và
ngân sách quốc phòng Trung Quốc công bố chỉ là một phần
của ngân sách thực chi. Từ năm 1997 đến nay ngân sách quốc
phòng Trung Quốc tăng 500%. Đô đốc Mike Mullen, Chủ tịch Bộ
Tham mưu Liên quân Hoa Kỳ nói rằng Trung Quốc đặc biệt tăng
cường lực lượng Hải quân nhằm có khả năng đối phó với
các căn cứ Hải quân Hoa Kỳ trong vùng Á châu.
Các nhà nghiên cứu chiến lược cho rằng Trung Quốc đang nới
rộng vòng đai phòng thủ tại tây Thái Bình Dương ra vòng đảo
ngoài Biển Nhật Bản, Biển Phi Luật Tân và Biển Nam Dương bao
gồm cả quần đảo Marianas và Palau tiến sát đến đảo Guam
của Hoa Kỳ. Tháng Ba & tháng Tư vừa qua (2010) Hải quân Trung
Quốc cho tập trận tại phía Nam đảo Okinawa.
Cuộc tập trận đầu tiên trong tháng Ba gồm 6 chiến hạm
thuộc Hạm đội Bắc Hải tập đánh nhau với Hạm đội Nam
Hải. Sau đó Hạm đội Bắc Hải băng qua eo biển Bashi phía
bắc Phi Luật Tân vào neo tại Fiery Cross Reef thuộc quần đảo
Trường Sa trước khi tiếp tục tập trận tại phía đông eo
biển Malacca.
Cuộc tập trận thứ hai gồm 10 chiến hạm thuộc Hạm đội
Đông Hải diễn tập tại phía đông bờ biển Đài Loan cùng
với máy bay căn cứ trên đất liền tập tiếp tế nhiên liệu
trên không, bay đêm, bay tránh radar và thực tập oanh tạc trên
biển.
Đô đốc Robert Willard, Tư lệnh lực lượng Mỹ tại Thái Bình
Dương nói sự phát triển lực lượng của Trung Quốc làm thay
đổi cán cân quân sự trong vùng Thái Bình Dương.
Quan hệ giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ là quan hệ vừa tranh đua
vừa hợp tác, trong đó Đài Loan chiếm một vị trí quan trọng.
Trong nhiệm kỳ thứ hai của tổng thống Bush, quan hệ giữa hai
bên có chiều dịu xuống, nhưng trong những tháng 9 & 10/2008 Trung
Quốc ngưng các chương trình hợp tác quân sự khi Hoa Kỳ quyết
định bán 6.5 tỉ mỹ kim vũ khí cho Đài Loan. Sau khi tổng
thống Obama đắc cử, Trung Quốc tiếp nối lại quan hệ quân
sự. Bộ trưởng ngoại giao hai nước thăm viếng qua lại. Tổng
thống Obama và Chủ tịch nước kiêm Tổng bí thư đảng cộng
sản Trung Quốc Hồ Cẩm Đào gặp nhau không chính thức qua các
buổi họp G-20 tại Luân Đôn và Pittsburgh. Cuối năm 2009 tổng
thống Obama chính thức thăm viếng Bắc Kinh. Trước khi lên
đường tổng thống Obama nói ông cho rằng sự vươn lên của
Trung Quốc không có tính đe dọa ai. Tuy nhiên đầu năm 2010, ông
Obama chấp thuận một đợt bán vũ khí khác cho Đài Loan và
Trung Quốc lại ngưng các chương trình hợp tác quân sự.
<h2>Ý nghĩa chiến lược của căn cứ Hải quân Yulin</h2>
Năm 2007 vệ tinh dân sự của Anh khám phá Trung Quốc xây cất
gần xong một căn cứ Hải quân lớn tại Yulin gần thành phố
Sanya nằm ở cực nam đảo Hải Nam. Khi hoàn tất căn cứ này
có khả năng đưa Hải quân Trung Quốc vào hoạt động tại
Thái Bình Dương và Biển Đông.
Các hình chụp được cho thấy các hầm và cầu tàu tại Yulin
có khả năng đồn trú nhiều chiến hạm và tàu ngầm. Các cầu
đang xây có khả năng làm chỗ đậu cho các chiến hạm tấn
công loại lớn và hàng không mẫu hạm.
Đồng thời Trung Quốc cho cải tiến phi trường tại đảo Woody
trong quần đảo Paracels và xây một đài radar tại Fiery Cross
Reef trong quần đảo Trường Sa, và các đơn vị Hải quân khác
hiện diện gần như thường trực tại Mischief Reef ở phía tây
Phi Luật Tân. Các căn cứ và cơ sở này cho Trung Quốc khả
năng bảo vệ quyền "tự biên tự diễn" của mình trên
Biển Đông, và sự giao thông qua lại của hai eo biển Malacca và
Singapore.
Căn cứ Yulin giúp rút ngắn đường tiếp vận cho hạm đội
Trung Quốc hoạt động trong Biển Đông và gián tiếp đe dọa
sự tự do lưu thông của thương thuyền các nước Nhật, Đài
Loan và Nam Hàn.
Một phần căn cứ Yulin nằm dưới hầm không thể chụp hình
bằng vệ tinh, nên không thể xác định được khả năng thật
sự của nó. Phần chụp được cho thấy căn cứ Yulin đã có
khả năng đồn trú tàu ngầm mang hỏa tiễn liên lục địa.
Cuối năm 2007 người ta thấy tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ
hai thuộc Loại Jin 095 tại căn cứ Yulin. Trước đây loại tàu
ngầm này chỉ có mặt trong Hạm đội Bắc hải.
Khi Yulin hoàn tất căn cứ này sẽ là căn cứ tàu ngầm tấn
công của Hải quân Trung Quốc. Hiện nay Trung Quốc chưa đóng
xong các tàu ngầm tối tân, nhưng khi xong Trung Quốc có tàu
ngầm mang 12 hỏa tiễn có khả năng phóng ngoài biển. Và đây
là lực lượng đáng quan ngại khi Trung Quốc trang bị chúng
với hỏa tiễn nhiều đầu đạn nguyên tử. Chung quanh đảo
Hải Nam là vùng nước sâu nên tàu ngầm Trung Quốc có thể ẩn
náu để phóng hỏa tiển một cách kín đáo. Theo Bộ Quốc
Phòng Hoa Kỳ Trung Quốc sắp hoàn tất 5 tàu ngầm nguyên tử
phóng hỏa tiễn (SSBN), một số sẽ được đồn trú tại Yulin.
Căn cứ Yulin như vậy có khả năng thay đổi cán cân lực
lượng trên Biển Đông và là một trở ngại cho sự đi lại
của Hải quân Hoa Kỳ (theo nhận xét của Đô đốc Willard) cũng
như của Hải quân các nước chung quanh Biển Đông như Việt Nam
và Phi Luật Tân.
<h2>Trung Quốc quấy nhiễu tàu chiến của Hải quân Hoa Kỳ</h2>
Tháng Hai-Ba 2009 chiến hạm Hoa Kỳ USNS Impeccable đang làm công
tác dò đáy biển tại một vùng cách mũi nam đảo Hải Nam 75
hải lý để đo lường khả năng hoạt động của tàu ngầm
Trung Quốc xuất phát từ căn cứ Yulin thì ngày 5/3 một chiến
hạm nhỏ của Trung Quốc chạy chận đầu không quá 100 mét mà
không báo trước bằng vô tuyến. Hai giờ sau một máy bay quân
sự Trung Quốc lọai Y-12 bay thật thấp trên chiếc Impeccable, và
chiến hạm Trung Quốc trở lại chận đầu chiếc Impeccable lần
này cách xa khỏang từ 400 đến 500 mét.
Ngày 7/3 một chiến hạm thu thập tin tức tình báo của Hải
quân Trung Quốc đến sát chiếc Impeccable dùng vô tuyến liên
lạc với đài chỉ huy yêu cầu chiếc Impeccable rời vùng hoạt
động nếu không "sẽ lãnh hậu quả". Hôm sau 8/3 Trung Quốc
cho 5 chiếc tàu bám theo chếc Impeccable (một chiếc thuộc sở
kiểm ngư, một chiếc thuộc Viện hải học, một chiến hạm
tuần duyên và hai chiếc giả cào (trawler) (2). Hai chiếc trawler
tiến sát chiếc Impeccable 15 mét phất cờ Trung Quốc bảo
Impeccable rời khỏi khu vực tức khắc. Chiếc Impeccable dùng vòi
phun nước đuổi tàu Trung Quốc. Sau đó chiếc Impecable yêu cầu
tàu Trung Quốc tránh đường để rời khu vực an toàn tránh
tạo khủng hoảng. Có lúc chiếc Impeccable phải ra lệnh lùi máy
để tránh húc vào hai chiếc trawler. Khi Impeccable rời vị trí,
ngư phủ các chiếc trawler dùng câu móc định cắt đứt dây
kéo máy dò đáy biển (Sonar) của tàu Impeccable.
Ngày 11/6 Hải quân Trung Quốc lại gây sự với Hải quân Hoa
Kỳ khi cho tầu ngầm tìm cách cắt máy Sonar của chiếc USS John
S. McCain khi chiếc tàu này đang thao dượt với hải quân Nam
Dương và Phi Luật Tân.
Hai cuộc đụng chạm này cho thấy với thái độ của Trung
Quốc Biển Đông có thể là nơi bùng phát những sự cố bất
ngờ.
<h2>Trung Quốc xác định thái độ chủ quyền tại Biển
Đông</h2>
Từ năm 2007 Trung Quốc đã làm một số hành động đụng chạm
chủ quyền của Việt Nam.
Thứ nhất: Trung Quốc áp lực các hãng dầu Hoa Kỳ ngưng tiến
hành các giao kèo khai thác dầu khí ký với Việt Nam trong vùng
"gọi là tranh chấp" trong Biển Đông.
Thứ hai: Trung Quốc đơn phương cấm đánh cá trong Biển Đông.
Thứ ba: Trung Quốc phản đối với Liên hiệp quốc khi Việt Nam
và Mã Lai Á nộp hồ sơ xác định "vùng biển nối dài"
chung của hai nước. Đồng thời Trung Quốc đòi chủ quyền
trên Biển Đông bằng cách đơn phương công bố một bản đồ
gồm 9 đường chấm chấm (họp lại thành hình thù như một
cái lưỡi bò) choán trọn 80% Biển Đông.
Năm 2007 Việt Nam vạch kế hoạch phát triển vùng biển, dự
kiến đến năm 2020 vùng này sẽ đóng góp 55% GDP quốc gia và
55-60% hàng hoá, phẩm vật xuất cảng. Trung Quốc âm thầm áp
lực các công ty Hoa Kỳ đang tính toán đầu tư vào vùng biển
Việt Nam, trong đó có công ty ExxonMobil, rằng nếu ký giao kèo
với Việt Nam các công ty này sẽ mất quyền lợi làm ăn với
Trung Quốc.
Năm 2009 và 2010 Trung Quốc đơn phương ra lệnh cấm đánh cá
trên vĩ tuyến 12 từ 15-5 đến 1-8. Trung Quốc nói mục đích
cấm để cho cá sinh đẻ, để chận nạn đánh cá lậu và bảo
vệ quyền lợi của ngư dân Trung Quốc. Thời gian cấm là mùa
đánh cá hằng năm của ngư dân Việt Nam.
Năm 2009 Trung Quốc phái 9 chiếc tàu thuộc sở Bảo vệ Ngư
nghiệp chạy tuần tra để thi hành lệnh cấm. Tàu Trung Quốc
chận bắt, lấy cá và đuổi thuyền bè ngư dân Việt Nam ra
khỏi khu cấm. Có một lần tàu Trung Quốc húc chìm một thuyền
đánh cá Việt Nam. Ngày 16/7 Trung Quốc bắt giữ 3 thuyền đánh
cá của Việt Nam và 37 ngư dân gần đảo Paracels. Sau khi thả 2
thuyền, Trung Quốc giữ lại thuyền thứ ba với 12 ngư dân đòi
31700 mỹ kim tiền phạt. Chính quyền tỉnh Quảng Ngãi (nơi
xuất phát các thuyền đánh cá bị bắt) không chịu đóng tiền
phạt. Bộ Ngoại giao Việt Nam đã phản đối qua toà đại sứ
Trung Quốc tại Hà Nội.
Lợi dụng hai bộ Thương Mãi Việt Nam và Trung Quốc có chung
một Trang Nhà, Trung Quốc cho đăng một bản tin phản đối
chính quyền Việt Nam (TBN: làm như Việt Nam tự chửi mình!). Khi
nhận ra việc dối trá này của Trung Quốc, Bộ Thương Mãi
Việt Nam cho đóng trang nhà chung.
Chưa hết, tháng 8 khi hai thuyền đánh cá và 25 ngư dân Việt Nam
chạy vào tránh bảo tại Paracels, Trung Quốc giam thuyền và giam
giữ các ngư dân. Lần này Việt Nam phản ứng mạnh mẽ đòi
hủy bỏ các phiên họp chung để thảo luận về các vấn đề
khai thác ngoài biển đã lên lịch. Trung Quốc thả các ngư dân.
Tháng 4/2010 Trung Quốc lại ban hành lệnh cấm như năm trước
và hai chiếc tàu Yuzheng 311 và tàu tuần duyên 202 của Hải quân
Trung Quốc đã được phái đến bênh vực cho ngư dân Trung
Quốc nói là bị lực lượng Hải quân Việt Nam xách nhiễu.
Các thuyền đánh cá Việt Nam dùng chiến thuật bao vây gây trở
ngại vận chuyển cho tàu Yuzheng 311. Khi Trung Quốc gởi thêm
chiến hạm tới, các thuyền đánh cá Việt Nam rút đi.
Uỷ ban Liên hiệp quốc về Thềm Lục Địa nối dài (Commission
on the Limits of the Continental Shell –CLCS) đã định ngày 13/5/2009
là ngày cuối cùng để các quốc gia ven biển trên thế giới
nộp bản khai Thềm Lục Địa Nối Dài theo một điều khoản
của Luật Biển (UN Convention of Law of the Sea – UNCLOS). Ngày 6/5
Việt Nam và Mã Lai nộp một bản khai cho vùng chung phía Nam, và
ngày 7/5 Việt Nam nộp một bản riêng trong vùng phiá Bắc
(3).Trung Quốc lập tức gởi một văn thư phản kháng đến Liên
hiệp quốc (nhưng không nộp bản khai của mình theo tinh thần
Luật Biển). Việt Nam gởi văn thư phản đối văn thư của
Trung Quốc.
Ngay sau đó Trung Quốc (như đã nói ở trên) cho công bố một
bản đồ gồm 9 đường chấm chấm mơ hồ họp thành một hình
chữ U bao trọn Biển Đông nói là vùng biển chủ quyền. Trong 3
bản tuyên bố trước đây (9/1958 về lãnh hải, 1992 về lãnh
hải và vùng lân cận, 1996 về đường chuẩn cho lãnh hải) và
một bộ luật ban hành năm 1998 về thềm lục địa Trung Quốc
chưa bao giờ có một đòi hỏi có tính tự tác tự thọ như
vậy.
Những hành động của Trung Quốc làm Hoa Kỳ quan tâm và thấy
cần điều chỉnh thái độ để bảo vệ quyền thương mãi và
uy tín của mình. Thái độ của Hoa Kỳ trước đây là không can
thiệp vào việc tranh chấp biển đảo giữa các nước trong
vùng, và chỉ đặt quan tâm chính vào việc an toàn và tự do
lưu thông trên biển.
Những tháng đầu của chính quyền Obama, Trung Quốc và Phi Luật
Tân bất hoà khi Phi vạch đường căn bản qua các hải đảo
Trung Quốc gởi chiến hạm tới có ý đe dọa, tổng thống Obama
đã ủng hộ Phi bằng cách điện thoại cho bà tổng thống Phi
Gloria Macapagal Arroyo xác định rằng Hoa Kỳ vẫn tôn trọng
thỏa ước về tàu bè thăm viếng (Visiting Forces Agreement) giữa
Hoa Kỳ và Phi.
Tháng 7/2009 Hoa Kỳ xác định quan điểm tại Biển Đông trước
quốc hội. Chính phủ gởi hai ông Scot Marciel (Phụ tá bộ
trưởng ngoại giao) và Robert Scher (Phụ tá bộ trưởng quốc
phòng) đến điều trần trước Tiểu ban Đông Á và Thái Bình
Dương. Ông Marciel tuyên bố một cách dứt khoát rằng những
tuyên bố về biển của Trung Quốc tại Biển Đông không có
một cơ sở quốc tế nào cả.
Ông Marciel nói với quốc hội rằng Hoa Kỳ có "lợi ích
thiết yếu" (vital interest) khi duy trì sự ổn định, tự do
lưu thông và bảo vệ quyền buôn bán của mình tại Đông Á.
Ông Marciel sau khi tóm tắt cho quốc hội biết việc Trung Quốc
de dọa các công ty dầu khí của Hoa Kỳ định làm ăn với
Việt Nam đã khẳng định: "Chúng ta cương quyết chống lại
mọi de dọa các công ty Hoa Kỳ."
Về việc tàu Trung Quốc quấy nhiễu hoạt động của Hải quân
Hoa Kỳ ngoài khơi đảo Hải Nam ông Scher xác định thái độ 4
điểm của Hoa Kỳ:
1. Bằng lời và bằng hành động Hoa Kỳ duy trì sự hiện
diện trong vùng.
2. Hải quân Hoa Kỳ quả quyết duy trì quyền lưu thông trên
biển.
3. Quan hệ an ninh với các nước trong vùng qua các cuộc nói
chuyện về chính sách và chiến lược và hợp tác bảo đảm an
toàn trên biển.
4. Tăng cường quan hệ ngoại giao – quân sự với Trung
Quốc để tránh đụng chạm do sự hiểu lầm.
Khi quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc căng thẳng Việt Nam
trở nên gần gũi với Hoa Kỳ hơn. Tháng 6/2008 thủ tướng
Nguyễn Tấn Dũng viếng thăm Hoa Kỳ và hội kiến với tổng
thống Bush. Thủ tướng Dũng là vị thủ tướng Việt Nam đầu
tiên đến viếng Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ sau năm 1975. Trong một
thông cáo chung sau chuyến viếng thăm hai bên đồng ý duy trì
các cuộc gặp gỡ cao cấp về an ninh và chiến lược. Ngoài ra
tổng thống Bush còn tuyên bố Hoa Kỳ ủng hộ "chủ quyền, an
ninh và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam" ("the US supports
Vietnam's national sovereignty, security and territorial integrity").
Lời tuyên bố của tổng thống Bush không nói đến Biển Đông.
Tuy nhiên người ta hiểu rằng đấy là một cách nói tiếp theo
lời tuyên bố của Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates trước
đó vào đầu năm tại Singapore rằng:
"<em>Trong chuyến đi Á châu, tôi nghe nhiều quốc gia nói
vê` tình trạng an ninh trong vùng do nhu cầu tài nguyên thiên
nhiên và than phiền những chính sách ngoại giao có tính áp lực
làm cho tình hình trong vùng trở nên phức tạp … Chúng ta nên
tránh thái độ có tính áp lực mặc dù được che dấu dưới
lớp vỏ hợp tác</em>". (TBN: Ai cũng biết bộ trưởng Robert
Gates nói tới Biển Đông và thái độ đại hán của Trung
Quốc)
Các lời tuyên bố của Bộ trưởng Gates, của tổng thống Bush
và của ông phụ tá ngoại giao Marciel là những lời nhắn nhủ
Trung Quốc rằng họ không nên đe dọa các công ty Hoa Kỳ định
làm ăn với Việt Nam trên Biển Đông.
Quan hệ quốc phòng giữa Việt Nam và Hoa Kỳ cũng được cải
thiện hơn từ năm 2008. Tháng 10/2008 bộ Ngoại giao Việt Nam và
Hoa Kỳ bắt đầu nói chuyện cấp cao về chính trị - quân sự.
Tháng 4/2009 một số sĩ quan cao cấp Việt Nam được máy bay Hoa
Kỳ chở đến mẫu hạm USS John Stennis để quan sát lực lượng
Hải Không Quân thao dượt. Tháng 8/2009 và tháng 3/2010 cơ sở
sửa tàu của Việt Nam sửa chữa các tàu hải quân Hoa Kỳ
thuộc lực lượng vận tải đường biển (US Navy Military Sealift
Command). Cuối năm 2009 bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh
viếng thăm Hoa Thịnh Đốn và gặp bộ trưởng Gates tại Bộ
quốc phòng. Trên đường đi tướng Thanh ghé Hawai thăm Bộ Tư
Lệnh Hoa Kỳ tại Thái bình Dương. Theo chương trình, trong
những tháng cuối năm 2010 này các giới chức quân sự cao cấp
Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ gặp nhau. Tờ Quadrennial Defence Review năm
2010 viết rằng Hoa Kỳ xem Việt Nam và Indonesia là hai đối tác
chiến lược quan trọng.
<h2>Những trở lực trong mối quan hệ Hoa Kỳ-Trung Quốc</h2>
Sau khi nhậm chức, chính quyền Obama mở đầu quan hệ với Trung
Quốc qua cuộc họp song phương bàn về Chiến lược và Kinh tế
(Strategic and Economic Dialogue - SED) trong tháng 7/2009 tại Hoa Thịnh
Đốn. Buổi họp sau đó tổ chức tại Bắc Kinh tháng 5/2010.
Tháng 8/2009 bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ Robert Gates tiếp
tướng Xu Caihou, Phó chủ tịch Quân ủy trung ương của quân
đội Trung Quốc tại Pentagone. Tướng Xu Caihou còn gặp Cố vấn
an ninh quốc gia James Jones, Tham mưu trưởng Liên quân Đô đốc
Michael Mullen, thứ trưởng ngoại giao James Steinberg và thăm xã
giao tổng thống Obama.
Ông Gates và tướng Xu đồng ý một chương trình 7 điểm:
1. Thăm viếng cấp cao.
2. Hợp tác nhân đạo và giúp đỡ nhau khi có thiên tai.
3. Trao đổi hiểu biết y học quân sự.
4. Trao đổi để hiểu nhau hơn giữa các sĩ quan cấp Tá và
cấp Uý
5. Trao đổi văn hoá và thể thao giữa hai quân đội.
6. Tăng cường các cuộc thăm viếng ngoại giao.
7. Trao đổi hiểu biết về cách thức tăng cường an toàn
trên biển.
Tuy nhiên tướng Xu nêu ra 4 trở lực chính trong mối quan hệ
Mỹ Trung gồm:
1. Quan hệ quân sự giữa Hoa Kỳ và Đài Loan. Nếu Hoa Kỳ
khắng khít quân sự với Đài Loan thì quan hệ quân sự giữa
Hoa Kỳ và Trung Quốc khó được cải thiện.
2. Tàu bè và máy bay của Hoa Kỳ không nên vào khu đặc
quyền kinh tế của Trung Quốc. Hoa Kỳ nên tôn trọng Luật
Biển và các luật về biển của Trung Quốc
3. Một số luật của Hoa Kỳ làm trở ngại quan hệ Hoa
Kỳ-Trung Quốc như Luật "Defense Authorization Act" thông qua năm
1999
4. Hoa Kỳ còn nghi ngờ thiện chí chiến lược của Trung
Quốc.
Tháng Ba/2010 Trung Quốc nói với hai viên chức Hoa Kỳ thăm
viếng Trung Quốc rằng Trung Quốc xem Biển Đông là vùng có
"quyền lợi thiết yếu" (core interest) của Trung Quốc. Đây
là lần đầu tiên Trung Quốc đưa Biển Đông lên hàng "quyền
lợi thiết yếu" như Đài Loan và Tây Tạng với ý nghĩa nếu
bị xâm phạm Trung Quốc sẽ dùng vũ lực để bảo vệ.
Có nhiều lý do giải thích tại sao gần đây Trung Quốc khẳng
định lập trường đòi chủ quyền của mình trên Biển Đông.
Thứ nhất, Trung Quốc muốn áp lực Việt Nam cùng với Trung
Quốc khai thác dầu khí chung trong vùng biển ngoài khơi trên
nguyên tắc thuộc Việt Nam. Nếu quả thật vậy thì Trung Quốc
khó đạt được ý đồ của mình vì Việt Nam không dễ gi để
Trung Quốc hưởng lợi những gì nằm trong (hay sát với) vùng
đặc quyền kinh tế 200 hải lý của mình. Trước đây Trung
Quốc áp lực các công ty nước ngoài không ký giao kèo khai thác
dầu khí với Việt Nam cũng trong mục đích này (và tạm thời
thành công). Hai công ty BP của Anh và ExxonMobil của Mỹ đã tạm
ngưng khai thác theo giao kèo, nhưng gần đây cho biết sẽ tiếp
tục tiến hành giao kèo đã ký. Hoa Kỳ đã cho Trung Quốc biết
Hoa Kỳ không chấp nhận ai làm áp lực với các công ty Hoa Kỳ
làm ăn hợp luật lệ quốc tế .
Thứ hai, Trung Quốc muốn cho Việt Nam thấy sự bất mãn khi
biết Việt Nam hình như đang chuẩn bị mang việc xích lại với
Hoa Kỳ ra bàn thảo trong đại hội 11 của đảng vào năm 2011.
Từ năm 1995 sau khi thiết lập bang giao với Hoa Kỳ Việt Nam
vẫn rất dè dặt trong quan hệ với Hoa Kỳ vì ngại làm mất
lòng Trung Quốc. Nhưng từ năm 2003 về sau áp lực trên Biển
Đông của Trung Quốc càng mạnh thì Việt Nam càng bớt dè dặt
khi xích lại với Hoa Kỳ.
Cuối năm 2007 khi Trung Quốc thành lập quận huyện bao gồm cả
Trường Sa, sinh viên Việt Nam tại Sài gòn và Hà Nội đã biểu
tình phản đối và Trung Quốc đã mạnh mẽ áp lực Việt Nam
ngăn cấm các cuộc biểu tình. Qua năm 2008 sự chống đối của
nhân dân trong nước trước ý đồ lấn chiếm của Trung Quốc
lên cao và cao điểm là năm 2009 khi tướng Võ Nguyên Giáp lên
tiếng cho rằng vụ Trung Quốc khai thác mỏ Bauxite ở cao nguyên
Việt Nam là có hại cho an ninh quốc gia. Đảng cộng sản Việt
Nam nhận ra rằng khuynh hướng chống Trung Quốc trong nước là
một đe đọa cho sự lãnh đạo của đảng cộng sản nếu họ
không có chương trình đáp ứng.
Những nhà quan sát tình hình Việt Nam đồng ý rằng nội bộ
lãnh đạo Việt Nam có hai khuynh hướng. Một muốn mở rộng
quan hệ quốc tế để hội nhập rộng rãi. Một muốn thắt
chặt quan hệ với Trung Quốc. Và Trung Quốc tỏ thái độ cứng
rắn trên Biển Đông để cảnh cáo Việt Nam rằng theo họ thì
có lợi hơn là chống họ. Nhưng hình như trước tình cảm
chống Trung Quốc của nhân dân nhóm thứ hai chủ trương thân
Trung Quốc cũng phải đồng ý cần tìm một con đường quốc
phòng khác hơn là dựa vào Trung Quốc.
Thứ ba, chính sách Biển Đông của Trung Quốc có thể do nhu
cầu năng lượng. Làm chủ được Biển Đông có nghĩa là làm
chủ một kho dầu khổng lồ và bảo đảm một đường lưu
thông quan trọng trên biển. Trung Quốc đã cải tiến thiết bị
Hải quân và thiết lập căn cứ ở Yulin trong mục đích này.
Năm 2002 khối Asean và Trung Quốc ký bản "Tuyên bố về Cách
ứng xử trên Biển Đông" (Declaration on the Conduct of Parties in
the South China Sea) đồng ý "tự chế và thận trọng trong các
hoạt động để tránh gây ra tranh chấp" (self restraint in the
conduct of activities that would complicate or escalate disputes). Tuy nhiên
tình hình an ninh trên Biển Đông càng căng thẳng và trở nên
cấp bách trong ba năm qua. Sự đụng chạm giữa Hải quân Trung
Quốc và Hải quân Hoa Kỳ tại phía Nam đảo Hải Nam cho thấy
Biển Đông có thể là nơi "toé ra lửa" nếu các bên liên
hệ thiếu thận trọng.
Để kết thúc bản Tài liệu về tranh chấp Biển Đông, giáo
sư Thayer đề nghị một giải pháp 7 điểm để giảm căng
thẳng trên Biển Đông:
1. Trung Quốc cần thảo luận với các nước trong vùng về
quyền đánh cá và chấm dứt việc đơn phương cấm đánh cá
vùng này vùng khác hằng năm một cách tùy tiện.
2. Cần chi tiết hoá việc thi hành bản "Tuyên bố về Cách
ứng xử trên Biển Đông" ký năm 2002.
3. Trung Quốc và Hoa Kỳ cần có một bản văn Thỏa Thuận về
đụng chạm trên biển (Incidents At Sea Agreement) để tránh đụng
chạm trên biển ngoài ý muốn.
4. Các nước có vũ khí nguyên tử, nhất là các nước trong
Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc cần tham gia vào "Hiệp
Định Xác lập vùng Phi nguyên tử Đông Nam Á" (Southeast Asia
Nuclear Free Weapons Zone Treaty). Trung Quốc hứa sẽ tham gia (nhưng
chưa ký). Hiệp hội Asean cần xác định vùng nam đảo Hải Nam
có nằm trong vùng địa lý áp dụng của Hiệp Định này không
?
5. Các nước trong vùng chung quanh Biển Đông cần thảo luận ở
cấp cao cách thi hành Luật Biển để tránh sự tranh chấp về
nội dung các bản khai nộp Liên hiệp quốc liên quan đến thềm
lục địa nối dài và xác định rõ ràng Hải quân các nước
có quyên hoạt động gì trong vùng đặc quyền kinh tế của
nước khác.
6. Hội nghị các bộ trưởng quốc phòng khối Asean + tại Hà
Nội sắp đến cần tạo sự tin cậy và đề ra các biện pháp
đề phòng tại Biển Đông.
7. Các nước trong vùng cần thảo luận để thành lập một cơ
chế gặp nhau thường xuyên giữa các lãnh tụ quốc gia để
thảo luận những vấn đề còn cấn cái giữa các nước liên
quan đến an ninh trong vùng.
<em>Carl Thayer</em>
Trần Bình Nam lược dịch
(1) Xem <a
href="http://www.tranbinhnam.com/binhluan/HoaKy_Va_MatTran_BienDong.htm">tài
liệu số 360</a>, www.tranbinhnam.com trang Bình Luận.
(1) (2) <em>Giả cào</em> là danh từ ngư dân vùng duyên hải miền
Trung Việt Nam dùng để gọi thuyền đánh cá bằng lưới kéo
lê sát đáy biển.
(2) (3) Xem <a
href="http://www.tranbinhnam.com/binhluan/Them_LucDia_NgoaiBien.html">tài
liệu số 311</a>, www.tranbinhnam.com trang Bình Luận.
© Thông Luận 2010
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/6132), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét