François Guillemot - Trực diện với cái chết và nỗi đau: vấn đề Thanh Niên Xung Phong trong chiến tranh Việt Nam

"Máu V2 có thể chảy nhưng đường V2 không thể tắc"
<em>(Biển tuyên truyền trên đường mòn Hồ Chí Minh trong thời
kỳ chiến tranh)</em>

"Lúc ấy họ là những người lính chỉ đáng giá ba xu"
<em>(Những cô gái bị lãng quên của đường mòn Hồ Chí Minh,
2003)</em>

<strong>Dẫn nhập</strong>

Dù "chiến tranh Việt Nam" đã chính thức kết thúc vào ngày 30
tháng 4 năm 1975 với sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn
cách đây 35 năm, nhưng sự xung đột tại Việt Nam vẫn còn là
đề tài cho rất nhiều câu hỏi đang được nghiên cứu. Như
mọi người đều biết, từ năm 1954 đến 1975, ngoài việc bị
lôi cuốn trong khuôn khổ Chiến tranh lạnh với một tầm vóc
quốc tế quan trọng, sự xung đột này được thể hiện dưới
hình thức một cuộc chiến huynh đệ tương tàn giữa hai Nhà
nước đối lập nhau về một ý thức hệ và ngăn cách nhau
bằng một đường biên giới. Ai cũng biết rõ những khía cạnh
chính trị và quân sự của cuộc chiến, nhưng còn những vùng
tối khác cần phải được nghiên cứu thêm, đặc biệt là
ảnh hưởng của nó với các lực lượng dân công, bản chất
của những đoàn quân được tuyển mộ, vai trò của phụ nữ,
hàng loạt vấn đề xoay quanh "văn hóa chiến tranh" và những
đoàn thể bị mắc trong gọng kềm của cuộc chiến đó.

Khi nêu lên vấn đề về bản chất của cuộc chiến, công
trình nghiên cứu này nhằm mục đích nghiên cứu lịch sử của
một lực lượng xã hội và quân sự có tên là "Thanh niên xung
phong" trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam giữa hai nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa (miền Bắc) và Việt Nam Cộng hòa (miền
Nam) chủ yếu diễn ra từ năm 1965 đến 1975. Nụ cười rạng
rỡ của các cô gái anh hùng trên nhật báo và phim ảnh tuyên
truyền của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong chiến tranh đã chu
du khắp thế giới, nhưng số phận bi thảm của chính những
người nữ anh hùng vô danh này vẫn chưa được mọi người
biết đến đầy đủ. Vấn đề này vẫn còn mang tính nhạy
cảm ở Việt Nam dù người ta đã giới thiệu một bộ sử mang
tính thực chứng về cuộc đấu tranh giải phóng đất nước;
bộ sử này mới đây đã góp phần trong việc xác định một
vị trí quan trọng hơn của các nhân vật lịch sử bị lãng
quên, đặc biệt là của thành viên các đoàn Thanh niên xung
phong.

Được chia làm bốn phần, đề tài tôi sẽ đề cập đến là
cuộc phiêu lưu đầy giông bão của những "Thanh niên xung phong"
đắm chìm trong ngọn lửa chiến tranh. Trong phần đầu, điều
quan trọng là đặt ra những cột mốc lịch sử cần thiết
để người đọc hiểu được việc hình thành lực lượng
tập thể phục vụ chiến tranh này và, trong phần thứ hai,
nhận ra được cơ cấu của nó, cùng những nam nữ thanh niên
đã tham gia trong cuộc. Trong phần thứ ba, tôi xem xét hiện
thực khốc liệt đổ lên cơ thể thanh niên xung phong, những
người trải qua bao gian khó chiến tranh; đây cũng là vấn đề
trọng tâm của công trình nghiên cứu này. Tôi sẽ phác thảo
bức tranh những cơ thể trong chiến tranh này, theo cả nghĩa đen
lẫn nghĩa bóng; tôi sẽ xem xét quá trình sáng tạo, kết cấu,
tan rã và cuối cùng là tái tạo những cơ thể đó. Trong phần
cuối, tôi sẽ đề cập một cách ngắn gọn hậu quả của kinh
nghiệm bi thảm này, và xem xét vai trò của các yếu tố tâm lý
và hồi ức cá nhân, cũng như các nhân tố xã hội và lịch
sử có liên quan. Những người chịu trách nhiệm và việc quản
lý khó khăn thời hậu chiến sẽ được đề cập ngầm ẩn
trong phần kết luận của công trình nghiên cứu bước đầu
này.

<br><strong>I. Yêu cầu của cuộc chiến tranh nhân dân: việc hình
thành một lực lượng thanh niên tập thể đặc biệt</strong>

Nhiệm vụ đầu tiên của "thời đại lịch sử" của chúng ta
là dựng lên những cột mốc cần thiết để mọi người hiểu
được hiện tượng này. Tuy nhiên, trước khi ta đi sâu vào quá
trình hình thành của lực lượng tập thể ấy, thiết tưởng
cần phải phân tích bản thân khái niệm về Thanh niên xung phong
(sau đây viết tắt là TNXP). Có nhiều cách dịch cụm từ này
bằng tiếng Anh cũng như tiếng Pháp [1]. Tên gọi "TNXP", được
sử dụng để chỉ một tập hợp thanh niên nguyện hiến "thể
xác và tâm hồn" cho chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong
chiến tranh, dẫn đến nhiều khía cạnh cần phải xác định
lại. Đó là một tổ chức xã hội và chính trị bao gồm
những người trẻ (thanh niên) và được Nhà nước - Đảng
của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lập ra từ năm 1950.
Tổ chức này được chỉ định phải hoàn thành một nhiệm
vụ được miêu tả bằng những thuật ngữ như "xung phong"
hoặc "xung kích", một hình dung từ mạnh mẽ miêu tả một lực
lượng thanh niên sẵn sàng xông lên, trong lòng họ chủ nghĩa
duy ý chí hòa lẫn với lòng yêu nước [2].

Sự xuất hiện của lực lượng này - trên khái niệm có thể
được xác định bằng ngày tháng cụ thể. Thuật ngữ này
chính thức xuất hiện trong một chỉ thị của Ban thường vụ
trung ương ngày 3 tháng 5 năm 1950 có liên quan đến chiến dịch
động viên cho biên giới Việt-Trung khi chiến tranh Đông dương
đang lúc đỉnh điểm [3]. Tiêu đề của chỉ thị đã chỉ ra
mục đích phục vụ quân sự: "Về việc sửa đường và vận
tải". Dù ngôn từ còn chịu ảnh hưởng khá nặng của chủ
nghĩa Mao (<em>Thanh niên đột kích đội - Youth Shock Brigades</em>),
chỉ thị ngày 3 tháng 5 năm 1950 sử dụng trực tiếp cụm từ
tiếng Pháp "brigade de choc", một cụm từ chính trị-quân sự
thông dụng trong các đảng cộng sản châu Âu thời bấy giờ.

Tính độc đáo và đặc thù của Việt Nam chính là đã chuyển
đổi thuật ngữ này, xuất phát từ ngôn ngữ chính trị
Trung-Xô, thành một thuật ngữ đặc trưng gắn liền với
chiến tranh và với việc tái thiết hậu chiến. Những TNXP sẽ
là đội tiên phong của hậu tuyến thời chiến tranh (hậu cần:
phục vụ tuyến sau) và của việc chuyển sang xã hội chủ
nghĩa trong thời bình. Tính đặc trưng của lực lượng này
được nhắc lại trong định nghĩa rõ ràng của Trần Hữu
Đính: "<em>[là] một đội quân lao động, chiến đấu đặc
biệt của tuổi trẻ Việt Nam và là một lực lượng dự bị
hùng hậu cho giai cấp công nhân Việt Nam</em>" [4]. Trong thời
chiến, đội hậu vệ ở tuyến đầu này sẽ là những "tay và
chân của cuộc chiến". Bách khoa Toàn thư Quân sự Việt Nam
đưa ra một định nghĩa khác, trong đó những nhiệm vụ của
TNXP được xác định rõ ràng hơn: "<em>[là] lực lượng thanh
niên Việt Nam tự nguyện, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ
phục vụ chiến đấu và một số nhiệm vụ khác (mở đường,
sửa chữa đường, điều chỉnh giao thông, vận chuyển hàng
quân sự, tải thương, quan sát và đánh dấu vị trí bom nổ
chậm, thủy lôi của địch...)</em> [5]". Về mặt lý thuyết,
nhiều chỉ thị được soạn thảo trong thời gian này đều
nhắc nhở rằng thanh niên xung phong "<em>là một lực lượng lao
động đặc biệt, có ba nhiệm vụ: lao động sản xuất, sẵn
sàng chiến đấu và học tập rèn luyện</em> [6]".

Những lời minh chứng của các cựu TNXP xác định vai trò thực
sự của họ: "<em>Trước những trận đánh, họ luôn `đi
trước' mở đường, xây dựng chiến tuyến, rồi trực tiếp
tham gia chiến đấu, cuối cùng họ lại chính là những người
`về sau' thu dọn chiến trường, tải thương, chôn cất liệt
sĩ </em>[7]". Cụm từ "những người đi trước về sau" tự thân
nó đã tổng kết được nhiệm vụ khổng lồ trên giao cho họ.

Dựa trên cụm từ chung "Thanh niên xung phong", nhiều khái niệm
đã được những người lãnh đạo cộng sản Việt Nam chọn
lựa để nối kết lực lượng thanh niên này vào quá trình
tiến hóa của lịch sử và việc chép sử, vào các tình huống
chiến tranh khác nhau từ 1950 đến 1975. Theo ghi chép trong sách
sử chính thức, có nhiều lực lượng đã nối tiếp nhau kể
từ tháng bảy 1950 và cũng được phân chia thành ba "thế hệ"
lớn: thế hệ TNXP tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp; thế
hệ TNXP chống Mỹ, giải phóng miền Nam; thế hệ TNXP xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc (sau đại thắng mùa Xuân 1975) [8]. Có
thể nói, dù xuất phát từ một nguồn gốc mang đậm dấu ấn
của thế giới cộng sản, một kiểu mẫu Việt Nam mang tính
quốc gia đã được lập ra cùng với cuộc chiến. Từ năm 1965,
lực lượng tập thể Thanh niên xung phong đã được đặt cho
một cái tên viết tắt là "TNXP", một phù hiệu biểu trưng [9],
một màu xanh lá cây riêng biệt, một nền văn hóa (các khẩu
hiệu, bài ca, phim ảnh) [10]. Bằng cách này, lực lượng - trên
khái niệm và lực lượng tập thể TNXP trở nên rất dễ nhận
ra. Ở đây tôi đặc biệt quan tâm đến các lực lượng TNXP
được gọi là "chống Mỹ cứu nước" từ năm 1965 đến năm
1975.


<div class="boxright300"><img
src="http://danluan.org/files/u830/sub01/TNXP_1.JPG" /><div
class="textholder">Thanh Niên Xung Phong</div></div>
Ngày 15 tháng bảy 1950, Hồ Chí Minh quyết định thành lập một
lực lượng thanh niên đặc biệt để phục vụ chiến tranh.
Thế là, một lần nữa, chúng ta thấy được cao trào của
việc Mao-hóa trong quân đội nhân dân Việt Nam và có thể xác
chứng được rằng, những TNXP đều phát xuất từ quá trình
này. Để tranh thủ được sự ủng hộ của nước Cộng hòa
Nhân dân Trung Hoa mới được thành lập (tháng 10 năm 1949),
Đảng Cộng sản Đông Dương đã vạch ra một chiến lược
chính trị quân sự mới. Vào tháng 6 năm 1950, Ban Thường vụ
Trung ương của Việt Minh quyết định chuyển mặt trận chiến
đấu lên biên giới thông qua một loạt những chiến dịch
được gọi là "chiến dịch Biên giới" rồi đây sẽ giáng
trả rất ác liệt lực lượng CEFEO (Đạo quân viễn chinh Pháp
ở Viễn đông). Ngoài ra, những chiến dịch này còn cho phép
kiểm soát một vùng biên giới Trung-Việt rộng lớn, mở ra
những tuyến đường liên lạc với Trung Hoa của Mao và củng
cố lại chiến khu Việt Minh ở Việt Bắc [11]. Khối lượng
lớn công việc này cần đến việc tuyển mộ những lực
lượng bổ sung quan trọng. Chính trong hoàn cảnh nhằm thiết
lập một mối tương quan mới của lực lượng biên giới và
tranh thủ sự ủng hộ quân sự của Trung Quốc - chiến lược
đánh dấu bước ngoặt giữa chiến tranh tái chiếm của chủ
nghĩa thực dân mới và mặt trận nóng bỏng của chiến tranh
lạnh - mà nhóm "TNXP" đầu tiên đã ra đời.

Từ 1950 đến 1954, các lực lượng TNXP được thử nghiệm qua
nhiều giai đoạn, một sự thử nghiệm đặt dưới sự kiểm
soát trực tiếp của Hồ Chí Minh và của Vũ Kỳ, người thân
tín của ông ta. Lúc đầu, khi còn được đặt dưới sự giám
sát của hai tổ chức thanh niên của Đảng Cộng sản Đông
dương [12], những đội TNXP đầu tiên chỉ quy tụ được vỏn
vẹn có 225 thành viên, một con số được sử sách chính thức
nhấn mạnh. Nhiệm vụ được trên giao cho họ với tư cách là
"dân công" trên mặt trận Đông-Bắc chủ yếu là tham gia vào
nỗ lực mở những tuyến đường và chuyển vận hàng tiếp
tế vũ khí và thực phẩm [13]. Đặc biệt, lực lượng cơ
động mới này còn cho phép bù đắp những thiếu thốn trong
vận chuyển bằng đường sắt và thực hiện việc vận tải
trong những vùng núi non hiểm trở khó đi lại. Nhiệm vụ của
các TNXP nhanh chóng trở nên gian khổ khi họ phải đối mặt
với chiến tranh. Những tử sĩ TNXP đầu tiên đã ngã xuống
trong trận Đông Khê ngày 16 tháng 9 năm 1950. Đó là trận đánh
quy mô đầu tiên đối với những TNXP đảm bảo một phần
công tác vận chuyển 8 tấn hàng quân nhu thu được của Pháp
cũng như công tác tải thương [14].

Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong chuyến kinh lý thanh tra Liên phân
đội TNXP 312, ngày 20 tháng 3 năm 1951, tại Nà Cù, Bắc Kạn
(vùng Việt Bắc), đã nhân cơ hội làm thơ về nhiệm vụ vẻ
vang và dũng cảm mà những thanh niên mới được tuyển mộ
cần phải hoàn thành. Trong chuyến viếng thăm bất ngờ này,
người đứng đầu nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ứng
tác và tặng các TNXP 4 câu thơ sau đây: "<em>Không có việc gì
khó, chỉ sợ lòng không bền. Đào núi và lấp biển, quyết
chí ắt làm nên</em> [15]."

Với chiến thắng biên giới, được minh họa bằng thất bại
rúng động của quân Pháp từ cuối năm 1950 ở Cao Bằng, các
lãnh đạo Việt Minh quyết định mở rộng việc động viên.
Trong suốt những năm sau đó cho đến năm 1954, quân số của
lực lượng đã lên đến hàng mấy vạn; theo các tài liệu
nghiên cứu quân sự thì con số này dao động từ 14.000 đến
23.000 người được tuyển mộ [16].

Nhiệm vụ lớn cuối cùng của TNXP trong chiến tranh chống Pháp
và Chính phủ Bảo Đại được cụ thể hóa bằng việc chuẩn
bị phi thường trong trận đánh Điện Biên Phủ. Võ Nguyên Giáp
đã cho tuyển mộ hàng vạn phu tạp dịch, phu khuân vác, dân
công và những nhóm "TNXP" để hoàn thành một công việc gần
như đội đá vá trời. Quân số của TNXP, vào giữa năm 1953
chỉ có khoảng 15.000, đã tăng lên để đạt được 22.000
người mới tuyển vào thời điểm ác liệt nhất của trận
đánh [17]. Đặc biệt, 8.000 người được tuyển xuất phát từ
hàng ngũ TNXP được đưa ra trực tiếp phục vụ mặt trận
để bù đắp lại những tổn thất lớn trong quân đội nhân
dân. Có nghĩa là trong số 42.000 quân được tuyển mộ cho
chiến dịch Điện Biên Phủ, cứ 5 người thì có 1 người
xuất phát từ hàng ngũ TNXP [18]. Vũ Thị Hòa thừa nhận:
"<em>Có thể nói sự phát triển Đoàn TNXP là do yêu cầu của
chiến dịch Điện Biên Phủ </em>[19]." Nhiệm vụ chủ yếu của
TNXP trong thế trận Điện Biên Phủ là sửa chữa và mở
đường, là trợ giúp, thậm chí, trong trường hợp cần thiết,
là thay thế những người lính của bộ đội chính quy [20]. Như
vậy, trong cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, những
nhiệm vụ trên giao cho các TNXP được phân loại như sau: mở
và sửa chữa những tuyến đường thông tin liên lạc, xây cầu
và làm bè để vượt sông, lấp hố bom, phá bom nổ chậm, vận
chuyển hàng quân nhu, khí tài và lương thực cho các chiến sĩ
ngoài mặt trận [21]. Nói rõ ra, họ đảm bảo công tác hậu
cần đặc biệt cho cuộc chiến tranh này.

<div class="boxleft400"><img
src="http://danluan.org/files/u830/sub01/TNXP_2.JPG" /></div>
Sau chiến tranh, các đội TNXP giải thể, họ được tổ chức
lại và sung dụng vào cũng việc tái thiết nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa. Trong suốt thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở miền Bắc, trọng tâm được đặt trên phong trào thi
đua lao động trong việc xây dựng lại đường sá và trong công
tác nông nghiệp [22]. Phụ nữ càng lúc càng đóng vai trò chủ
yếu trong việc huy động nhân lực để xây dựng tổ quốc xã
hội chủ nghĩa. Theo kiểu "Những cô gái thép" trong thập niên
60 ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, thông qua các đội TNXP,
người ta đã huy động ồ ạt thanh nữ Việt Nam nhằm hỗ trợ
các kế hoạch năm năm để xây dựng nền kinh tế xã hội chủ
nghĩa ở miền Bắc trước khi họ được động viên thêm một
lần nữa để phục vụ cho những nỗ lực của cuộc chiến
tranh mới.

Từ 1965, một bước ngoặt căn bản được hình thành [23]. Dựa
vào những kinh nghiệm trong quá khứ, Ủy ban Trung ương Đảng
Lao động quyết định tổ chức hai lực lượng TNXP mới để
đối phó với tình hình khẩn cấp khi quân Mỹ can thiệp vào
miền Nam Việt Nam. Ngày 20 tháng 4 năm 1965, "Lực lượng TNXP
Giải phóng Miền Nam Việt Nam" được thành lập tại Bảy Bàu
(Tây Ninh) và đặt dưới quyền lãnh đạo của Nguyễn Đức
Toàn, thành viên phong trào thanh niên của Đảng Nhân dân Cách
mạng, phái viên chính trị ngầm của Hà Nội được cài cắm
vào miền Nam [24]. Ngày 24 tháng 4, "Đội TNXP Chống Mỹ Cứu
Nước" đầu tiên được thành lập ở tỉnh Thanh Hóa. Sau đó,
phong trào này đã lan rộng khắp lãnh thổ Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa kể từ ngày 21 tháng 6 với chỉ thị số 71 của Thủ
tướng quyết định chính thức thành lập những "Đội TNXP
Chống Mỹ Cứu Nước tập trung" và khẳng định lại vai trò
của nó trong việc phục vụ công tác giao thông vận tải [25].
Việc thành lập này, theo sáng kiến của Hồ Chí Minh, của
Đảng ủy Trung ương và của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa, đã đạt sự nhất trí có thể nói là cao độ, và diễn
ra trong một hoàn cảnh ý thức hệ đặc biệt được minh họa
bằng hai phong trào thi đua rộng lớn nhắm vào giới thanh niên
và phụ nữ. Ví dụ phong trào có tên là "<em>Ba Sẵn Sàng</em>",
được phát động vào ngày 9 tháng 8 năm 1964, là một phong trào
thi đua cách mạng rộng lớn nhắm vào thanh niên

1. Sẵn sàng gia nhập lực lượng võ trang đi chiến đấu;
2. Sẵn sàng khắc phục khó khăn, đẩy mạnh sản xuất, công
tác, học tập;
3. Sẵn sàng đi bất cứ nơi nào tổ quốc cần [26].

Phong trào thứ hai, được gọi là "<em>Ba Đảm Đang</em>", có
liên quan trực tiếp đến giới phụ nữ hơn, là một phong trào
thi đua do hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phát động từ ngày
19 tháng 3 năm 1965, bao gồm

1. Gánh vác việc sản xuất và lao động thay cho nam giới ra
mặt trận;
2. Gánh vác việc gia đình trong lúc chồng hoặc con trai vắng
mặt;
3. Gánh vác việc trợ giúp cần thiết cho mặt trận và chuẩn
bị chiến đấu [27].

Đối với các lực lượng TNXP được đoàn Thanh niên Nhân dân
Cách mạng (phong trào thanh niên của Mặt trận Dân tộc Giải
phóng) lãnh đạo ở miền Nam, một phong trào thi đua tương tự
cũng được phát động dưới tên gọi "<em>Năm Xung Phong</em>",

1. Xung phong tiêu diệt nhiều sinh lực địch;
2. Xung phong tòng quân giết giặc;
3. Xung phong trong các cuộc đấu tranh chính trị ở đô thị và
nông thôn;
4. Xung phong phục vụ tiền tuyến;
5. Xung phong sản xuất nông nghiệp ở nông thôn [28].

Như vậy, các lực lượng TNXP Chống Mỹ mới đã được thành
lập trong bầu không khí tổng động viên toàn quốc [29]. Ngoài
ra, còn phải kể đến lời kêu gọi lòng yêu nước vang dội do
Hồ Chí Minh tuyên đọc ngày 17 tháng 7 năm 1966 đã tạo được
sự hưởng ứng rộng lớn trong ba đợt liên tiếp nhằm tuyển
mộ TNXP cho cuộc chiến [30].

Để đối phó với tình hình chiến tranh khẩn cấp gắn liền
với việc các lực lượng Mỹ đổ quân ồ ạt trong cuộc
đối đầu, một đợt tuyển mộ tăng cường được phát
động, và trong thời gian ngắn, đã có hơn 52.000 thanh niên gia
nhập. Lòng yêu nước cuồng nhiệt nơi họ để hoàn thành
việc giải phóng miền Nam được thể hiện qua khẩu hiệu "Xẻ
dọc Trường Sơn đi cứu nước" và được cụ thể hóa bằng
hàng chục vạn chiến binh xây dựng nên đường mòn Hồ Chí
Minh với một hệ thống chằng chịt dài 16.000 km. Trong suốt
mười năm, tức từ 1965 đến 1975, "Lực lượng TNXP chống Mỹ"
đã hình thành đội tiên phong nhiệt thành của một thế hệ
trẻ hoàn toàn tận tụy với nỗ lực của chiến tranh. Họ
trở thành mũi xung kích trong việc cung cấp võ khí và lương
thực, tháo ngòi bom trên các tuyến đầu của mặt trận và
đảm bảo các đường giao thông được thông suốt, một vấn
đề sống còn trong việc chỉ đạo chiến tranh.

Hiện nay, những số liệu ước tính tổng quát liên quan đến
nhiều thế hệ TNXP từ 1950 cho thấy có gần 220.000 cán bộ và
đội viên tham gia. 80% quân số này thuộc quyền điều động
của Bộ Giao thông Vận tải và ba phần tư các lực lượng này
được hình thành từ những lực lượng TNXP tập trung của
miền Bắc [31]. Quân số TNXP tập trung của miền Bắc lên đến
143.591 cán bộ và đội viên (chiếm khoảng 72% trong tổng số)
[32]. Tuy nhiên số liệu được mọi người công nhận là 220.000
đội viên vẫn còn là một con số tối thiểu cần được
đánh giá lại. Các nguồn thông tin chính thức khác xuất phát
chủ yếu từ Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đưa ra con
số tổng quát cao hơn nhiều là 330.000 cựu TNXP [33]. Thông tấn
xã lại thông báo con số "hơn 335.800" cựu đội viên vào năm
2004 [34].

Có ba nét rõ rệt nổi bật từ quá trình phát triển của TNXP
từ năm 1950 đến năm 1975: 1 - Quyết định đã được đưa ra
từ cấp cao nhất của Nhà nước. Hồ Chí Minh đã đích thân
giám sát việc thực hiện và theo dõi quá trình phát triển của
phong trào trước khi trao lại quyền chỉ huy cho guồng máy của
Đảng Lao động do Lê Duẩn lãnh đạo vào thời ấy; 2 - Việc
tuyển mộ và biên chế lực lượng được thực hiện khẩn
cấp mà không lường trước được những hậu quả về con
người. Điều này đặc biệt lộ rõ trong thời kỳ từ 1965
đến 1975 với việc các cô gái xung phong gia nhập ồ ạt; 3 -
Việc giải quyết quy chế và chế độ cho các cựu đội viên
của lực lượng này thường muộn màng, cứng nhắc và mang
nặng tính chính trị.

Trong chiến tranh, việc quản lý các nguồn nhân lực của TNXP
chủ yếu mang tính ý thức hệ và quân sự. Nó được kiện
toàn dần qua các chiến dịch tuyển mộ và sự phát triển các
trận đánh. Tình cảm chung xuất phát từ việc quản lý lực
lượng tập thể này - được thành lập <em>vì và do</em> chiến
tranh cách mạng - vẫn là thứ tình cảm của một đội quân
dự bị, phần đông là nữ, chịu đựng gian khổ mà không than
thở, sẵn sàng tuân phục việc huấn thị ý thức hệ tuy sơ
đẳngnhưng rất gắt gao. Với danh nghĩa ấy, đức vâng lời là
một yêu cầu tuyệt đối như đã được nêu ra trong lời thề
mười điểm hay còn được gọi là mười điều kỳ luật của
các đội viên TNXP và nội quy của tổ chức. Điểm đầu tiên
của lời thề nhắc lại sứ mệnh thiêng liêng của các TNXP
là: "<em>Sẵn sàng hy sinh vô điều kiện vì Tổ quốc Việt Nam,
vì sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, ra sức xây dựng và bảo
vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, tích cực ủng hộ cách mạng
giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc.</em>" [35]

<br><strong>II. Một lực lượng phục vụ chiến tranh: thành phần
và cách nhận biết</strong>

Việc nghiên cứu lực lượng này - được hình thành từ một
bô phận của tuổi trẻ Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh -
đòi hỏi đi sâu tìm hiểu thành phần xã hội, sắc tộc hoặc
địa phương của nó ngay cả khi những câu hỏi như: Ai? Ở
đâu? và Bao nhiêu? vẫn còn đặt ra nhiều vấn đề.

Việc tập hợp những TNXP đã tiến triển trong những năm
chiến tranh, nhưng sơ đồ tổ chức của lực lượng này không
hề thay đổi theo dòng thời gian. Do đó, công trình nghiên cứu
của tôi đặc biệt tập trung hơn vào thời kỳ của những
"TNXP chống Mỹ", sơ đồ tổ chức của họ có dạng của một
cấu trúc kim tự tháp mà trên đỉnh là Ban Bí thư Trung ương
Đoàn, có Ban Chỉ đạo TNXP Trung ương tiếp sức. Ban Chỉ đạo
này có dưới tay bốn Ban trọng yếu của TNXP có liên hệ với
các cơ quan có sử dụng nhân lực của họ:

1. Ban Chỉ đạo TNXP tỉnh thành đoàn;
2. Ban Chỉ đạo TNXP ngành Giao thông Vận tải Trung ương;
3. Đoàn 559 phục vụ Quốc phòng [đường mòn Hồ Chí Minh];
4. Ban cán sự Thanh niên ngành Lâm nghiệp [36].

Xếp theo tầm mức quan trọng, ngành Giao thông Vận tải bỏ xa
các cơ quan khác với 9 Cục và Ban có sử dụng các đơn vị
TNXP: các Cục I, II, Đường sắt, Ôtô-ray, Đường sông,
Đường biển, Quản lý Quân lương, các Ban 64 và 67. Ba phần tư
số "TNXP chống Mỹ" được tuyển mộ được phân bổ vào các
Cục và Ban này dưới sự lãnh đạo của Bộ Giao thông Vận
tải. Đoàn 559 - nổi tiếng vì được sử dụng vào việc mở
đường mòn Hồ Chí Minh xuyên qua rừng già - cũng tập hợp
được khoảng 6.700 "Thanh niên Tình nguyện" trong số 120.000 quân
mới tuyển [37].

Các Đội hoặc Tổng đội TNXP sau đó được chia thành Đại
đội rồi thành Tiểu đội, đơn vị nền tảng của cấu trúc
[38]. Các nhóm TNXP khác nhau thường mang một phiên hiệu riêng
cho mình. Vì thế, người ta dễ nhận ra mỗi Liên đội, Đội,
Đại đội hoặc Tiểu đội qua phiên hiệu của họ [39]. Từ
1965 đến 1975, Nguyễn Văn Đệ thống kê có đến 131 Đội, 34
Đại đội độc lập hoạt động tại các địa phương cũng
như có 4 đội khác không ghi rõ nguyên quán [40]. Tuy nhiên, thực
hiện việc thống kê các đội cho cả ba thời kỳ tuyển mộ
không dễ. Trong suốt thời kỳ chiến tranh, có khoảng mười
đội không thay đổi phiên hiệu [41]. Thêm vào đó là một số
vấn đề khác như việc xây dựng lại các đơn vị, đặc
biệt là đối với các đội đang lao động trên đường mòn
Hồ Chí Minh, hoặc là việc cấp mã thiếu chính xác hay hoàn
toàn tách biệt với công tác mã hóa thông thường [42].

<div class="boxright400"><img
src="http://danluan.org/files/u830/sub01/TNXP_3.JPG" /></div>
Việc tuyển mộ xét theo vùng địa lý có thể được xác
định lại cần cứ vào những chiến dịch động viên ở Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa. Chiến dịch mộ quân và tuyển chọn TNXP
đầu tiên kể từ tháng 8 năm 1950 chủ yếu liên quan đến các
tỉnh Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang. Để đáp ứng
nhu cầu về người cho chiến dịch Điện Biên Phủ, ba tỉnh
Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh cung ứng phần lớn quân mới
tuyển. Đặc biệt, tỉnh Thanh Hóa, với việc huy động được
18.000 đội viên TNXP trong suốt cuộc chiến tranh Đông Dương
lần thứ nhất, đã đóng góp nhiều nhất cho nỗ lực chiến
tranh [43].

Trong thời kỳ từ 1965 đến 1975, việc tuyển mộ trở nên ồ
ạt và thường xuyên để đáp ứng sự phát triển và những
bất trắc của chiến tranh. Phạm vi địa lý của việc tuyển
mộ bao gồm 24 tỉnh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhưng
chỉ một vài tỉnh mới chứng tỏ được phần đóng góp quan
trọng của mình. Trên thực tế, đứng đầu vẫn là tỉnh Thanh
Hóa khi, theo số liệu báo cáo, đã mộ được từ 33.000 đến
43.000 thanh niên sẵn sàng đưa ra phục vụ chiến tranh (chiếm
khoảng 25% trên tổng số). Ba tỉnh khác là Nghệ An, Hà Tĩnh và
Nam Hà theo sau với phần đóng góp là gần 15.000 người cho mỗi
tỉnh. Ba tỉnh mới (Hải Hưng, Thái Bình, Quảng Bình) nối gót
toán dẫn đầu này với một nỗ lực đóng góp từ 6.000 đến
10.000 quân mới tuyển. Bảy tỉnh này góp tổng cộng hơn 70%
lực lượng TNXP trong thời kỳ chống Mỹ. Việc tuyển mộ cũng
được triển khai theo vùng địa lý gắn liền với những địa
phương gần mặt trận, chủ yếu liên quan đến ba khu vực sau
đây: những vùng phụ cận ngay sát đường biên giới và
đường mòn Hồ Chí Minh, chung quanh khu vực cảng Hải Phòng và
thành phố Hà Nội (tuyển được khoảng 6.000 quân).

Những chiến dịch tuyển mộ cũng tuân theo một lịch phân chia
định kỳ rõ rệt. Như tôi đã đề cập đến việc này trên
đây, từ 1965 đến 1975, những TNXP được tuyển ồ ạt qua ba
thời kỳ, mỗi thời kỳ có hạn phục vụ là ba năm, theo
thống kê sau đây của Nguyễn Văn Đệ: thời kỳ I, từ 1965
đến 1967, tuyển được 73.851 người (với 25 đợt tuyển);
thời kỳ II, từ 1968 đến 1971, tuyển được 27.770 người
(với 15 đợt tuyển); thời kỳ III, từ 1972 đến 1975, tuyển
được 41.770 người (với 35 đợt tuyển) [44]. Thời kỳ đầu
tiên từ 1965 đến 1967 cho thấy một tỷ lệ tuyển mộ rất cao
(chiếm 51,50% trên tổng số), điều này được lý giải như là
việc khai động thế trận kháng chiến và tổng động viên các
lực ượng quốc gia phục vụ mặt trận (các chiến dịch "Ba
sẵn sàng" và "Ba đảm đang").

Tuy không đi sâu nghiên cứu xã hội học, việc tuyển mộ TNXP
do đây vẫn là một công việc tự thân nó còn phải làm rất
nhiều, vấn đề thành phần xã hội của TNXP cũng cần được
đặt ra. Những người được tuyển mộ là ai? Về mặt chính
thức, việc tuyển mộ hoàn toàn nhắm vào những thanh niên
<em>không phân biệt giai cấp xã hội, tôn giáo, nguồn gốc sắc
tộc, nhưng trên thực tế thì lại không mấy rõ ràng [45] Hà
Nội, Nxb Thanh Niên, 1967, tr. 7-8</em>.. Đại đa số TNXP đều
được chọn từ thanh niên nông thôn: "<em>chủ yếu là thanh
niên xuất thân từ các hợp tác xã nông nghiệp, học sinh các
trường sơ cấp và chuyên nghiệp và con em cán bộ</em>." [46]
Trong số họ, đa phần là những thiếu niên nam nữ tuổi từ 15
đến 20. Trong nhiều trường hợp, tuổi quy định để gia nhập
TNXP hạ xuống còn 13 tuổi. Đó chính là trường hợp đặc
biệt của những nhóm "TNXP Giải phóng Miền Nam" có độ tuổi
từ 13 đến 24 tuổi [47]. Trong số những thanh nữ được tuyển
thì học sinh nữ hiện diện rất thường xuyên. Do đó, một
báo cáo của chiến dịch thi đua năm 1967 chỉ rõ ra rằng
"<em>một số khá đông những học sinh nữ cấp II và III đã
tạm thời rời khỏi ghế nhà trường để nắm lấy cơ hội
duy nhất này - chỉ xảy ra một lần mỗi thế kỷ - để đem
thân phục vụ cho Tổ quốc</em>" [48]. Điều này cho phép hiểu
ngầm rằng những thanh nữ 12 hoặc 13 tuổi cũng có thể được
tuyển trong trường hợp cần thiết.

Đối với những thiếu niên-lính này (thậm chí trong một vài
trường hợp là trẻ em-lính), vô khí chỉ là cuốc chim đơn
giản, xẻng lớn và hành trang trí thức ít ỏi mang theo người
chỉ là vài năm học sơ cấp ở trường. Họ gặp nhau và chỉ
trong mấy ngày là bị đẩy ra tuyến lửa. Không có kiến thức
quân sự, tất cả họ đều được huấn luyện tại chỗ như
câu khẩu hiệu "Khắc làm, khắc biết" đã tóm ý [49]. Đối
với những học sinh nữ ở các thành phố chẳnng biết gì
ngoài việc cầm bút, tham gia các cũng việc lặt vặt trong gia
đình, hãy còn được mẹ nuông chiều và ban đêm vẫn còn sợ
ma thì sự hụt hẫng của họ thật dữ dội [50]. Sau khi được
tập hợp và biên chế thành đơn vị, những TNXP được nhanh
chóng gọi ra tuyến lửa. Văn Tùng và Nguyễn Hồng Thanh nhắc
lại những điều kiện khủng khiếp của chuyến lên đường ra
mặt trận:

"<em>Nhiều đội viên chưa một lần xa nhà. Phần lớn họ là
những thanh niên nông thôn, chưa quen đi bộ đường xa 5 - 7 km,
nay phải hành quân mang nặng, phải trèo đèo, lội suối, qua
truông dài hun hút. Có đơn vị khi lên đường vẫn chưa có
dép, hoặc có nhưng không đúng cỡ, phần lớn anh em phải đi
chân đất, bàn chân phồng rộp. Một số đội viên TNXP đã
ngã xuống ngay trên đường hành quân, vì bom đạn Mỹ hoặc do
rắn cắn, chưa kịp một ngày cống hiến</em>." [51]

Về việc cung cấp, thông tư ngày 30 tháng 6 năm 1965 có quy
định về khẩu phần, lương bổng, trang phục, nhưng tất cả
đều thiếu. Về mặt thực phẩm, ngày 11 tháng tám 1965, Bộ
Nội vụ ra sắc lệnh về khẩu phần lương thực chính thức
hằng tháng phải phân phối cho các TNXP [52]. Dù cho rất rõ
ràng, những sắc lệnh có liên quan đến việc tiếp tế vẫn
đơn thuần mang tính lý thuyết và hoàn toàn không phù hợp với
thực tế khắc nghiệt của chiến trường. Do Mỹ ném bom
thường xuyên nên tình trạng thiếu thốn (lương thực và quần
áo) rất phổ biến, không thể thực hiện việc tiếp tế liên
tục hay đều đặn được [53].

Khi phân tích ngắn gọn về thành phần của lực lượng này,
tôi tưởng cũng nên đi sâu vào tỷ lệ đàn ông/đàn bà (thậm
chí có thể nói tỷ lệ trẻ trai/trẻ gái căn cứ vào tuổi
của một vài em trong số đó). Từ năm 1965, việc tuyển mộ ồ
ạt thanh niên mới cho các đoàn "TNXP chống Mỹ cứu nước"
chính thức đưa tỷ lệ hiện diện của nữ trong lực lượng
lên trên 50% [54]. Trên đường mòn Hồ Chí Minh, TNXP của Đoàn
559 hầu như gồm toàn các cô gái. Trong một vài Đội, tỷ lệ
thanh nữ chiếm hơn 70% [55]. Đại đội 551 (TNXP 55) gồm 105 nữ
trên 131 đội viên với tỷ lệ là 80% [56]. Đại đội TNXP 873
(được thành lập ngày 2 tháng giêng năm 1966) có 170 nữ trên
200 quân được tuyển, tỷ lệ là 85% [57]. Một số nhóm khác do
nam giới chỉ huy thì gồm toàn thanh nữ như trường hợp Đại
đội 512 có nhiệm vụ bảo vệ Hà Nội, Đại đội 459 làm
công tác công binh trên dãy Trường Sơn hoặc Đại đội C333
nổi danh do được Hồ Chí Minh khen thưởng [58].

Những cô gái này làm đủ thứ công việc: xung phong gỡ mìn,
lái xe tải nặng, làm y tá cấp cứu, sửa chữa các tuyến
đường giao thông, lấp hố bom... Những câu chuyện kể về họ
đều giống nhau, đan xen giữa sự hy sinh vô hạn, lòng dũng
cảm mẫu mực và định mệnh đau thương không thể tránh
khỏi. Hiện nay, những nữ anh hùng tập thể có số phận gắn
liền với nhau này đều được đưa vào đền thờ các liệt
sĩ được sử sách chính thức cũng nhận. Trong số những nữ
liệt sĩ nổi tiếng nhất, phải kể đến: mười cô gái tại
ngã ba Đồng Lộc ở tỉnh Hà Tĩnh và mười hai cô gái ở
Truông Bồn trong tỉnh Nghệ An [59]. Đặc biệt, mười cô gái
tại ngã ba Đồng Lộc (huyện Can Lộc) ở tỉnh Hà Tĩnh được
thần thánh hóa và người ta đã dựng lên một đài tưởng
niệm nguy nga để tôn vinh họ [60]. Tiểu chú chính thức về
họ được ghi như sau: "<em>Ngày 24 tháng bảy 1968, sau 18 lần
địch đánh phá, một loạt bom thả trúng vào hầm, mười cô
gái Đồng Lộc đã hy sinh vào lúc năm giờ chiều, trong tư thế
tay vẫn cầm dụng cụ sản xuất</em>" [61]. Với những dụng
cụ như xẻng, cuốc chim, xô, các công cụ của thợ cơ khí
trong tay, thì dù tràn đầy lòng dũng cảm và ý chí, việc
chống chọi lại sức tấn cũng của bom pháo thường vẫn là
vô nghĩa.

<div class="boxleft400"><img
src="http://danluan.org/files/u830/sub01/TNXP_4.JPG" /></div>
Những nỗi đau dai dẳng vẫn còn hằn sâu trong suốt những năm
hậu chiến. Những địa điểm hiểm nguy nhất đã được các
cựu TNXP đặt cho những cái tên rất cụ thể: "Cửa tử
thần", "Đèo lò lửa", "Ngã tư thịt chó", "Ngã ba âm phủ",
"Đồi thịt xáo", "Đất của những hồn ma kêu hú", "Thung lũng
những oan hồn lạc lối" [62]. Đường 20 tháng bảy, được
đặt tên lại là "đường Quyết thắng", hiển nhiên là ví dụ
tiêu biểu nhất cho những cửa tử thần này. Trong vòng chưa
đầy một năm, nơi đó đã có 200 đội viên TNXP tử nạn và
700 người khác bị thương [63]. Lại một ví dụ khác, từ
tháng ba đến tháng 10 năm 1968, tại Ngã Ba Đồng Lộc, chốt
chặn tất yếu phải vượt qua trên đường Nam tiến phát xuất
từ đường mòn Hồ Chí Minh (đường mòn HCM), máy bay B52 đã
thả 48.600 quả bom đủ mọi loại [64]. Lịch sử của lực
lượng này được đánh dấu bằng hàng loạt địa danh bị
nguyền rủa cũng như biết bao nấm mộ ngoài trời. Trong hai
cuộc chiến tranh Đông Dương, những tên đồi, tên ngã tư và
tên đường giao thông chiến lược do TNXP đặt đã đi vào
lịch sử và trở thành những nơi của hồi ức.

<strong>Phụ lục 1</strong>: Tổng cộng tạm thời về số lượng
TNXP chống Mỹ cứu nước tính theo các tỉnh [65]

<br><strong>III. Một lực lượng giữa lòng chiến tranh: việc đem
thân xác ra thử thách</strong>

"Những bông hoa trên tuyến lửa" chắc chắn là cụm từ có ý
nghĩa nhất và thường xuyên được sử dụng để tóm tắt số
phận bi thảm của những cô gái TNXP ngoài mặt trận [66]. Do
lực lượng TNXP được hình thành từ hơn 50% là nữ và do
người ta vẫn chưa làm được gì nhiều để biết được số
phận của họ ra sao, chúng ta hãy thử xem hiện nay chiến tranh
còn dai dẳng như thế nào trong thịt da của những đóa "Hoa lan
trong rừng cháy" này, như nhà văn Minh Lợi đã nhắc đến
điều đó trong truyện ngắn của mình [67]. Từ vài năm nay,
những cựu Nữ TNXP thuật lại sự thật họ đã trải qua và
nó khác hẳn với chủ nghĩa anh hùng mà Nhà nước vẫn tuyên
truyền. <em>Những câu hỏi liên quan đến thân xác của phụ
nữ trong hoàn cảnh chiến tranh bắt đầu lộ rõ qua lời kể
của những người còn sống sót. Thông qua những câu chuyện
kể của họ, họ đòi hỏi phải có một cách nhìn nhận nhất
định về chiến tranh gắn liền với nhận định của Svetlana
Alexievitch: "Những câu chuyện kể của phụ nữ có một bản
chất khác và bàn về một chủ đề khác. Chiến tranh, dưới
mắt phụ nữ, có những màu sắc riêng, những mùi vị riêng,
cách giải thích riêng và không gian tình cảm riêng của họ.
Cuối cùng là những từ ngữ riêng. Người ta thấy trong những
câu chuyện đó không có anh hùng cũng chẳng có những chiến
công phi thường nào, mà đơn giản chỉ là những cá nhân bị
cuốn vào một công việc phi nhân tính của con người</em>" [68].

Nói chung, những lời chứng của phụ nữ thường nhuốm vẻ
rụt rè, rụt rè vì bản tính phụ nữ, rụt rè vì tập thể
mà mình đang sống cùng. Về việc rụt rè cho tập thể, nhà
nghiên cứu Zineb Ali Ben-ali có nói về vấn đề "chối từ ký
ức" và "dấu vết" văn chương bằng cách liên hệ đến
trường hợp chiến tranh ở Algeri. Nhà nghiên cứu đã đưa ra
nhận định nền tảng: "<em>cũng như việc lãng quên (một số)
lực lượng tham gia vào cuộc chiến, chúng ta lãng quên sự khổ
đau mà họ đã phải hứng chịu. Thực tế, người ta hay bỏ
qua khía cạnh này của cuộc chiến [. . . ..]. Bỏ qua những lực
lượng bị đau khổ cũng dẫn đến việc lãng quên sự tham gia
của lực lượng nữ giới.</em>" [69] Lời chứng của một trong
các nữ TNXP miền Nam từng bị vây hãm bởi kẻ thù, đã tóm
gọn những khổ đau bằng những lời sau: "<em>sốt rét, tóc
rụng, ăn rau rừng lót dạ, nhiều bạn đã lả đi. Chúng tôi
phải mở đường máu để vào vùng có dân, bòn từng lon gạo
nấu cháo cho anh em" [70], Tuổi Trẻ (21-4-2005)</em>..

Tất cả những cựu đội viên TNXP đều xác nhận như thế.
Điều kiện sinh hoạt dọc đường mòn HCM vô cùng cam khổ.
Trong hồi ký của mình, tướng Đồng Sĩ Nguyên, Chính ủy Đoàn
559, phụ trách điều hành quân sự trên tuyến đường này,
nhiều lần nhắc đến những cam go cận kề cái chết dành cho
các lực lượng chiến đấu cũng như TNXP [71]. Để đề cập
đến vấn đề gian khổ của chiến tranh, rặng Trường Sơn là
minh chứng hùng hồn. Trong vùng "rừng thiêng nước độc" này
không thiếu chỗ cho những đe dọa đến tính mạng: bệnh sốt
rét, cái đói và cái chết; hậu quả của thời tiết khắc
nghiệt, bùn lầy, đỉa, tai nạn hàng ngày, bom đạn, chất
độc hóa học. . . Cảm giác bao trùm là sự đau đớn, sợ hãi
và nỗi kinh hoàng. Chúng ta hãy cùng xem xét một số tác nhân
chính làm suy yếu lực lượng.

<strong>Sốt, đói và khát</strong>

Tác nhân đầu tiên, đó là sốt. Bệnh ảnh hưởng đến toàn
lực lượng. Theo Hoàng Công Ánh, phụ nữ đặc biệt là nạn
nhân của bệnh này [72]. Dọc đường mòn HCM, bệnh tấn công
cả lực lượng chiến đấu lẫn TNXP. Sốt không chỉ gây ra do
khí hậu. Bác sĩ phẫu thuật Lê Cao Đài báo cáo về việc các
loại bò cạp, nhện rừng cũng gây ra những vết cắn đau
nhức, sưng tấy [73]. Thêm vào đó là các con đỉa, vắt, là
nỗi lo sợ của các cô gái [74]. Các loại bọ "đen và to" [75],
các loại côn trùng đủ loại, tham lam hút máu người gây ngứa
ngáy, sưng tấy trên da thịt. Thân thể mỏi mệt và ẩm ướt
là nơi lý tưởng thu hút bầy muỗi và ruồi vàng nhiều vô kể
[76]. Tất cả đã khiến cho cơ thể nhiễm cơn sốt tàn tạ.

Tiếp theo là cái đói. Cái đói gặm mòn các cô gái TNXP. Các
con số có được về khẩu phần ăn khiến người ta kinh ngạc.
Theo qui định, mỗi đội viên được hưởng 24 kg gạo mỗi
tháng. Nhưng do vì gạo thường thiếu hoặc không đến được
bởi các trận đánh bom, khẩu phần ăn giảm sút nghiêm trọng,
có thể chỉ còn 4 kg mỗi tháng cho một người [77]. Đôi khi
chỉ có cháo để ăn. Muối thường thiếu và rau tươi thì hầu
như không có. Để bù đắp, các cô hái rau rừng; đôi khi các
cô may mắn hái được rau rừng, nhưng cũng nguy hiểm vì rau có
thể nhiễm chất độc hóa học. Vì thế đa số các cô gái có
biệt tài hái rau rừng và được gán cho biệt danh "các bà chúa
rau rừng" [78]. Đặc biệt vào mùa mưa, măng rừng mọc rất
nhiều trở thành nguồn rau tươi chủ yếu [79]. Nhiều khi các
cô săn được khỉ và đó là các dịp có thịt tươi để cải
thiện bữa ăn, dù việc giết thịt như thế trông có vẻ dã
man.

Để cải thiện, các cô gái TNXP nghĩ ra một số cách. Các cô
tìm cách tiếp cận trạm hậu cần số 16, liên hệ xin thực
phẩm của các đơn vị chiến đấu; đổi lại là các màn
biểu diễn nghệ thuật hoặc ca nhạc [80]. Sự thiếu thốn
trầm trọng thực phẩm đã khiến mọi người nghĩ nhiều đến
cái ăn, đến sự ghen tị và phương thức để làm sao có thêm
cái ăn. Việc phân phối khẩu phần dựa vào vị trí chức vụ
[81]. Và trong thực tế, họ thường góp thực phẩm để ăn
chung với nhau.

Cùng với nỗi khổ của cái đói là cái khát vào mùa khô.
Nguyễn Thị Lan, một cựu đội viên kể lại câu chuyện sau
đã xảy ra trên đường HCM: "<em>Một lần hành quân giữa
rừng, phát hiện một hố bom đầy nước, chúng tôi xúm vô
vốc đầy bi đông và uống cho đã khát, đến lúc ai đó khẽ
nhá đèn pin mới phát hiện toàn xác người</em>" [82].

Phải sống trong hoàn cảnh cực kỳ cam khổ, lực lượng đóng
trên đường mòn HCM, đặc biệt các lực lượng có vị thế
thứ yếu trong tổ chức quân đội nhân dân, phải buộc lòng
tìm mọi cách để duy trì sự tồn tại, từ việc hái rau dại,
củ rừng đến săn thỏ rừng hay bắt ăn các loại côn tròng
có chứa chất protein. Thông thường chất hóa học do địch
rải xuống làm giảm nguồn cung cấp dinh dưỡng này từ núi
rừng [83].

<strong>Sự suy tàn thể chất</strong>

Tiếp xúc với chiến tranh, ở mặt trận hoặc trong chiến khu,
đã khiến cho sức khỏe của các cô gái suy kiệt. Huỳnh Thị
Tiếp, một đội viên TNXP của lực lượng Giải phóng Miền Nam
nhớ lại mình không muốn nhìn vào gương để khỏi thấy sắc
diện đang dần xuống của mình [84]. Khí hậu khắc nghiệt của
Trường Sơn đã khiến da nổi ghẻ, tóc trên đầu nhiều chấy
rận, các bộ phận kín trong người ngứa ngáy đến phát điên.
Tóc đầy gầu, bạc màu và dần rụng [85]. Bọ bám trên người
khiến cho các cô không ăn, ngủ được [86]. Dương Thu Hương
chua chát nhận xét về mối gắn bó chặt chẽ giữa loại bọ
với chiến tranh: "</em>Tôi nằm xuống ván, gối đầu lên tay,
đăm đăm nhìn kèo hầm. Dọc theo kẽ nứt của cây kèo, một
đàn rệp béo mọng xếp hằng nằm nghỉ. Lũ rệp thời chiến
là những ông hoàng bà chúa. Chúng được tự do và luôn luôn no
đủ. Người ta hiến máu cho chúng một cách vui vẻ vì, so với
lệ phí của bom đạn thì đó chỉ là những khoản thuế còm. .
.</em>" [87]

Sự ẩm ướt thường trực và việc không thể hong tóc cho khô
đã tác động tinh thần các cô gái [88]. Ghẻ lở và nấm mốc
hoành hành, theo cách nói của Nguyễn Văn Đệ. Chúng tấn công
mọi ngóc ngách trên cơ thể: kẽ bàn tay, bàn chân, háng, nách
và cuối cùng phát triển cả ở bầu vú. Các vùng ẩm ướt
đều dần dần bị ảnh hưởng. Không thuốc men, không điều
kiện tắm rửa kỹ lưỡng, tình trạng quá khắc khổ này tác
động ngay đến tinh thần, công việc, sức khoẻ và còn để
lại những hậu quả nặng nề sau chiến tranh [89]. Thảm họa
này ảnh hưởng trực tiếp đến những đơn vị TNXP toàn nữ,
làm cho giới lãnh đạo lực lượng lo lắng và cảnh báo Bộ Y
tế, nhưng dường như cơ quan này cũng bị bất ngờ. Biết các
cô gái bị những vết loét trên ngực, nhưng những người lãnh
đạo quân đội ở Hà Nội chỉ có thuốc đỏ để gửi cho
họ [90].

Vấn đề vệ sinh vùng kín của phụ nữ ít được đề cập
tới, bởi đó là chuyện rất riêng của nữ giới. Về nguyên
tắc, một đơn vị nữ TNXP hơn 500 người thì được tiếp
nhận thêm một nữ bác sĩ đặc trách "<em>bệnh phụ nữ</em>"
[91]. Một cựu Phụ trách đội Nữ TNXP, cảm thông cho tình
cảnh của chị em trong đơn vị mình, đã viết bản tường
trình về "<em>bệnh phụ nữ</em>", liên quan đến tình trạng
vệ sinh kinh nguyệt, cho biết về việc thiếu thuốc men, băng
vệ sinh, đồng phục để thay và ít có điều kiện tắm rửa
[92]. Một tài liệu về "<em>Thể dục vệ sinh với TNXP</em>",
xuất bản năm 1973, trong chiến tranh, trở lại vấn đề kinh
nguyệt và những nguyên tắc vệ sinh cần phải tuân thủ. Cuối
tập tài liệu là nhắc nhở tầm quan trọng của việc giữ gìn
vệ sinh hàng ngày, và những lời khuyên không thể nào thực
hiện được tại chỗ trong tình hình lúc bấy giờ [93]. Về
công việc làm thì được khuyên là trong những ngày hành kinh
thì "<em>làm việc ít hơn ngày thường</em>". Lẽ ra, do tình
trạng yếu sức đương nhiên của thời kỳ kinh nguyệt, các cô
không phải đương đầu với thời tiết khắc nghiệt, mưa to
gió lớn. Và rồi trọng điểm của bệnh tật là từ những
rối loạn kinh nguyệt, nguyên nhân dẫn đến, và thái độ
phải đương đầu với thực trạng, làm sao để tránh bớt
ảnh hưởng [94]. Về phương diện vệ sinh, với những lời
khuyên trong tài liệu, nếu nó xứng đáng được in ra, thì
người ta chỉ biết tự hỏi làm sao các cô gái có thể áp
dụng được trong điều kiện giữa rừng sâu và dưới đạn
bom? Rất nhiều những dẫn chứng chỉ ra rằng các tiêu chuẩn
thi đua yêu nước chỉ là sự áp đặt. Dù gió giông, dù mưa
bão, dù đêm khuya, trời quá nóng hay quá lạnh, các cô gái TNXP
đều phải chấp nhận điều kiện làm việc khắc nghiệt bất
kể đặc điểm riêng của nữ giới. Hầu hết các cô đều
bị các vấn đề rối loạn về kinh nguyệt, như tắt kinh, bất
thường hoặc đau đớn, và điều này, trong bối cảnh thiếu
thốn thuốc men và băng vệ sinh nên chỉ có miếng vải mà thôi
[95].

Nguyễn Văn Đệ trở lại vấn đề tắm rửa của TNXP sau một
ngày làm việc mệt nhoài, theo ông, đó là "một vấn đề nan
giải": "<em>Con trai còn qua loa chịu được, nhưng chị em thật
là cực hết sức, nhất là những chị em bị bệnh ngoài da,
đêm nằm ngứa không sao chịu nổi" [96]. Nhu cầu tắm rửa càng
được nhân lên trong điều kiện thiếu thốn quần áo, hết
sức bất tiện: "Khó khăn nhất là các đội viên nữ. Những
ngày đến tháng vẫn phải mặc quần áo ướt suốt ngày để
đi làm. Đến một vuông vải xô để thay cũng thiếu</em>" [97].
Những dẫn chứng cho thấy tình trạng thiếu thốn là phổ
biến, đặc biệt ở vùng ác liệt của chiến trường.

<strong>Thân thể bị tàn phế</strong>

Những vết thương tàn phá cơ thể, tay chân đã đành, ngực và
đầu cũng không tránh khỏi. Cựu chiến sĩ TNXP, Nguyễn Thị
Vân đã kể lại trong phim tài liệu "<em>Những cô gái bị bỏ
quên của đường Trường Sơn</em>" rằng cô bị thương ở
phổi, sườn và ngực. Nhà văn Cao Tiến Lê kể trong truyện
ngắn "Tiếng đêm" một hình ảnh cảm động giữa một chiến
sĩ lái xe với một cô TNXP, giao liên trên đường Trường Sơn.
Trêu sự vụng về của cô gái trong khi đang ngắm nhìn cô, anh
chưa phát hiện ngay cô là thương binh. Sau khi mời cô uống
nước, anh mới bắt đầu quan sát cô qua ánh lửa pháo sáng:
"<em>Việt sững sờ khi nhìn vào hai tay đang bưng nước. Trời
ơi! Hai bàn tay không có. Từ cổ tay trở ra đã bị cắt cụt.
Cô kẹp ca nước giữa hai cùi tay. Thấy Việt nhìn sững sờ,
như tủi thân, cô đặt ca nước lên thùng, ngồi xuống thu cùi
tay giữa hai đầu, rồi quay một sang chỗ khác</em>" [98].

Ra mặt trận từ năm 20 tuổi, nhà văn Dương Thu Hương là một
nhân chứng hùng hồn về cuộc chiến thảm khốc này. Bà hãy
còn giữ những hình ảnh chấn động về cuộc chiến, để mô
tả lại một cách chân phương, không hoa mỹ, trong tiểu thuyết
của mình. Ngay từ những trang đầu trong tác phẩm <em>Tiểu
thuyết vô đề</em>, bà đã mô tả cái chết bi thảm của sáu
cô gái trong rừng, mà mùi hôi thối dậy lên nồng nặc, đã
dẫn đường cho những người sống đến tìm: "<em>Chúng tôi
hướng vào gốc rừng đã toả ra mùi thối khủng khiếp mà đi.
Tới vực Cô hồn, gặp sáu cái xác truồng. Xác đàn bà. Vú và
cửa mình bị xẻo, ném vung vãi khắp đám cỏ xung quanh. Nhờ
những tấm khăn dù, nhờ những chiếc cổ áo sơ mi kiểu lá sen
tròn và hai ve nhọn mà chúng tôi nhận ra đấy là những người
con gái Miền Bắc. Có lẽ họ thuộc một binh trạm hoặc một
đơn vị TNXP cơ động nào đó bị lạc. Cũng có thể họ đi
kiếm măng hoặc rau rừng như chúng tôi rồi vấp bọn thám
báo</em>" [99]. Một đại tiệc cho côn trùng, "say sưa chè chén".
Dĩ nhiên, lối viết có vẻ ly kỳ, bi thảm đã cho ta thấy rõ
sự kinh khủng của chiến tranh, theo cách của hai tiểu thuyết
gia: Malaparte (Ý) hay Remarque (Đức) nổi tiếng về việc miêu
tả những thảm cảnh của hai cuộc chiến tranh tại Âu Châu.
Tuy nhiên, văn của Dương Thu Hương dao động giữa hư ảo và
thực tế khốc liệt của chiến tranh. Xuyên qua tác phẩm, chị
dám nói lên những điều cấm kỵ của những năm 90 về sự
lừa phỉnh của chiến tranh và tính chất của nó. Sự kinh tởm
tuyệt đối được trình bày ở đây một cách rất thực,
không che giấu, mà chẳng thể mong gì hơn ở những bản tường
trình mới đây của Lê Cao Đài hay những cán bộ lãnh đạo
TNXP như Nguyễn Văn Đệ. Vả lại, trong tập này, Dương Thu
Hương đề cập nhiều hơn về khía cạnh xâm hại tình dục và
tàn phế do chiến tranh, hai bi kịch còn ít được nhắc đến
bởi thực chất tàn bạo của nó.

<div class="boxright400"><img
src="http://danluan.org/files/u830/sub01/TNXP_5.JPG" /></div>

<strong>Chấn thương tâm thần và thể xác</strong>

Trong những điều kiện sống cực kỳ gian khổ, TNXP phải thích
nghi cả thể xác lẫn tâm hồn. Sống trong chiến tranh, người
ta dễ bị chấn thương tinh thần và việc phát lên điên loạn
cũng cần được nêu lên. Trong <em>Tiểu thuyết vô đề</em>,
Dương Thu Hương viết tiếp: "<em>Mấy cậu sốt rét ác tính
điên rồ, cởi hết áo quần ra mà nhảy múa, la hét</em>" [100].
Cuộc sống xa gia đình kéo theo nỗi nhớ nhà và những lo ngại
triền miên. Với việc chuyển đổi khắc nghiệt từ hòa bình
sang chiến tranh, từ cuộc sống đời thường sang quân ngũ, từ
tình cảm đến nỗi sợ hãi, một dạng "hội chứng" đã xuất
hiện, nhất là trong giới nữ. Nó đã đánh lạc hướng các
nhà lãnh đạo nam giới ở các đơn vị nữ TNXP. Hiện tượng
này được gọi là "điên tập thể". Nguyễn Văn Đệ nhắc
lại tình huống đã dẫn đến hội chứng này: "<em>Có khi chị
em đang xúm lại đọc một bức thư của gia đình gửi đến,
bỗng một người xúc động khóc nấc lên thế là cả tiểu
đội, đại đội như có sự phản ứng, kích động dây chuyền
tất cả đều la hét, khóc toáng lên và cứ thế lan ra từ
đại đội này sang đại đội khác. Họ khóc, họ kêu, họ
chạy, nhảy, thậm chí trèo cả lên cây nói cười lảm nhảm
hàng tiếng đồng hồ</em>" [101].

Đó là một thực tế, một bộ phận cựu chiến sĩ nữ TNXP
bị chìm trong bệnh cuồng bởi chiến tranh. Đương đầu với
hiện tượng này, các nhà lãnh đạo quân sự và chính trị
cũng lúng túng, lo ngại, bởi không ai biết phải giải quyết
thế nào. Đặc biệt liên quan đến những chiến sĩ mới, hiện
tượng này cũng mờ dần theo thời gian và thói quen thời
chiến. Nguyễn Văn Đệ kể lại rằng mãi lâu sau chiến tranh
mà những hiện tượng điên cuồng tương tự cũng xuất hiện
trong đội ngũ lính trẻ quân đội nhân dân và ngay trong đơn
vị TNXP của ông [102]. Một bằng chứng cũng đã được tướng
Đồng Sĩ Nguyên xác nhận trong cuộc trò chuyện với Hiền,
một thủ lĩnh TNXP đương nhiệm, mới hơn một năm trên
đường mòn HCM. Cô cho rằng "<em>bệnh hay cười</em>" đang dần
trở lại và lan toả trong lực lượng TNXP [103]. Trong bối cảnh
đặc biệt ở môi trường không thân thiện, như bị lãnh đạo
áp chế, cuộc sống bị đảo lộn bất thần và thô bạo, thì
sự điên cuồng tập thể xuất hiện như một phản kháng cuối
cùng. Đó như là một phản ứng tự vệ, chứ không vì mục
đích chính trị hay nổi loạn cá nhân. Trước hết phải thử
dùng sức mạnh tập thể để phản kháng, cả tâm hồn và thể
xác, với sự khủng bố tinh thần, sự thô bạo chết người.
Ở một nơi mà người ta không thể chịu đựng nổi những
cuộc tranh luận chính trị, một nơi mà việc đào ngũ khó
thực hiện được, thì những cuộc khủng hoảng tập thể coi
như là phương cách tốt nhất để giải toả sự dồn nén cả
tinh thần lẫn vật chất đè nặng lên đôi vai của những
người trẻ tuổi này, trong điều kiện sống quá khắc nghiệt.
Nó cho phép gắn kết tinh thần và thể xác của một đại
đội, cùng chung nỗi tuyệt vọng vì một sự tồn tại như
một cái án treo.

<strong>Cơ thể suy tàn</strong>

Cuối cùng, cái chết đến với những cơ thể suy yếu nhất.
Lê Cao Đài cho biết rằng trên mặt trận Tây Nguyên, "<em>Anh em
đã tổng kết có 32 kiểu chết ở Tây Nguyên: chết do ốm,
chết do bom đạn, chết đuối, chết do rắn cắn, chết do cây
đè, chết do ăn phải nấm độc, chết do voi giày, chết do bắn
nhầm nhau</em>" [104]. Người ta cũng có thể chết vì đói,
Nguyễn Văn Đệ nhớ lại [105]. Số khác, vì quá khát, chết vì
uống phải nước uống bị ngộ độc. Số khác có thể là
nạn nhân của những tai nạn thương tâm. 10 thanh niên bị 1
ôtô goòng chở đầy hàng hoá, cán chết giữa đêm khuya [106].
Số khác thì không sống nổi bởi những vết thương và những
cuộc mổ xẻ liên tục. Những người hấp hối được giấu
ở những nơi chật hẹp, như là tiền đồn của họ trước
lúc ra đi vĩnh viễn [107]. Cuối cùng là một con số không kể
xiết những người tự nguyện chấm dứt cuộc đời [108].
Không thể đánh giá hết sự bỏ ngũ. Tự tử, đào ngũ, mất
tích, coi như 3 bản án tử hình. Dầu sao, sau cuộc đào ngũ,
vấn đề sống còn được đặt ra. Đối với đơn vị mất
người, cuộc đào ngũ đồng nghĩa với việc mất tích. Cuối
cùng, nhiều vụ mất tích đươc nêu ra. Nhiều thanh niên bị
kiệt sức và đơn độc, đã mất xác trong rừng sâu. Cũng có
khi họ may mắn gặp lại đơn vị, tiểu đội hay đại đội,
là may mắn sống còn. Trong nhiều trường hợp khác, người ta
đã phát hiện xác của họ, và lại còn những trường hợp
tồi tệ hơn, họ biệt tích vĩnh viễn mà không để lại vết
tích gì (khoảng 300.000 người mất tích trong chiến tranh) [109].

Việc cáng thương (vận chuyển thương binh) do nữ TNXP đảm
nhiệm, cũng xảy ra nhiều chuyện đau lòng. Nhiều khi họ phải
vác trên lưng những thương binh nặng đi hàng bao nhiêu cây số,
mà các thương binh, vì bị đau đớn quá, đã cắn xé hay đánh
đập các cô gái tội nghiệp này [110]. Rất nhiều khi vì thiếu
phương tiện, thiếu thuốc men, xa thành phố, xa bệnh viện, tự
thấy tình hình quá bi đát, họ đã dũng cảm chờ chết. Thân
thể các thương binh và bệnh binh sốt rét tạo nên 1 hình ảnh
hùng tráng mà bác sĩ Lê Cao Đài đã can đảm mô tả trong cuốn
nhật ký chiến trường của mình [111]. Bệnh kiết lỵ, sốt
rét, bệnh nặng ngoài da, đã nhanh chóng biến các thân thể
lụi tàn thành những bộ xương, nằm chờ chết như một niềm
an ủi cuối cùng.

<strong>Thân thể huyễn hoặc và gợi cảm</strong>
Tuy nhiên, một hình ảnh yên bình khác cũng đi song song với
cảnh đáng sợ trên. Đó là lúc các cô gái cùng chia sẻ niềm
vui, sự tương trợ cùng nhau trong bữa cơm chung. Một huyền
thoại về cô gái TNXP đã được cánh lái xe lan truyền
"<em>Chúng tôi đi qua, được chào hỏi bằng những trận cười
giòn tan. Qua ánh sáng của những vì sao, tôi thoáng thấy Nguyễn
Thị Thanh, một cô gái với hàm răng sáng bóng, chiếc thắt
lưng gọn gàng ôm lấy thân cô trong bẽ đồ veste oai nghi</em>"
[112].

Trong các trường hợp khác, một cô giao liên có thể là tâm
điểm chú ý của các chàng lái xe trên dãy Trường Sơn. Cô là
hiện thân hoàn hảo của một cô gái TNXP: "<em>Cô đột nhiên
xuất hiện trước mắt chúng tôi như một bông hoa lạ giữa
rừng, khiến cả cánh lái xe chúng tôi sững sờ nhìn theo. Trong
chiếc áo lính gọn gàng, quăn lụa màu đen, đầu đội chiếc
mũ kaki mềm bao trùm khuôn một xinh xắn, với nước da hồng
hào. Lại còn đôi mắt hình hạt dẻ và tỏa sáng trí thông
minh, đôi lông mày mỏng dính vẽ nên một đường cong tuyệt
đẹp</em>" [113].

Trên đường mòn HCM, các đội nữ TNXP thường quan hệ với
các đơn vị bộ đội, mang lại niềm vui cho họ. Nhà văn Đỗ
Chu viết rằng "<em>một quan hệ láng giềng làm họ vui
sướng</em>" [114] khi nói về việc bố trí một đại đội bộ
đội gần khu lán của các cô gái trẻ. Tiếng cười của họ
làm dịu đi không khí bức bối của rừng rú: "<em>Ai cười
phía trước đây nhỉ? Lại mấy cô bạn TNXP</em>" Việt nói, anh
là lái xe tải trên đường mòn [115].

Những cuộc tình bị cấm đoán làm thành một phần của trận
tuyến. Đắm đuối hay bi kịch, nó tồn tại như một ý chí
muốn làm giảm đi sự thô cứng và đau đớn của chiến tranh.
Tình yêu đôi khi cũng là bó buộc. Sự tập trung trong rừng,
sự chung chạ trong lán trại, tạo điều kiện cho thân xác gần
gũi. Bác sĩ Lê Cao Đài lưu ý một câu chuyện về những quan
hệ tôn ti trật tự, hiểu ngầm là "quyền của cấp trên",
hẳn khá phổ biến. Đêm nọ, một cô gái làm ngạc nhiên mọi
người khi bị phát hiện cùng một sĩ quan của bộ phận y tế;
cả hai đều xấu hổ. Nhưng cô gái là người chịu búa rìu.
Một đồng đội hỏi cô là không sợ mang thai hay sao? Cô gái
vừa khóc vừa trả lời rằng sếp nói với cô anh ấy làm
điều phải làm. Lê Cao Đài than thở là chính những người hay
dạy đạo đức cho người khác lại phạm luật. Ông ghi nhận
với sự dè bỉu: <em>"Thủ trưởng đã có cách!... ", sau này
trở thành câu nói đùa trong Viện mỗi khi chúng tôi ở trong
tình thế khó xử. Và cũng xuất hiện một câu vè: `Thủ
trưởng nhìn em, thủ trưởng cười. Đau lòng em lắm thủ
trưởng ơi!'"</em> [116]

Nhưng thường thì tình yêu là bất khả, trễ tràng hay bi kịch.
Tình yêu kết hôn với sự chai sạn của thực tế, được
tưởng tượng như là cánh cửa mở vào tương lai tốt đẹp,
như trong các trang nhật ký của những người trẻ tuổi điên
cuồng trong chiến tranh [117]. Đặng Thị Vân, một cựu TNXP tâm
sự: "<em>Đó là chiến tranh mà, ngày mai chẳng biết ra sao nên
chẳng ai dám yêu đương, hứa hẹn. Có chăng là tình cảm
đồng đội sống chết có nhau</em>" [118].

Không ít phần sự thật về những chủ đề tế nhị và khó
đề cập như hãm hiếp, bạo hành thân thể phụ nữ, bước đi
từ phụ nữ trong chiến tranh đến phụ nữ của chiến tranh,
xứng đáng được nghiên cứu kỹ hơn Khi họ đi tìm lương
thực để khỏi đói, các nữ TNXP có thể gặp nhiều bất
trắc. Nguyễn Văn Đệ gợi lại với sự bối rối trong thứ
ngôn ngữ nín lặng, việc đi tìm lương thực nơi trại lính
đó: "<em>Thật không sao kể hết những gian khổ, khó khăn mà
chị em nữ TNXP đã phải gánh chịu và khắc phục</em>" [119].
Về phía người Mỹ đối địch, nếu ta tin vào các bằng
chứng ghê sợ của GI trong chiến tranh, người đàn bà Việt Nam
trở thành con mồi tình dục [120]. Ta không dám tưởng tượng
số phần của nữ TNXP, đôi khi đơn độc trong rừng, đối
đầu với một chiến binh Việt hay Mỹ, kẻ thù thực sự hay
cùng phe.

<strong>Thân thể sống sót, tinh thần bồng bềnh</strong>
Sống còn là một mệnh lệnh hằng ngày. Ai đã đến đó thì
những khoảnh khắc vui tươi là quan trọng. Các cô gái mang tính
khôi hài đặc biệt trên tiền tuyến. Cuốn theo những người
lính, họ cười, khóc và ca hát dưới bom đạn [121]. Những bài
ca của họ được sử dụng cho nhu cầu tuyên truyền và lên
tinh thần cho các đơn vị. Do vậy mà các đội ca múa nhằm
tuyên truyền "Tiếng hát át tiếng bom" được thành lập. Bộ
phận tuyên truyền đã tổ chức các chiến dịch nâng cao tinh
thần với khẩu hiệu "<em>Biết đi là biết múa, biết nói là
biết hát, mỗi cán bộ, đội viên TNXP là một diễn viên</em>",
khẩu hiệu đã trở thành mệnh lệnh cho vở kịch bi hùng này
[122]. Có ít ví dụ liên quan đến hệ lụy của chiến tranh và
tác động của bom hay chất hóa học lên thân thể các TNXP
được kể ra. Tức là người ta biết điều ấy, biết rằng
tiếng nổ điếc tai của bom, mảnh pháo để lại những vết
hằn không thể phai. Trong địa ngục của chiến tranh, dù có
những niềm vui hiếm hoi, cuộc sống thường nhật của TNXP
đắm chìm trong thất vọng mênh mông, một nỗi đau khó tả; ở
đó sự sống và cái chết dính chằng vào nhau, ở đó có sự
táo bạo và can đảm, đôi khi máy móc, làm thành một bản năng
tuyệt vời cho sống còn.

<div class="boxleft400"><img
src="http://danluan.org/files/u830/sub01/TNXP_6.JPG" /></div>
Thích ứng hay quen thuộc cho phép giữ hy vọng sống còn. Sự
quen thuộc là từ chủ của nhiệm vụ này, cái chết và sự
sống tranh nhau số phận của các thanh niên dấn thân vào trận
chiến. "<em>Ban đầu đi thì tôi cảm thấy vất vả, thì dần
dần bạn bè khuyên bảo rồi thấy quen dần, về phần con gái
thấy cũng bình thường</em>", Đinh Thị Hợi nói thế với một
chủ nghĩa định mệnh rõ rệt [123]. Về khả năng thích ứng
này, nhà thơ Phạm Tiến Duật nhắc lại kỷ niệm đặc biệt
của ông:

"<em>Đơn vị tôi đi qua Đồng Lộc rất nhiều lần và chứng
kiến những hy sinh của các chiến sĩ pháo cao xạ và các cô
gái TNXP. Một lần dừng lại, tôi quá ngạc nhiên vì một bên
là mùi đạn khói vẫn còn khét lẹt, chết chóc rình rập, một
bên vẫn ngửi thấy hương lá sả trên tóc các cô gái TNXP,
tiếng đùa cợt rất thời bình của họ. Dường như cái chết
với họ, bom đạn với họ chẳng là gì</em>." [124]

Sự chứng thực như vậy làm nổi lên tính định mệnh của
sự việc, như Lê Minh Khuê mô tả những nữ anh hùng không tên,
"những con quỉ mặt đen", trở nên vô cảm, trong truyện ngắn
"Những ngôi sao xa xôi" viết năm 1971 [125]. Huỳnh Thị Tiếp
nhớ lại các cô TNXP của lực lượng miền Nam: "<em>Tôi không
bao giờ quên được những đêm mưa sương lạnh cóng, những
ngày khát nước đói cơm, những trận giáp lá cà thư hùng với
giặc, cái chết và cái sống chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ
tóc, nhưng nhớ cũng chỉ để mà nhớ thôi, bởi tôi cũng không
biết cách nào để diễn tả lại những hình ảnh đó
được</em>" [126].

Làm sao mô tả, làm sao kể lại ảnh hưởng của những trận
bom rải thảm vẫn ám ảnh tâm trí trong bốn mươi năm qua?
Những ví dụ bi kịch này không phủ nhận lời của nhà văn
Phạm Tiến Duật sau 11 năm trên dãy Trường Sơn: "<em>Có nhiều
chuyện trên đường mòn HCM mà người ta không nói tới: khó
khăn, cực nhọc, hy sinh và cả thất bại. Tất cả những tác
phẩm nói rằng con đường mòn là một thắng lợi vĩ đại
đều rất khoa trương</em>" [127]. Bao nhiêu đôi mắt mù lòa, bao
nhiêu vầng trán vỡ tan, bao nhiêu mảnh bom khăm sâu vào da
thịt?

<br><strong>IV. Những đớn đau sau chiến tranh: Khả khăn hồi
phục cơ thể</strong>

Sự kết thúc của chiến tranh chấm dứt cái chết không báo
trước và tàn bạo. Một niềm hy vọng vô bờ lan tỏa minh
chứng rằng tất cả việc ấy không phải là vô ích. Nhưng các
cựu TNXP, giải ngũ và thường là giải luôn cái tinh thần trong
trẻo, phải chịu đựng những thử thách thể xác và tâm lý
thường nhắc họ nhớ lại những đớn đau đã qua. Trong một
ý nghĩa nào đó, sự sống còn trong chiến tranh được tiếp
nối bằng cuộc đấu tranh không cân sức sau chiến tranh. Nhà
nghiên cứu Lê Thi (Dương Thị Thoa) có một công trình quan
trọng về vị trí của những phụ nữ độc thân, trong bối
cảnh xã hội Việt Nam, truyền thống và trọng nam khinh nữ
[128]. Trong một cuộc điều tra160 cựu nữ TNXP, học giả này
thấy rằng sau khi mãn hạn phục vụ, nói chung các cô gái TNXP
quay về làng. Nghiên cứu cung cấp một vài số liệu chính xác
về cũng việc của TNXP sau chiến tranh. Đa số làm nông nghiệp
(76,3%) ở các nông trường quốc doanh hay hợp tác xã nông
nghiệp, số ít làm trong lĩnh vực hành chánh, những người
khác làm công nhân (4,3%) hay làm thuê kiểu công nhật (6,7%) và
số còn lại hoàn toàn mất khả năng lao động (12,5%) [129].
Đối với những cựu TNXP tuổi đời chỉ khoảng 20, việc quay
về đời sống dân sự ở quê nhà là rất phức tạp. Sự hy
sinh, khắc kỷ, dũng cảm trong những năm tháng chiến tranh
tương ứng với thương tật, đớn đau và rối loạn tinh thần
trong thời gian hòa bình.

<div class="boxright400"><img
src="http://danluan.org/files/u830/sub01/TNXP_7.JPG" /></div>

Sự hao mòn thể xác trong những năm chiến tranh là khó khăn
đặc biệt để vượt qua. Những người xung quanh nhìn nhân
dạng của họ nặng nề một cách khủng khiếp: "<em>Khi nó trở
về, bệnh tật và xấu xí ốm đau khổ lắm đến nỗi không ai
muốn nhìn nó nữa</em>", bà mẹ của Đinh Thị Hợi, một cựu
TNXP đã nói như thế. Khi trở về, các cô gái TNXP trong độ
tuổi 24-25, đều mong muốn có con. Những đứa con ra đời
thường ngoài hôn nhân, làm tăng lời đàm tiếu của dân làng
và sự chối bỏ của cộng đồng. Đối mặt với hiện tượng
này, năm 1982, tờ Nhân dân ghi nhận: "<em>Ta có thể thấy dư
luận xã hội còn quá khắt khe và ngay cả một số cán bộ
đảng viên cũng có thái độ kiểu phong kiến hà khắc</em>"
[130].

Do vậy, khi trở về từ chiến tranh, các cựu nữ TNXP giáp mặt
với sự tìm kiếm bình yên một cách bất khả, đi tìm lại
nữ tính của mình, bởi vì bi kịch thường kéo dài và tái
lộ. Đa số họ có con bị tàn tật, do ảnh hưởng kinh hoàng
của chất hóa học trong rừng sâu. Những bi kịch này không
thường được nhắc tới, chỉ thi thoảng xuất hiện vài dòng
trên báo chí hay trong văn học, vạch lại số phận đớn đau
của họ. Giữa lời nói và nụ cuời, những dòng lệ rơi. . .

Làm gì đây cho hàng ngàn cô gái bệnh tật, thương tật, rối
loạn trong xã hội sau chiến tranh? Họ trở thành gánh nặng,
không tương thích chút nào với hình ảnh lý tưởng của chiến
sĩ cách mạng trẻ tuổi mạnh mẽ đầy ý chí, với hình ảnh
người lao động trẻ đầy sức khỏe, được tuyên truyền
chính thức ở các nước xã hội chủ nghĩa. Dựa trên điều
tra cá nhân phụ nữ độc thân, trong đó có nhiều cựu TNXP, Lê
Thi trình bày một phân tích thẳng thắn về tương lai khó khăn
sau chiến tranh của họ. Ngoài ra, sự khinh bỉ của xã hội,
hóa thân của truyền thống đa thê, và sự lạm dụng tình dục
cũng được nêu ra. Một số đàn ông dù đã có gia đình, đã
lợi dụng nhu cầu muốn có con và kết bạn của những người
phụ nữ này để có quan hệ tình dục với họ. Sau đó họ
bỏ rơi những người phụ nữ đó, không hề giúp đỡ tài
chính [131].

Đặc biệt, Lê Thi quan tâm đến tình trạng các cựu nữ TNXP
bị ảnh hưởng chất da cam trên mặt trận Trường Sơn. Bà ghi
nhận trường hợp của 5.000 cựu TNXP tỉnh Ninh Bình, chiếm 70%
số lượng các cô gái trong giai đoạn chiến tranh. Năm 1999,
một cuộc thăm dò tiến hành với 160 phụ nữ từng phục vụ
trên đường mòn HCM và nam Lào, thì thấy 127 người vẫn độc
thân sau khi về lại làng quê vì quá lứa hay vì bệnh tật. 33
người trong số họ bị bệnh vì chất da cam và vài người có
con bị dị tật hay đần độn. Họ có các vấn đề thần kinh,
đau đầu thường xuyên, mất ngủ, đau khớp, suy nhược, rối
loạn thị lực [132].

Những trường hợp bi kịch được nêu ra là Đoàn Thị Dậu và
Trần Thị Thơm, với số phận hoàn toàn đổ nát vì vết
thương chiến tranh. Mảnh bom ấn sâu vào đầu họ và không
thể lấy ra được, nó tác động nặng nề lên hệ thống
thần kinh. Họ sống giữa những cơn điên loạn và lang thang
câm nín. Nhiều người khác trốn tránh và sống chật vật trong
chùa, bị cầm tù bởi những thương tổn của chiến tranh và
những đau đớn [133]. Hơn ba mươi năm sau chiến tranh, báo chí
tiếp tục nêu ra những "thung lũng không chồng" nơi nương náu
của hàng trăm phụ nữ đơn côi [134]. Các bài báo nhắc đến
những thân phận phụ nữ sống trong cùng khổ, đôi khi nuôi con
không cha (<em>như nhà không nóc</em>) sau khi đã cống hiến sắc
đẹp, tuổi xuân, lý tưởng, lòng can đảm cho tổ quốc [135].
Một phóng viên báo <em>Công an Nhân dân</em> nêu lên trường
hợp của 40 cựu nữ TNXP của tỉnh Thái Bình hiện sống trong
các ngôi chùa [136].

Đôi khi người ta quên. Nếu thân thể bị hằn sâu như vậy,
ngoài sốt rét, tai họa, còn là những đớn đau tâm lý: ác
mộng ám ảnh, các cơn co giật, la hét, đau đầu... Chán
chường, nghèo đói, câm lặng, bi kịch dai dẳng với gánh nặng
đứa con tật nguyền, cái giá của sự dấn thân quá nặng nề.
Mỗi số phận minh chứng rằng người phụ nữ không chỉ bị
tàn phai da thịt, mất đi nữ tính trong chiến tranh mà còn là
sau chiến tranh, khi họ cố hồi phục thể xác và tâm lý.
Những người này trở thành 5 không, sau khi cha mẹ mất đi:
"<em>không chồng, không con, không nhà, không chế độ, và độc
thân</em>" [137]. Một cách nói về sự cùng cực xã hội của
họ. Nỗi buồn chiến tranh, như Bảo Ninh đã tỉ mỉ mô tả,
không chỉ dành cho những người đàn ông.

Vấn đề dẫn dắt cuộc chiến là không thể khác. Cũng như
việc sử dụng phụ nữ trong chiến tranh. Nó không là đặc
biệt trong một xứ sở như đã mô tả bởi các công trình của
Claude Quétel [138]. Nhưng việc sử dụng và quản lý nhân lực
cho chiến tranh ở Liên Xô, Trung Quốc và Việt Nam cộng sản là
một chiến lược chính trị, nhằm đáp ứng đòi hỏi của
"chiến tranh nhân dân". Đặc biệt đối với Việt Nam, cuộc
chiến 1965-1975 liên quan đến phụ nữ hơn hết, những người
"đi trước, về sau" đó, nếu họ còn sống sót sau mỗi trận
đánh.

Các câu hỏi liên quan đến cách dẫn dắt cuộc chiến cần
được nêu lên. Khi chúng ta biết rằng 80% trận bom Mỹ là
nhắm vào các tuyến liên lạc; có đúng đắn không khi tập
trung ở đó những người được tuyển mộ trẻ tuổi không có
sự chuẩn bị quân sự để chịu đựng những may rủi chết
người? Không bắt bẻ được rằng 4000 cái chết của TNXP là
đau đớn nhẹ nhàng để bảo đảm cuộc sống bình thường ở
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cho phép một chiến thắng dẫn
đến thống nhất. Chắc chắn. Khi ấy thì những quan hệ chính
trị và quân sự dường như đáng trách ở chỗ là một phần
lớn TNXP bị lịch sử xử tệ dù đã dâng hiến sự hy sinh
khổng lồ. Vấn đề chi phí xã hội và nhân bản vẫn còn
được đặt ra, trong và sau chiến tranh. Phải chăng cả một
thế hệ đã bị hy sinh cho bàn thờ của lòng kiêu hãnh, sự
ngây thơ và của sự bất tài?

Đối với nhà văn Xuân Vũ, có điều gì đó không đo lường
được trong cách những nhà lãnh đạo của Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa áp đặt cho sự hy sinh: "<em>Họ bắt con người phải
hy sinh quá nhiều. Sự hy sinh trở thành vô bờ bến, không có
thời hạn, không có điều kiện. Vì thế sự hy sinh đã trở
thành những cực hình, chứ nó không mang tính chất tự nguyện
của cách mạng</em>" [139]. Không phải đảng viên, không phải
dân quân, không phải quân đội, TNXP tồn tại giữa sự hy sinh
và trừng phạt, giữa chủ nghĩa ái quốc và cạm bẫy chính
trị. Phải đợi đến cuối năm 2004, hội cựu TNXP mới được
phép thành lập trong một hội nghị, tập hợp nhiều thế hệ
TNXP, ở Hà Nội; cuối cùng thì vai trò của họ đã được
công nhận [140].

<strong>Kết luận</strong>
Qua vài nét lớn, vấn đề TNXP với vai trò, thành phần và số
phận của họ, đã rõ ràng hơn. Còn một việc nữa, như
thường nói ở Pháp, là "bổn phận kế thừa" có lẽ cần
thiết để lập bảng tổng kết lịch sử cho công cuộc này
của chiến tranh. Cái mà chúng ta biết hiện nay chỉ là phần
nổi của tảng băng vì vẫn còn nhiều câu hỏi chưa có câu
trả lời. Việc thống nhất lãnh thổ và xã hội là một cái
được, là niềm tự hào của nhiều người Việt Nam, nhưng cái
giá phải trả để thoả mãn tham vọng chính trị ấy vẫn chưa
được đong đếm. Đối với một số người, với hiện trang
Việt Nam và vai trò phụ nữ trong xã hội Việt Nam hiện nay,
thì cái giá đó quá đắt.

Vấn đề TNXP vừa thú vị và vừa phức tạp; nó liên quan mật
thiết đến sự tiến triển của xã hội và chính trị Việt
Nam từ 1950. Trong cả hai cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ,
thanh niên đóng vai trò trung tâm, ngay cả khi họ bị kẹt giữa
chủ nghĩa ái quốc đầy đòi hỏi và việc sử dụng chính
trị lạnh lùng. Sự hy sinh của họ là thực sự, nhưng cái
chủ nghĩa ái quốc đòi hỏi ở họ giống một phương tiện
thu hút nhân lực trong những điều kiện hết sức nghiệt ngã,
khiến ta gặp khó khăn trong việc xác định hành động của
họ bao nhiêu phần xuất phát từ chủ nghĩa anh hùng, và bao
nhiêu phần chỉ đơn giản nhằm mục đích tồn tại. Chủ
nghĩa anh hùng và bi kịch là hai mặt tự thân của cuộc chiến
cốt nhục tương tàn, việc giải phóng người này đồng thời
là sự khuất phục và biến mất của người kia. Đằng sau
những trang sách anh hùng và tuyên truyền chính thức, đằng sau
những diễn văn biện giải, che giấu một sự thật sống
sượng hơn, đau khổ hơn, và bi kịch hơn; nó liên quan đến
số phận bi thảm của hàng vạn thanh niên vừa đầy nhiệt
huyết, vừa bị cưỡng bách, những người bị chiến tranh bẻ
gãy cả thể xác lẫn tâm lý. Sự thực ấy, ban đầu được
tô vẽ bằng những màu sắc câm lặng, dần dần lộ rõ hình
hài, chuyển hoá hình ảnh tinh luyện của các cô gái trẻ với
nụ cười sáng ngời thành những khuôn mặt mệt mỏi, chằng
chịt những vết bị chiến tranh cắt nát, hằn sâu đau khổ và
điên loạn.

Giống như các đồng nghiệp ở Liên Xô, phụ nữ Việt Nam
không những không bị cấm ra mặt trận, mà còn ở ngay chính
giữa mặt trận [141]. Các cô gái TNXP trực tiếp tham gia chiến
đấu, đặc biệt là trên đường mòn HCM, nơi có sự hoà nhập
nhất với quân chủ lực, và với những người trong đội TNXP
Giải phóng miền Nam thì chiến đấu là nhiệm vụ chính thức.
Như chúng ta thấy, trong phần lớn thời gian, ranh giới giữa
bộ đội nơi tiền tuyến và các lực lượng hậu cần không
hề tồn tại. Việc lực lượng hậu cần cũng hứng chịu lửa
đạn là chuyện bình thường của mọi cuộc chiến [142], nhưng
trường hợp Việt Nam trở nên đặc biệt do một số lý do:
độ tuổi tuyển mộ quá trẻ, họ gần như hoàn toàn không
được chuẩn bị chút nào, và cách thức quản lý thuần chính
trị và quân sự được áp dụng với họ. Sĩ quan trong Quân
đội Nhân dân Việt Nam và cựu cán bộ TNXP bị ảnh hưởng
nặng nề bởi những đau đớn khủng khiếp thường nhật của
các cô gái làm việc cùng họ, hoặc dưới quyền họ, phải
chịu đựng. Nhưng tất cả bị tấm màn im lặng phủ kiến,
bởi người ta muốn đây phải là cuộc chiến tranh nhân dân.

Trong logic chiến tranh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tổng
động viên quần chúng và việc cưỡng bách thanh niên tòng quân
(qua phong trào Ba sẵn sàng) biến mỗi công dân thành một chiến
sĩ không phân biệt giới tính. Giới lãnh đạo Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa nắm chắc mục tiêu `dân tộc-cộng sản', thẳng
tiến vào Nam đến chiến thắng tại Sài Gòn, không dừng bước
trước bất kỳ trở ngại nào và không ngần ngại trước bất
kỳ hy sinh nào. Chủ nghĩa anh hùng và bi kịch liên hệ mật
thiết với nhau, vì vậy chính sử sẽ không thể phân biệt
chúng rạch ròi. Tuy vậy, vào giữa thập niên 1990, cựu TNXP
bắt đầu giành lại lịch sử của mình; điều này có thể
sẽ cho phép họ góp phần giúp ta hiểu rõ hơn vai trò then chốt
mà họ đã đóng trong cuộc chiến tranh thống nhất đã đòi
hỏi nơi họ những hy sinh khủng khiếp nhường ấy. Vì lý do
này, họ hẳn có thể nắm giữ một phần của việc viết sử
trong tương lai.

Trong quá trình nghiên cứu của tôi, một câu hỏi thứ hai
thường xuyên được đặt ra: vấn đề phụ nữ trong chiến
tranh, đặc biệt là ý thức về sự tàn tạ về bản chất sinh
lý của phụ nữ và của người mẹ. Ni cô Phương nhấn mạnh
điểm này một cách rõ ràng, nhưng khiêm tốn, khi bà kể ra bí
mật của mình, một bí mật phụ nữ đã ảnh hưởng những
TNXP sống sót trở về: "<em>Chúng tôi đã mất điều làm cho
chúng tôi là phụ nữ</em>" [143]. Trong bài thuyết trình khiêm
tốn nhưng đầy ý nghĩa, nhà văn Lê Minh Khuê nêu lên vấn đề
thân xác phụ nữ trong và sau thời kỳ chiến tranh: "<em>Có một
điều không ai biết, không được nhắc tới dù nhắc xa xôi,
vì ở Việt Nam người ta cấm kỵ xem như ô nhục xấu xa, đó
là đời sống thân xác của người đàn bà</em>" [144]. Nguyễn
Văn Đệ cũng viết về sự cạnh tranh giữa đàn ông và phụ
nữ, và việc phái yếu đã đứng lên trong thử thách như thế
nào [145]. Các cô gái chẳng thua kém gì cánh con trai, và thậm
chí còn táo bạo và can đảm hơn trên chiến trường. Tướng
Đồng Sĩ Nguyên chứng kiến công việc của TNXP trên đường
mòn HCM đã ca ngợi: "<em>Đặc biệt, ở Trường Sơn, các nữ
TNXP không phải là phái yếu như nhiều người thường nghĩ.
Trái lại họ là `phái mạnh'</em>" [146]. Bất chấp những hình
ảnh tuyên truyền lừa bịp, cách thức quản lý chiến tranh
cách mạng thuộc giống đực. Một cuộc chiến vì đàn ông,
chống lại đàn ông, do đàn ông dẫn dắt. Ngay cả khi các đơn
vị TNXP gồm toàn phụ nữ thì chỉ huy cũng vẫn là đàn ông.
Cơ bản mà nói, người ta đã tiến hành cuộc chiến mà không
mảy may quan tâm đến những đặc thù sinh lý và văn hóa của
phụ nữ trong chiến tranh; trên thực tế, những điều này đã
bị bỏ qua, coi nhẹ hoặc rơi vào quên lãng. Nói cách khác, thu
hoạch của chiến thắng 1975 hoàn toàn chỉ thuộc về đàn ông.
Cũng như bao cuộc chiến khác, khi "cánh đàn ông từ chiến
trường trở về", dù theo nghĩa đen hay nghĩa bóng, tái tạo
một Việt Nam xã hội chủ nghĩa chiến thắng và đầy đực
tính, đã không đếm xỉa đến sự dấn thân của phụ nữ
trong chiến tranh nhân dân. Đây là một dạng "trừng phạt dục
tính", thắm đẫm trong cuộc trở về của quyền lực Khổng
giáo và đực tính, được minh hoạ bằng màu kaki hiện diện
khắp phía Bắc vĩ tuyến 17 mãi cho đến thời kỳ mở cửa vào
năm 1986, được biết đến với tên gọi Đổi mới.

Thực tế, mặc dù các cô gái đóng một vai trò quan trọng trong
chiến tranh, lời nói của họ bị chìm nghỉm trong cả một
đại dương tuyên truyền. "<em>Còn có một cuộc chiến mà chúng
ta không biết</em>", Svetlana Alexievitch khẳng định [147]. Việc
buộc chính sử, với điện thờ các anh hùng của nó, thừa
nhận cách nhìn khác về một cuộc chiến với đầy thông số
chi tiết đậm nét về tâm sinh lý, là điều hết sức khó. Ta
có thể thấy điều này qua cuộc đối thoại giữa Svetlana
Alexievitch và một nhân viên kiểm duyệt về trường hợp Liên
Xô, một ví dụ hoàn toàn có thể áp dụng được vào trường
hợp Việt Nam: "<em>Có gì hay ở những chi tiết sinh lý này?
Rốt cuộc quý vị chỉ hạ thấp phụ nữ bằng cách tập trung
vào cơ thể của họ. Tước vòng nguyệt quế của các nữ anh
hùng và khiến họ trở thành những phụ nữ bình thường.
Thành giống cái. Nhưng với chúng tôi họ là những nữ
Thánh!</em>" [148]

Đây là vấn đề thực sự. Ngoài những cống hiến hiển nhiên
vào cuộc chiến đực tính này, các cô gái TNXP còn được bộ
máy tuyên truyền sử dụng như những hình ảnh thần thánh.
Để dẫn dắt cuộc chiến và tổ chức tuyển binh, người ta
cần những gương mặt nữ đầy khích lệ, những nụ cười
rạng rỡ như một lợi thế giới tính hóa. Hình ảnh Nguyễn
Thị Kim Huế, thần tượng của TNXP, được chụp cạnh "Bác
Hồ" năm 1967, vẫn tiếp tục được sử dụng cho đến tận
ngày hôm nay. Không phải ngẫu nhiên mà tấm ảnh biểu trưng
này được dùng làm bìa cho cuốn <em>Chủ tịch Hồ Chí Minh
với sự nghiệp giải phóng phụ nữ</em> mới xuất bản gần
đây [149]. Chân dung trẻ trung của mười cô gái hy sinh vì bom
Mỹ trên tượng đài Đồng Lộc cũng góp phần vào hiện
tượng này. Người ta thăm viếng các cô gái trẻ chết ngoài
chiến trường gần như với nghi lễ tôn giáo, như thể để
tự thuyết phục mình là họ đã có niềm tin tốt đẹp và
cách hành xử đúng đắn trong một cuộc chiến tranh tế mạng,
được tiến hành nhân danh chủ nghĩa cộng sản dân tộc đầy
đực tính. Không biết việc dựng tượng đài kỷ niệm và trao
huy chương liệu có đủ để siêu việt hóa thực tế hàng vạn
thân thể phụ nữ bị hủy hoại, tàn phai, tật nguyền, và chao
đảo mãi mãi?

<strong>François Guillemot</strong> là chuyên viên nghiên cứu tại
Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia (CNRS), phụ trách kho tài
liệu Việt Nam tại Viện Nghiên cứu Đông Á (IAO, Lyon, Pháp).
Ông lấy bằng tiến sĩ về lịch sử tại Ecole pratique des hautes
études (EPHE, Paris) năm 2003. Hiện ông nghiên cứu về những vấn
đề văn hoá trong chiến tranh của người Việt, và về chủ
nghĩa dân tộc phi cộng sản của người Việt, chẳng hạn như
về Đảng Đại Việt. Tiểu luận này được thuyết trình lần
đầu tại hội thảo quốc tế, "Bản sắc cơ thể ở Việt Nam:
Chuyển hoá và Đa dạng", tại Ecole normale superieure lettres et
sciences humaines, Lyon. Tác giả cảm ơn Christopher E. Goscha, Agathe
Larcher, Claire và William J. Duiker, Vatthana Pholsena, Tuong Vu, Edward
Miller và Trang Cao đã giúp ông dịch (từ tiếng Pháp sang tiếng
Anh) và hiệu đính tiểu luận này để đăng trên <em>Journal of
Vietnamese Studies</em> vào mùa thu 2009.

<strong>Nguồn:</strong> <em>Journal of Vietnamese Studies</em>, Volume 4,
Number 3, Fall 2009.

Bài viết được dịch từ nguyên bản tiếng Pháp, có sự hiệu
đính của tác giả François Guillemot.

<strong>Tham khảo</strong>

[1] Trong tiếng Anh, được báo chí tuyên truyền cộng sản trong
thời chiến dịch là Youth shock brigades. Douglas Pike đề nghị
nhấn mạnh đến hoạt động quân sự bằng một cách dịch
gần như ghép từ, trong tác phẩm của ông về quân đội nhân
dân Việt Nam "Youth rush to the front organization" (Douglas Pike, PAVN:
<em>People's Army of Vietnam</em>, NXB Da Capo, 1986, trang 328. Thư mục
những thuật ngữ quân sự cộng sản Việt nam). Các tài liệu
do quân Mỹ thu được từ FNL được dịch là "Assault Youth teams"
(Tuyển tập Douglas Pike, Unit 05, Virtual Vietnam Archive, Trung tâm
Việt Nam, Đại học Texas). Các cách dịch Anh ngữ khác được
đưa ra sau đó "Volunteers" như trong "Youth volunteers". Một cách
gọi khác thỉnh thoảng được sử dụng để minh họa vai trò
của TNXP trên mặt trận: "Sappers" (công binh). Hiếm hơn là
"Vanguard youth" (Thanh niên tiên phong) cũng được sử dụng để
chỉ những đội tình nguyện trên đường mòn HCM (đừng lầm
với Thanh niên Tiền phong của bác sĩ Phạm Ngọc Thạch ở
miền Nam năm 1945).

[2] Thuật ngữ quân sự chỉ việc Tiến lên tấn công. Sử
dụng trong cuộc sống thường nhật để diễn tả ý tưởng
dấn thân. Nếu các thuật ngữ Xung Phong đã xuất hiện trong
từ vựng chính trị Việt Nam trong Cách mạng tháng Tám để
chỉ các đội Tuyên truyền xung phong hay Cảnh sát xung phong,
việc sử dụng trong khung cảnh chiến tranh được diễn đạt
rõ trong các bài viết chính thức. Thuật ngữ này không phải
là từ vựng quân sự riêng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Việc sử dụng cũng thường xuyên trong Quân lực Việt Nam Cộng
hòa ở miền Nam.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, 11,
1950, Hà Nội, Nxb Chính trị Quốc gia, tr. 324-325 (xem đặc biệt
tr. 325, điểm 4).

[4] Trần Hữu Đính, "Phong trào thi đua của giai cấp công nhân
miền Bắ­c trong giai đọan 1965-1975", <em>Nghiên cứu lịch
sử</em>, số 2, tháng 3 và 4, 1976, tr. 9. Trần Hữu Đính đề
nghị định nghĩa này cho "Thanh niên xung phong chống Mỹ cứu
nước", chúng ta có thể dùng từ này chỉ chung các đội TNXP.

[5] Bộ Quốc Phòng, Trung tâm từ điển bách khoa quân sự Bộ
Quốc Phòng, <em>Từ điển bách khoa quân sự Việt nam</em>, Hà
Nội, Nxb Quân Đội Nhân Dân, 2004, tr. 926 (xem Thanh niên xung
phong).

[6] Văn Tùng & Nguyễn Hồng Thanh (chủ biên), <em>Lịch sử TNXP
Việt Nam (1950-2001)</em>, Hà Nội, Nxb Thanh Niên, 2002, tr. 292 (xem
thêm chi tiết tr. 233-234).

[7] Dương Minh Đức, "Vẫn còn canh cánh một nỗi lo chung", Lao
Động, số 194 (16-7-2006).

[8] Xem: "Tư liệu: Lực lượng TNXP Việt Nam", <em>Người Lao
Động</em>, Bộ mới, số 432 (607), Thứ hai 14-7-1997, tr. 3.

[9] Ngôi sao vàng trên vòng tròn có tia nền đỏ, được bao bởi
bánh xe có khấc bên phải và bông lóa bên trái, bên dưới là
dấu hiệu TNXP chữ tr­ắng nền xanh lá, có hai hàng tường
gạch. Đồng phục đặc biệt của TNXP chính thức từ chỉ
thị 522, ngày 11 tháng 8 năm 1965 bởi Trung ương Đoàn (Văn Tùng
& Nguyễn Hồng Thanh (chủ biên), <em>Lịch sử TNXP Việt Nam</em>,
tr. 252-253).

[10] Bài hát "Cô gái mở đường" của Xuân Giao hay bài thơ "Cô
gái Thạch Nhọn" của Phạm Tiến Duật viết tặng một cô gái
TNXP, là những tác phẩm kinh điển.

[11] <em>Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam</em> (tập bài
giảng), Nxb Đại Học Quốc Gia Hà Nội, 1999, tr. 105-106.

[12] Liên đoàn Thanh niên Việt Nam và Đoàn Thanh niên Cứu quốc
Việt Nam.

[13] Văn Tùng (chủ biên), <em>40 năm TNXP (1950-1990)</em>, Hà Nội,
Nxb Thanh Niên, 1990, tr. 7.

[14] Văn Tùng (chủ biên), <em>40 năm TNXP</em>, tr. 9-10.

[15] Hồ Chí Minh, <em>Về giáo dục Thanh niên</em>, Hà Nội, Nxb
Thanh Niên, 1977, tr. 87 ("Khuyên Thanh niên"). Một bài thơ bốn câu
huyền thoại sử dụng để mở đầu các tác phẩm về TNXP.

[16] Xem: Ban liên lạc Hai Đội 34-40, Đoàn TNXP Trung Ương, <em>50
năm chiến th­ắng Điện Biên Phủ</em>, Hà Nội, Nxb Lao Động,
2004, tr. 61, 101, 187, 207.

[17] Con số 22.000 tuyển mộ được Vũ Thị Hòa đưa ra, "Những
đóng góp của TNXP trong chiến dịch Điện Biên Phủ" 50 năm
chiến th­ắng Điện Biên Phủ, tr. 61.

[18] Nguyễn Tiến Năng, "TNXP phục vụ chiến dịch Điện Biên
Phủ", 50 năm chiến thắ­ng Điện Biên Phủ, tr. 41.

[19] Vũ Thị Hòa, "Những đóng góp của TNXP trong chiến dịch
Điện Biên Phủ", tr. 62.

[20] Nhiều tác giả, Bạn biết gì về chiến dịch Điện Biên
Phủ? Hà Nội, Nxb Trẻ, 2004, tr. 67.

[21] <em>Bạn biết gì về chiến dịch Điện Biên Phủ?</em>, tr.
67-68.

[22] Về TNXP trong giai đoạn "Xây dựng chủ nghĩa xã hội" ở
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1955-1964), xem Văn Tùng &
Nguyễn Hồng Thanh (chủ biên), <em>Lịch sử TNXP Việt Nam</em>,
tr. 161-224.

[23] Được trình bày đầu tiên một cách chính trị của Hội
nghị lần 11 và 12 của Ủy ban trung ương đảng Lao Động tháng
3 và 12 năm 1965. Cf. Văn Tùng (chủ biên), <em>40 năm TNXP</em>, tr.
56.

[24] Văn Tùng & Nguyễn Hồng Thanh (chủ biên), <em>Lịch sử TNXP
Việt nam</em>, tr. 264. Xem thêm Nguyễn Hồng Thanh, <em>TNXP những
trang oanh liệt</em>, tr. 38-40.

[25] Nguyễn Văn Đệ, <em>Lịch sử truyền thống của lực
lượng TNXP chống Mỹ cứu nước (tập trung)</em>, Hà Nội, Nxb
Giao Thông Vận Tải, 2004, tái bản lần thứ nhất, tr. 28, 254.
Xem chi tiết về nội dung Chỉ thị 71/TTg, tr. 39-43.

[26] Huỳnh Thị Dung & Nguyễn Thu Hà, <em>Từ điển bách khoa phụ
nữ Việt Nam</em>, Hà Nội, Nxb Phụ Nữ, 2002, tr. 36; Lê Văn
Đạt, "Vai trò của Thanh niên miền Bắ­c trong cuộc kháng
chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)", <em>Nghiên cứu lịch
sử</em>, 4 (347) 2005, tr. 27.

[27] Huỳnh Thị Dung & Nguyễn Thu Hà, <em>Từ điển bách khoa phụ
nữ Việt nam</em>, tr. 35 ; Mai Anh, "Đi đầu trong mọi nhiệm vụ.
Phụ nữ miền B­ắc Việt Nam đối đầu cuộc tấn công của
Mỹ". Phụ nữ Việt Nam, <em>Etudes vietnamiennes [Nghiên cứu Việt
Nam]</em>, số 10, tr. 145-146.

[28] Nguyễn Văn Đệ, <em>Lịch sử truyền thống của lực
lượng TNXP chống Mỹ cứu nước</em>, tr. 27-28.

[29] Đối với những khác nhau về vị trí, có hai cách gọi ở
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ 1965 đến 1975: TNXP trung ương
và  TNXP cơ sở (việc mở rộng tổng động viên). Xem Nguyễn
Văn Đệ, <em>Lịch sử truyền thống của lực lượng TNXP
chống Mỹ cứu nước</em>, tr. 37 (xem chú ý). Trong hai trường
hợp, người ta thường nói về TNXP chống Mỹ cứu nước.

[30] Xem "Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước",
<em>Nhân Dân</em>, số 4484 (17-6-1966), trong Hồ Chí Minh, <em>Về
giáo dục Thanh niên</em>, tr. 211-215.

[31] Nguyễn Văn Đệ, <em>Lịch sử truyền thống của lực
lượng TNXP chống Mỹ cứu nước</em>, tr. 6 (Trình bày của Bộ
trưởng giao thông Lê Ngọc Hoàn).

[32] Xem những bảng tổng kết do Nguyễn Văn Đệ cung cấp trong
phần phụ lục, Văn Tùng & Nguyễn Hồng Thanh (chủ biên),
<em>Lịch sử TNXP Việt Nam (1950-2001)</em>, tr. 657-672.

[33] Trong các bài báo, các phóng viên của báo <em>Lao Động</em>
đưa ra các con số quan trọng hơn, khẳng định đã có "hơn
350.000 thành viên TNXP từ 1950 đến 1975" (Dương Minh Đức, "Vẫn
còn canh cánh một nỗi lo chung", <em>Lao Động</em>, số 194
(16-7-2006); Trịnh Tố Long, "Ngày 19-12, Đại hội thành lập Hội
Cựu TNXP Việt Nam, <em>Lao Động</em>, số 351, 16-12-2004).

[34] TTXVN, "Gần 67.000 TNXP được hưởng chế độ chính sách",
<em>Vietnam News Agency</em> (15-7-2004).

[35] Toàn bộ những bài viết, xem: Nguyễn Văn Đệ, <em>Lịch
sử truyền thống của lực lượng TNXP chống Mỹ cứu
nước</em>, tr. 259-274.

[36] "Sơ đồ hệ thống tổ chức lực lượng TNXP chống Mỹ
cứu nước (tập trung)", trong Nguyễn Văn Đệ, <em>Lịch sử
truyền thống của lực lượng TNXP chống Mỹ cứu nước</em>,
xem sơ đồ giữa các tr. 240 và 241.

[37] Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, <em>Lịch
sử Quân đội Nhân dân Việt Nam (1944-1975)</em>, Hanoi, Nxb QĐND,
2005, tr. 524. Nhiều TNXP giữ những điểm binh trạm rải trên
khắ­p đường mòn.

[38] Một tổng đội gồm từ 500 đến 1.500 người, một đại
đội gồm 150 đến 200, một tiểu đội gồm 10 đến 15 người
(Văn Tùng & Nguyễn Hồng Thanh (chủ biên), <em>Lịch sử TNXP
Việt Nam</em>, tr. 249). Từ 1965 và 1975, ba tổng đội được
thành lập để hợp nhất 3 đại đội miền.

[39] Các con số được sử dụng theo một hợp lý riêng. Đối
với TNXP chống Mỹ cứu nước, số đầu tiên là 21 được gán
cho Đại đội Thanh Hóa là ngày thành lập chính thức (21/6/1965)
trong giai đoạn 1965-1975. Nói chung Đội TNXP gồm chữ cái N theo
sau hai con số, Đại đội TNXP, chữ cái C theo sau là 3 số, hai
số đầu là dành cho Đại đội (Nguyễn Hồng Thanh (chủ biên),
<em>TNXP những trang oanh liệt</em>, tr. 37-38; Nguyễn Văn Đệ,
<em>Lịch sử truyền thống của lực lượng TNXP chống Mỹ cứu
nước</em>, tr. 221).

[40] Nguyễn Văn Đệ, <em>Lịch sử truyền thống của lực
lượng TNXP chống Mỹ cứu nước</em>, tr. 220.

[41] Đội TNXP: 25, 39, 45, 53, 55, 57, 73, 75, 91, 99 (Nguyễn Hồng
Thanh (chủ biên), <em>TNXP những trang oanh liệt</em>, tr. 38).

[42] Xem phân tích và thống kê của Nguyễn Văn Đệ: Nguyễn Văn
Đệ, <em>Lịch sử truyền thống của lực lượng TNXP chống
Mỹ cứu nước</em>, tr. 220-239. Trong việc nhận dạng và tái
lập, Nguyễn Văn Đệ lưu ý rõ các khó khăn (tr. 237-239).

[43] Mai Xuân Minh, "Sáng mãi truyền thống TNXP Thanh Hóa", <em>50
năm chiến thắ­ng Điện Biên Phủ</em>, tr. 187.

[44] Nguyễn Văn Đệ, <em>Lịch sử truyền thống của lực
lượng TNXP chống Mỹ cứu nước</em>, tr. 198-204 (bảng).

[45] Lê Phong Thái, Tổ chức và hoạt động của đội TNXP
chống Mỹ, cứu nước cơ sở,

[46] Trần Hữu Đính, "Phong trào thi đua của giai cấp công nhân
miền Bắ­c", tr. 9; Văn Tùng & Nguyễn Hồng Thanh (chủ biên),
<em>Lịch sử TNXP Việt Nam</em>, tr. 279.

[47] Đặng Hoàng Thám, "Thanh niên xung phong Tây Nam Bộ - Một
thời hào hùng", Báo Cần Thơ (19-3-2007); Minh Tâm, "Đi tìm
`những bông hoa trên tuyến lửa' ", <em>Tuổi Trẻ</em> (24-8-2005).

[48] <em>Đại hội thi đua các Đội TNXP chống Mỹ cứu nước
tập trung toàn miền Bắ­c lần thứ nhất (lưu hành nội
bộ)</em>, Hà Nội, Nxb Thanh Niên, 1967, tr. 15. Cấp II và III
tương ứng với lứa tuổi từ 11 đến 18.

[49] Nguyễn Văn Đệ, <em>Một thời oanh liệt của nữ TNXP</em>,
tr. 58.

[50] Nguyễn Văn Đệ, <em>Một thời oanh liệt của nữ TNXP</em>,
tr. 57-58.

[51] Văn Tùng & Nguyễn Hồng Thanh (chủ biên), <em>Lịch sử TNXP
Việt Nam</em>, tr. 278-279.

[52] Nguyễn Văn Đệ, <em>Lịch sử truyền thống của lực
lượng TNXP chống Mỹ cứu nước</em>, tr. 45. (Chỉ thị số 552,
11/8/1965, Bộ Nội thương).

[53] Văn Tùng & Nguyễn Hồng Thanh (chủ biên), <em>Lịch sử TNXP
Việt Nam</em>, tr. 320.

[54] Những đánh giá ban đầu của Nguyễn Văn Đệ cho một tỉ
lệ là 51%. Trong 138.000 thành viên TNXP có 70.000 nữ (Nguyễn Văn
Đệ, <em>Một thời oanh liệt của nữ TNXP</em>, tr. 70).

[55] Ví dụ trong hơn 400 tân binh của Đại đội 51 TNXP Hà Nội
có 72% nữ (Nguyễn Văn Đệ, <em>Một thời oanh liệt của nữ
TNXP</em>, tr. 66).

[56] "Đại đội 551, Đội TNXP 55 (Thuộc ty Giao thông Hà Tĩnh)",
<em>Anh hùng quê hương (1945-1973)</em>, Ty Thông tin Hà Tĩnh xuất
bản, 1975.

[57] Nguyễn Hồng Thanh (chủ biên), <em>TNXP những trang oanh
liệt</em>, tr. 97.

[58] Nguyễn Văn Đệ, <em>Một thời oanh liệt của nữ TNXP</em>,
tr. 66, 68 và 70.

[59] Về những tập thể nữ anh hùng, xem: Nguyễn Văn Đệ,
<em>Một thời oanh liệt của nữ TNXP</em>, tr. 105-148.

[60] Nghiêm Văn Tân, <em>10 cô gái ngã ba Đồng Lộc</em>, truyện
ký, Hà Nội, Nxb Phụ Nữ, 2006; Vã An Khánh, "Ngã ba Đồng Lộc -
Mảnh đất thiêng", <em>Báo điện tử Cần Thơ</em> (23-7-2006).

[61] "Mười cô gái ngã ba Đồng Lộc (thuộc Ty Giao thông Hà
Tĩnh)", <em>Anh hùng quê hương</em>, 1975.

[62] Thể hiện trong hai tiểu thuyết lớn về chiến tranh thời
"Đổi mới": Dương Thu Hương, <em>Roman sans titre [Tiểu thuyết
vô đề ]</em>, Paris, Editions des Femmes, 1992, xem tr. 7 ("vực Cô
hồn") và tr. 181 ("thung lũng Bảy oan hồn"); Bảo Ninh, <em>Le
chagrin de la guerre [Nỗi buồn chiến tranh]</em>, Arles, Editions
Philippe Picquier, 1994, tr. 15, 50, 54 ("truông Gọi Hồn") và tr.
("Đồi xáo thịt"). Xem Lê Cao Đài, <em>C'était au Tây Nguyên.
Journal de guerre d'un chirurgien nord-vietnamien [Tây Nguyên ngày
ấy]</em>, Hanoi, Editions Thế Giới, 2006 , tr. 36 ("cửa tử"), tr.
37 ("Ngã ba thịt chó"); Trần Đình Thùy, Vượt Trường Sơn mở
đường Quyết thắ­ng, Hà Nội, Nxb Giao Thông Vận Tải, 1998,
tr. 29 ("Đèo lửa"); Nguyễn Văn Đệ, <em>Một thời oanh liệt
của nữ TNXP</em>, tr. 87 ("Ngã ba âm phủ").

[63] Nguyễn Văn Đệ, <em>Một thời oanh liệt của nữ TNXP</em>,
tr. 83-84.

[64] Nguyễn Văn Đệ, <em>Một thời oanh liệt của nữ TNXP</em>,
tr. 108.

[65] Phụ lục 1: tổng cộng tạm thời về số lượng TNXP
chống Mỹ cứu nước tính theo các tỉnh
<table>
<th>
<td> </td><td><strong> Tỉnh </strong></td><td><strong> Số lượng TNXP
</strong></td><td><strong> Phần trăm </strong></td><td><strong> Ước
tính khác </strong></td>
</th>
<tr>
<td>1 </td><td> Thanh Hóa </td><td> 33.800 </td><td> 23,77 % </td><td> +
40.000</td>
</tr>
<tr>
<td>2 </td><td> Nghệ An </td><td> 16.800 </td><td> 11,81 % </td><td> +
18.000</td>
</tr>
<tr>
<td>3 </td><td> Hà Tĩnh </td><td> 14.970 </td><td> 10,52 % </td><td></td>
</tr>
<tr>
<td>4 </td><td> Nam Hà </td><td> 14.660 </td><td> 10,31 % </td><td></td>
</tr>
<tr>
<td> </td><td><strong> tổng số tới đây </strong></td><td> 80.230
</td><td> 56,41% </td><td></td>
</tr>
<tr>
<td> 5 </td><td> Hải Hưng </td><td> 8.750 </td><td> 6,15 % </td><td></td>
</tr>
<tr>
<td> 6 </td><td> Thái Bình </td><td> 8.350 </td><td> 5,87 % </td><td></td>
</tr>
<tr>
<td> 7 </td><td> Quảng Bình </td><td> 6.500 </td><td> 4,57 %
</td><td></td>
</tr>
<tr>
<td> </td><td><strong> tổng số tới đây </strong></td><td> 103.830
</td><td> 73,02 % </td><td></td>
</tr>
<tr>
<td> 8 </td><td> TP Hải phòng </td><td> 4.450 </td><td> 3,13 %
</td><td></td>
</tr>
<tr>
<td> 9 </td><td> TP Hà Nội </td><td> 4.349 </td><td> 3,05 % </td><td> +
6.000</td>
</tr>
<tr>
<td> 10 </td><td> Lạng Sơn </td><td> 4.100 </td><td> 2,88 % </td><td></td>
</tr>
<tr>
<td> 11 </td><td> Vĩnh Phúc </td><td> 4.020 </td><td> 2,82 % </td><td></td>
</tr>
<tr>
<td> 12 </td><td> Hà Tây </td><td> 3.950 </td><td> 2,77 % </td><td></td>
</tr>
<tr>
<td> 13 </td><td> B­ắc Thái </td><td> 3.200 </td><td> 2,25 %
</td><td></td>
</tr>
<tr>
<td> 14 </td><td> Ninh Bình </td><td> 2.600 </td><td> 1,83 % </td><td> 
5000 (Lê Thi)</td>
</tr>
<tr>
<td> 15 </td><td> Hà Bắ­ </td><td>c 2.380 </td><td> 1,67 % </td><td></td>
</tr>
<tr>
<td> 16 </td><td> Tuyên Quang </td><td> 1.500 </td><td> 1,05 %
</td><td></td>
</tr>
<tr>
<td> 17 </td><td> Lào Cai </td><td> 700 </td><td> 0,49 % </td><td></td>
</tr>
<tr>
<td> 18 </td><td> Lai Châu </td><td> 650 </td><td> 0,45 % </td><td></td>
</tr>
<tr>
<td> 19 </td><td> Sơn La </td><td> 500 </td><td> 0,35 % </td><td></td>
</tr>
<tr>
<td> 20 </td><td> Cao Bằng </td><td> 500 </td><td> 0,35 % </td><td></td>
</tr>
<tr>
<td> 21 </td><td> Khu Vĩnh Linh </td><td> 450 </td><td> 0,31 %
</td><td></td>
</tr>
<tr>
<td> 22 </td><td> Quảng Ninh </td><td> 400 </td><td> 0,28 % </td><td></td>
</tr>
<tr>
<td> 23 </td><td> Hòa Bình </td><td> 304 </td><td> 0,21 % </td><td></td>
</tr>
<tr>
<td> 24 </td><td> Yên Bái </td><td> 248 </td><td> 0,17 % </td><td></td>
</tr>
<tr>
<td> 25 </td><td> Chưa xác định </td><td> 4.060 </td><td> 2,85 %
</td><td></td>
</tr>
<tr>
<td> </td><td><strong> tổng </strong> </td><td> 142.191 </td><td> 100 %
</td><td></td>
</tr>
</table>

Bảng thống kê do Nguyễn Văn Đệ cung cấp trong Nguyễn Văn
Đệ , <em>Lịch sử truyền thống của lực lượng TNXP chống
Mỹ cứu nước (tập trung)</em>, Hà Nội , Nxb Giao Thông Vận
Tải, 2004, tái bản lần thứ nhất, tr. 207-219.


[66] Tên của phóng sự 3 kỳ trên báo Tuổi Trẻ: <em>"Những
bông hoa trên tuyến lửa"</em>, (22/24-12-2006).

[67] Minh Lợi, "Orchidées des forêts brulées" [Phong lan của rừng
cháy]", <em>Sur la piste Ho Chi Minh [Trên đường mòn Hồ Chí
Minh]</em>, Hanoi, Editions en Langues Etrangères, 1982, tr. 176-192.

[68] Svetlana Alexievitch, <em>La guerre n'a pas un visage de femme [Chiến
tranh không có gương mặt đàn bà]</em>, Paris, Presses de la
Renaissance, 2004, tr. 9.

[69] Zineb Ali Ben Ali, "Les femmes et leur corps dans la guerre : refus de
mémoire et `traces' littéraires" [Phụ nữ và  thân xác họ trong
chiến tranh: chối từ ký ức và 'dấu vết' văn học], <em>Hội
thảo Lịch sử phản biện và công dân, trường hợp lịch sử
Pháp - Algérie</em>, ENS-LSH, Lyon, 20-22 tháng 6 năm 2006.

[70] Kim Anh, "Nước mắ­t ngày hội ngộ..."

[71] Đồng Sỹ Nguyên, <em>Đường xuyên Trường Sơn</em>, hồi
ức, Hà Nội, Nxb Quân Đội Nhân Dân, 2001 (xuất bản lần hai),
tr. 47. Suốt hồi ký, Đồng Sỹ Nguyên kể lại các viếng thăm
bộ đội, dân công, thanh viên TNXP trên đường mòn Hồ Chí
Minh, xem: tr. 262, 272, 273, 328, 343.

[72] Chứng cứ của Hoàng Công Ánh trong Laurence Jourdan, <em>Les
oubliées de la piste Ho Chi Minh [Những cô gái bị lãng quên của
đường mòn Hồ Chí Minh]</em>, Sunset Press, 2003, 53 mn (phim tài
liệu). Hoàng Công Ánh hiện điều hành ủy ban liên lạc cựu
TNXP tỉnh Thái Bình.

[73] Lê Cao Đài, <em>C'était au Tây Nguyên [Tây Nguyên ngày
ấy]</em>, tr. 104. Xem thêm nguyên bản bằng tiếng Việt Lê Cao
Đài, Tây Nguyên ngày ấy (Hồi ký Tây Nguyên), in lần thứ ba,
Hà Nội, Nxb Công An Nhân Dân, 2005.

[74] Xem, ví dụ: Xuân Vũ, <em>Xương trắ­ng Trường Sơn</em>, Los
Alamitos, CA, Nxb Xuân Thu, 1989, tr. 82, 88, 94. . .

[75] Trần Chinh Vũ, "Des bourricots sur la cordillère" [Những con lừa
trên núi], <em>Trên đường mòn Hồ Chí Minh</em>, tr. 152.

[76] Lê Cao Đài, <em>Tây Nguyên ngày ấy</em>, tr. 286 (muỗi), tr.
309 (côn trùng).

[77] Nguyễn Văn Đệ, <em>Một thời oanh liệt của nữ TNXP</em>,
tr. 86. Khẩu phần này tương đương 66 gram gạo mỗi bữa ăn
tức là nửa chén cơm. Xem ví dụ tương tự: Văn Tùng & Nguyễn
Hồng Thanh (chủ biên), <em>Lịch sử TNXP Việt Nam</em>, tr. 320.

[78] Nguyễn Văn Đệ, <em>Một thời oanh liệt của nữ TNXP</em>,
tr. 89. Nguyễn Văn Đệ kể chuyện Nguyễn Thị Hồng Nương hái
22 loại rau rừng.

[79] Lê Cao Đài, <em>Tây Nguyên ngày ấy</em>, tr. 286, 327.

[80] Nguyễn Văn Đệ, <em>Một thời oanh liệt của nữ TNXP</em>,
tr. 88.

[81] Lê Cao Đài, <em>Tây Nguyên ngày ấy</em>, tr. 100.

[82] Thái Bình, "Hoa thiếu nữ giữa rừng Trường Sơn", <em>Tuổi
Trẻ</em> (23-12-2003).

[83] Ngay cả nếu việc ăn thịt người không được đưa ra
trong các nguồn tài liệu của tôi, một câu hỏi cấm kỵ như
vậy có thể đáng đặt ra với sự thận trọng liên quan đến
những vấn đề khó đề cập.

[84] Huỳnh Thị Tiếp, "Tôi chỉ lo lắ­ng một điều...", <em>Con
đường huyền thoại, tập II</em>, Nxb Phương đông, 2005, tr. 199.

[85] Nguyễn Văn Đệ, <em>Một thời oanh liệt của nữ TNXP</em>,
tr. 82. Xem thêm lời kể của các nhân chứng: Dân Hồng,
<em>Đường Trường Sơn theo lời kể của một nữ chiến sĩ
TNXP</em>, tr. 36; Đồng Sỹ Nguyên, <em>Đường xuyên Trường
Sơn</em>, tr. 261.

[86] Nguyễn Văn Đệ, <em>Một thời oanh liệt của nữ TNXP</em>,
tr. 83.

[87] Dương Thu Hương, <em>Tiểu thuyết vô đề</em>, tr. 64. Xem
thêm nguyên bản bằng tiếng Việt: Dương Thu Hương, <em>Tiểu
thuyết vô đề</em>, Stanton, CA, Văn Nghệ, tr. 68.

[88] Dân Hồng, <em>Đường Trường Sơn theo lời kể của một
nữ chiến sĩ TNXP</em>, tr. 8.

[89] Nguyễn Văn Đệ, <em>Một thời oanh liệt của nữ TNXP</em>,
tr. 82.

[90] Nguyễn Văn Đệ, <em>Một thời oanh liệt của nữ TNXP</em>,
tr. 82-83.

[91] Văn Tùng & Nguyễn Hồng Thanh (chủ biên), <em>Lịch sử TNXP
Việt Nam</em>, tr. 256

[92] Xem tường trình của Hoàng Công Ánh về điều kiện sống
của nữ TNXP trong <em>Những cô gái bị lãng quên của đường
mòn Hồ Chí Minh</em> của Jourdan, DVD, phút thứ 22.

[93] Lê Thi và những người khác, <em>Thể dục vệ sinh với
TNXP</em>, Tổng cục Thể dục Thể thao xuất bản, 1973, tr.
151-154, đặc biệt là đoạn nói về "Kinh nguyệt và vệ sinh
kinh nguyệt".

[94] "Kinh nguyệt và vệ sinh kinh nguyệt", <em>Thể dục vệ sinh
với TNXP</em>, tr.153-154

[95] Nguyễn Văn Đệ, <em>Một thời oanh liệt của nữ TNXP</em>,
tr. 82.

[96] Nguyễn Văn Đệ, <em>Một thời oanh liệt của nữ TNXP</em>,
tr. 81-82.

[97] Văn Tùng & Nguyễn Hồng Thanh (chủ biên), <em>Lịch sử TNXP
Viet Nam</em>, tr. 320.

[98] Cao Tiến Lê, "Bruits nocturnes" [Tiếng đêm], <em>Trên đường
mòn Hồ Chí Minh</em>, Hanoi, Editions en Langues Etrangères, 1982, tr.
115. Xem nguyên bản bằng tiếng Việt trong: Bùi Việt Thắ­ng
(tuyển chọn, giới thiệu) <em>Truyện ngắ­n hay về chiến
tranh</em>, [tập II], Hà Nội, Nxb Văn Học, 2006, tr. 182-194.

[99] Dương Thu Hương, <em>Tiểu thuyết vô đề</em>, tr. 8.

[100] Dương Thu Hương, <em>Tiểu thuyết vô đề</em>, tr. 78.

[101] Về hiện tượng này, xem thêm truyện ng­ắn của nhà văn
Võ Thị Hảo "Người sót lại của rừng cười", trong tập
truyện ng­ăn cùng tên, Hà Nội, Nxb Phụ Nữ, 2005, tr. 87-107.
Cũng xêm thêm sự phân tích sâu sắ­c của truyện ngắ­n này
do Đoàn Cầm Thi viết trong bài "Femme, fantasme et guerre" [Phụ
nữ, ảo ảnh và chiến tranh], <em>La Revue des ressources</em>, tạp
chí nghiên cứu văn học trên mạng, truy cập ngày 2 tháng 4 năm
2007.

[102] Nguyễn Văn Đệ, <em>Một thời oanh liệt của nữ TNXP</em>,
tr. 80.

[103] Đồng Sỹ Nguyên,</em> Đường xuyên Trường Sơn</em>, tr.
260-261. Xem thêm Thiếu tướng Phan Khắ­c Hy, phó tư lệnh đoàn
559: Thái Bình, "Hoa thiếu nữ giữa rừng Trường Sơn", <em>Tuổi
Trẻ</em> (23-12-2003).

[104] Lê Cao Đài, <em>Tây Nguyên ngày ấy</em>, tr. 143. Xem thêm:
Văn Tùng & Nguyễn Hồng Thanh (chủ biên), <em>Lịch sử TNXP Việt
Nam</em>, tr. 320.

[105] Nguyễn Văn Đệ, <em>Một thời oanh liệt của nữ TNXP</em>,
tr. 86.

[106] Nguyễn Văn Đệ, <em>Một thời oanh liệt của nữ TNXP</em>,
tr. 54-55.

[107] Lê Cao Đài, <em>Tây Nguyên ngày ấy</em>, tr. 204-205, 361-362.

[108] Trường hợp người thanh niên mà Lê Cao Đài kể ngày
12/5/1966; Xem: Lê Cao Đài, <em>Tây Nguyên ngày ấy</em>, tr. 79, 80.

[109] Lê Cao Đài, <em>Tây Nguyên ngày ấy</em>, tr. 72.

[110] Nguyễn Văn Đệ, <em>Một thời oanh liệt của nữ TNXP</em>,
tr. 55.

[111] Lê Cao Đài, <em>Tây Nguyên ngày ấy</em>, tr. 103.

[112] Nguyễn Gia Nùng, "Les routes restent ouvertes" [Đường vẫn
mở], <em>Face aux bombes, reportages [Trong đạn bom. Phóng sự]</em>,
Hanoi, Editions en Langues Etrangères, 1969, tr. 40.

[113] Minh Lợi, "Phong lan của rừng cháy", tr. 176-177. Trong
<em>Tiểu thuyết vô đề</em>, Dương Thu Hương nêu một cảnh
tương tự, trong đó những người lính phấn kích kéo nhau đến
xem cô gái xinh đẹp sẽ làm hướng dẫn cho họ (tr. 220-221).

[114] Đỗ Chu, "Les échos de la forêt" [Tiếng vọng của rừng],
<em>Trên đường mòn Hồ Chí Minh</em>, tr. 83, 86.

[115] Cao Tiến Lê, "Tiếng đêm", <em>Trên đường mòn Hồ Chí
Minh</em>, tr. 107.

[116] Lê Cao Đài, <em>Tây Nguyên ngày ấy</em>, tr. 174.

[117] Cả một nền văn học lãng mạn về chiến tranh được
làm sống lại từ khi ấn hành quyển nhật ký của Đặng Thòy
Trâm. Liên quan đến hiện tượng này xem: Nguyễn Mạnh Trinh "Khi
người chết sống lại. . . ", www.phusa.net (truy cập ngày 29-9
2006); Trần Trung Đạo, "Những người đi tìm tổ quốc",
www.talawas.org (truy cập ngày 24-3-2006).

[118] Thái Bình, "Hoa thiếu nữ giữa rừng Trường Sơn",
<em>Tuổi Trẻ</em> (23-12-2003).

[119] Nguyễn Văn Đệ, <em>Một thời oanh liệt của nữ TNXP</em>,
tr. 88.

[120] Mark Lane, <em>Conversations with Americans</em>, New York, Simon &
Schuster, 1970. Tiếng Pháp, Xem: Mark Lane, <em>Les soldats américains
accusent [Những người lính Mỹ tố giác]</em>, Paris, François
Maspéro, Cahiers libres 238-239, 1972, tr. 43, 49, 81, 92, 138-139, 163-164,
195-196 (dẫn chứng hãm hiếp và tra tấn phụ nữ).

[121] Nguyễn Gia Nùng, "Đường vẫn mở", tr. 41-42.

[122] Nguyễn Văn Đệ, <em>Một thời oanh liệt của nữ TNXP</em>,
tr. 259. Văn sĩ nổi tiếng Dương Thu Hương thuộc một nhóm văn
công lưu động trong thời kỳ chiến tranh.

[123] Đinh Thị Hợi, <em>Những cô gái bị lãng quên của
đường mòn Hồ Chí Minh</em>, 2003.

[124] Hoàng Nguyên (thực hiện), "Nhà thơ Phạm Tiến Duật: Gửi
người thanh niên hôm nay", <em>Quân Đội Nhân Dân</em> (6 7-2006).

[125] Lần tái bản gần đây, xem: Lê Minh Khuê, "Những ngôi sao
xa xôi", trong <em>Truyện ng­ắn hay về chiến tranh [tập II]</em>,
tr. 111-132.

[126] Huỳnh Thị Tiếp, "Tôi chỉ lo lắ­ng một điều. . . ",
trong <em>1- Con đường huyền thoại, tập II</em>, tr. 199.

[127] Phạm Tiến Duật, trích dẫn trong John Prados, <em>The Blood
Road. The Ho Chi Minh Trail and the Vietnam War</em>, New York, John Wiley &
Sons, Inc., 1998, tr. 194.

[128] Lê Thi, <em>Single Women in Viet Nam [Cuộc sống phụ nữ độc
thân Việt Nam]</em>, Hà Nội, Nxb Thế Giới, 2006 (ấn bản lần
2).

[129] Lê Thi, <em>Single Women in Viet Nam</em>, tr. 38.

[130] "Un problème social" [Một vấn đề xã hội], Nhân Dân
(1-12-1982), trong Françoise Corrèze, <em>La barque et le gouvernail. Au
fil des générations vietnamiennes [Con thuyền và bánh lái. Theo giòng
các thế hệ Việt Nam]</em>, Paris, Editions L'Harmattan, 1984, tr.
163-164.

[131] Lê Thi, <em>Single Women in Viet Nam</em>, tr. 15.

[132] Lê Thi, <em>Single Women in Viet Nam</em>, tr. 32-33, 53-55

[133] P.N.D., "Những nữ TNXP nương nhờ cửa Phật", <em>Công An
Nhân Dân</em> (12-7-2005).

[134] Lê Thi, Le mariage et la famille dans le Vietnam d'aujourd'hui
(Questions & Réponses [Häi đáp về hôn nhân và gia đình Việt Nam
hiện nay], Hà Nội, Nxb Thế Giới, 2006, tr. 126-127. Ví dụ về
phóng sự: "Đường đến `rừng không chồng'", Báo Thanh Hóa
điện tử (31-8-2005); "Phận gái không chồng - Người Lao Động
(23-06-2005); Duong Quang - Hoang Dung, "Làng. . . không chồng!",
Người Lao Động (11-3-2004).

[135] Xem: Lan Ngọc, "Nước m­ắt ngày trở về", Lao Động, số
232 (23-8-2006); Dương Kỳ Anh, "Chúng ta vẫn còn những giọt
nước mắ­t", <em>Báo điện tử Tiền Phong</em> (26-3-2005). Xem
thêm Lê Thi, Single Women in Viet Nam, tr. 39, trường hợp chị
Dương Thị C.

[136] P.N.D., "Những nữ TNXP nương nhờ cửa Phật", <em>Công An
Nhân Dân</em> (12-7-2005).

[137] Lời chứng của Hoàng Công Ánh trong "Những cô gái bị
lãng quên của đường mòn Hồ Chí Minh", 2003.

[138] Claude Quétel, <em>Les femmes dans la guerre 1939-1945 [Phụ nữ
trong cuộc chiến tranh 1939-1945]</em>, Paris, Larousse / Mémorial de
Caen, coll. L'oeil des archives, 2006.

[139] Xuân Vũ, <em>Xương trắ­ng Trường Sơn</em>, tr. 18.

[140] "Đại hội thành lập Hội cựu TNXP Việt Nam", <em>Tuổi
Trẻ</em> (20-12-2004); Hội Cựu TNXP Việt Nam, <em>Văn kiện Đại
hội thành lập Hội cựu TNXP Việt Nam</em>, 2005.

[141] Claude Quétel, <em>Phụ nữ trong chiến tranh</em>, tr. 170.

[142] Về vấn đề này, xin xem: Claude Quétel, <em>Phụ nữ trong
chiến tranh</em>, tr. 172-173 (Các lực lượng phụ trợ trong lằn
đạn).

[143] Phương, trong <em>Những cô gái bị lãng quên của đường
mòn Hồ Chí Minh</em>, 2003.

[144] Xem bài của Lê Minh Khuê, "Thân xác đàn bà", trong Hội
thảo về "Bản sắ­c cơ thể của người Việt từ xưa đến
nay" do Viện Nghiên cứu Đông Á tổ chức tại Lyon, 14/15-5-2007.

[145] Nguyễn Văn Đệ, <em>Một thời oanh liệt của nữ TNXP</em>,
tr. 57.

[146] Đồng Sỹ Nguyên, <em>Đường xuyên Trường Sơn</em>, tr.
262.

[147] Svetlana Alexievitch, <em>Chiến tranh không có gương mặt
người đàn bà</em>, tr. 9.

[148] Svetlana Alexievitch, <em>Chiến tranh không có gương mặt
người đàn bà</em>, tr. 21-22.

[149] Trần Dương (sưu tầm và biên soạn), <em>Chủ tịch Hồ
Chí Minh với sự nghiệp giải phóng phụ nữ</em>, Hà Nội, Nxb
Thông Tấn,


***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/6230), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét