bài báo khoa học trên các tập san quốc tế. Con số này cực
kì khiêm tốn khi so với các nước trong vùng. Đằng sau con số
này là hàng trăm bài báo bị các tập san từ chối không công
bố. Bất cứ ai làm nghiên cứu khoa học cũng có ít nhất một
lần ngậm ngùi thấy bài báo hay công trình nghiên cứu của
mình bị tập san khoa học từ chối không công bố. Đứng
trước một quyết định như thế của tập san, phản ứng
đầu tiên mà nhà khoa học có là câu hỏi "tại sao": tại
sao họ từ chối công trình tuyệt vời này của tôi? Ngạc
nhiên thay, rất ít nghiên cứu về lí do từ chối bài báo khoa
học! Tuy nhiên, thời gian gần đây đã có vài phân tích về
vấn đề này, và bài viết này có mục tiêu cung cấp cho bạn
đọc một vài nguyên nhân từ chối bài báo khoa học.</em>
Ở các nước tiên tiến và phần lớn các đang phát triển (có
lẽ ngoại trừ Việt Nam), bài báo khoa học là một viên gạch
lót đường cho sự thăng tiến trong nghề nghiệp của một nhà
khoa học, là một đơn vị tiền tệ cực kì quan trọng cho
việc xin được tài trợ cho nghiên cứu, và là một chỉ tiêu
quan trọng để đo lường năng suất khoa học của một quốc
gia. Do đó, có những nước, chẳng hạn như Hàn Quốc và Trung
Quốc, chi ra hàng tỉ đôla để nâng cao sự có mặt của họ
trên trường quốc tế qua hoạt động công bố ấn phẩm khoa
học.
Bài báo khoa học là "sản phẩm" của một công trình nghiên
cứu khoa học. Để đánh giá sự thành bại của một công
trình, người ta thường xem xét đến bài báo khoa học đã
được công bố ở đâu, và trong vài trường hợp cần thiết,
bằng sáng chế được đăng kí ở đâu. Xin nói thêm rằng ở
nước ngoài, người ta không có kiểu "nghiệm thu" như ở
Việt Nam để đánh giá sự thành bại của một công trình
nghiên cứu khoa học.
<h2>Qui trình xuất bản</h2>
Qui trình để xuất bản một bài báo khoa học cũng khá đơn
giản. Đầu tiên là tác giả (hay thường là nhóm tác giả)
soạn bài báo khoa học, sau đó họ chọn một tập san để gửi
gấm "đứa con tinh thần" của mình. Ban biên tập tập san khi
nhận được sẽ xem qua một cách nhanh chóng, và nếu thấy chưa
đạt yêu cầu sẽ gửi trả lại cho tác giả trong vòng 1 tuần;
nếu thấy đạt yêu cầu và có tiềm năng, họ sẽ gửi cho 2
hoặc 3 chuyên gia bình duyệt (reviewers hay referees). Các chuyên gia
bình duyệt sẽ đọc và đánh giá bài báo, viết báo cáo gửi
cho tổng biên tập của tập san, với những đề nghị như (a)
cho công bố không cần sửa; (b) cho công bố những cần sửa
chút ít; (c) cho công bố nhưng sửa nhiều hay viết lại; (d) từ
chối. Chỉ một trong 3 chuyên gia bình duyệt đề nghị từ
chối thì bài báo sẽ bị từ chối. Nếu 2 chuyên gia đề nghị
chấp nhận cho công bố và 1 người không chấp nhận, thì ban
biên tập sẽ gửi cho một chuyên gia khác bình duyệt tiếp.
Điều cần nói là các chuyên gia này biết tác giả là ai (qua
bản thảo bài báo), nhưng tác giả không biết 3 chuyên gia này
là ai. Thời gian bình duyệt của các chuyên gia có thể kéo dài
từ 2 tuần đến 6 tháng, hoặc có thể lâu hơn (tùy theo bộ
môn khoa học).
Nếu các chuyên gia đề nghị phải sửa lại thì tổng biên
tập gửi lại cho tác giả với toàn bộ báo cáo của các
chuyên gia. Tác giả có trách nhiệm phải sửa từng điểm một
trong bài báo, hay làm thêm thí nghiệm, thêm phân tích, v.v…
để đáp ứng yêu cầu của các chuyên gia bình duyệt. Bản
thảo thứ hai lại được gửi cho ban biên tập, và qui trình
bình duyệt lần thứ 2 lại được khởi động. Nếu các chuyên
gia thấy tác giả chưa đáp ứng yêu cầu, bài báo có thể bị
từ chối. Nếu các chuyên gia thấy tác giả đã đáp ứng tất
cả những đề nghị thì họ có thể sẽ đồng ý cho công bố
bài báo. Nếu được chấp nhận, bài báo sẽ được gửi cho
biên tập viên của nhà xuất bản, và họ sẽ có người chuyên
lo phần ngôn ngữ để biên tập bài báo. Thật ra, phần lớn
bài báo chẳng có gì phải sửa về tiếng Anh, nhưng vì các nhà
xuất bản muốn tiết kiệm giấy, nên nhiệm vụ của biên tập
viên là tìm mọi cách, mọi nơi để giảm số chữ. Chẳng hạn
như những danh xưng, bằng cấp, chức danh, v.v… của tác giả
có tập san có chính sách cắt bỏ hết vì họ cho rằng tốn
giấy. Họ sẽ xem xét đến biểu đồ và bảng số liệu xem có
gì trùng hợp không để cắt bỏ khỏi bài báo. Những biên
tập viên này cực kì giỏi về viết lách và rất kinh nghiệm
trong việc trình bày một bài báo khoa học sao cho gọn nhẹ mà
nội dung vẫn đầy đủ.
Như là một qui luật, phần lớn các bài những khoa học nộp
cho tập san khoa học bị từ chối không cho công bố ngay từ
giai đoạn bình duyệt, thậm chí ngay từ giai đoạn trước khi
gửi bài báo ra ngoài bình duyệt. Tỉ lệ từ chối dao động
lớn giữa các tập san. Tập san càng uy tín chừng nào, tỉ lệ
từ chối càng cao chừng ấy. Uy tín ở đây được đo lường
bằng hệ số impact factor (IF). Tập san có ảnh hưởng lớn
thường có hệ số cao. Những tập san lâu đời và có ảnh
hưởng lớn trong khoa học như Science (IF 30), Nature (IF 31), Cell
(31.3), hay trong y khoa như New England Journal of Medicine (52.6), Lancet
(28.6), JAMA (25.6), mỗi năm nhận được khoảng 6000 đến 8000
bài báo khoa học, nhưng tỉ lệ từ chối lên đến 90% hoặc
95%. Ngược lại, những tập san nhỏ và chuyên ngành thường có
hệ số impact factor thấp, và tỉ lệ từ chối chỉ khoảng 50%
đến 60%. Những tập san địa phương có vẻ dễ dải hơn, với
tỉ lệ từ chối chỉ 20 hay 30%.
<h2>Lí do từ chối?</h2>
Nhưng tại sao các tập san có "thói quen" từ chối công bố
các công trình nghiên cứu của đồng nghiệp? Đây là một câu
hỏi chính đáng, nhưng rất khó có câu trả lời, vì trong quá
khứ rất ít nghiên cứu tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến
từ chối một bài báo khoa học. Tuy nhiên, một cuộc điều tra
gần đây cung cấp cho chúng ta một vài dữ liệu thú vị và
quan trọng. Trong cuộc điều tra này, tác giả gửi 83 câu hỏi
đến đến 25 nhà khoa học từng chiếm giải Nobel y sinh học, 67
tổng biên tập và 50 chuyên gia bình duyệt của các tập san y
sinh học. Nhưng chỉ có khoảng 25% trong số này trả lời tất
cả những câu hỏi, và kết quả phân tích cho thấy như sau.
Khi được hỏi khuyết điểm nào phổ biến nhất để từ
chối ngay một bài báo khoa học, thì có 3 lí do chính sau đây:
71% là do thiết kế nghiên cứu có vấn đề, 14% do diễn giải
kết quả nghiên cứu sai, và 14% là do đề tài nghiên cứu không
quan trọng.
Một bài báo thường được viết theo cấu trúc IMRAD (tức là
có phần dẫn nhập, phương pháp, kết quả, và bàn luận). Khi
được hỏi phần nào thường phạm phải sai lầm nhiều nhất
thì câu trả lời là 55% ở phần phương pháp, 24% phần bàn
luận, và 21% phần kết quả. Trong 4 phần của một bài báo,
phần nào là nguyên nhân dẫn đến từ chối bài báo? Phân tích
kết quả cho thấy khoảng phân nủa là phần phương pháp (52%),
kế đến là phần kết quả (28%), và phần bàn luận (21%).
Nói tóm lại, các kết quả phân tích trên đây cho thấy khuyết
điểm phổ biến nhất và cũng là nguyên nhân thông thường
nhất dẫn đến quyết định từ chối một bài báo khoa học
nằm ở phần phương pháp. Điều này có lẽ cũng không khó
hiểu, bởi vì nếu phương pháp sai thì kết quả sẽ sai, các
bàn luận và kết luận cũng có thể sai. Mà, sai sót về phương
pháp thì không sửa được (vì nghiên cứu đã làm rồi). Không
có tập san khoa học nào muốn công bố một bài báo khoa học
với nhiều sai sót, nên quyết định từ chối những bài báo do
khiếm khuyết về phương pháp là điều hoàn toàn có thể đoán
được.
Trong phần phân tích chi tiết về các lí do từ chối, tác giả
còn cung cấp một số dữ liệu quan trọng trong phần diễn
giải kết quả, tầm quan trọng của nghiên cứu, khiếm khuyết
trong cách trình bày kết quả nghiên cứu, và viết văn. Về
diễn giải kết quả nghiên cứu, có đến 61% các tác giả
diễn giải hay kết luận không nhất quán với dữ liệu, và
phần còn lại là dữ liệu không có tính thuyết phục cao (25%)
hay còn quá sơ khởi (7%).
Về nội dung, thiếu cái mới trong công trình nghiên cứu là lí
do hàng đầu (80% bài báo bị từ chối vì lí do này). Thiếu
tứng ứng dụng (13%) cũng là một lí do để từ chối, nhưng
không quan trọng bằng thiếu cái mới, tuy quan trọng hơn lí do
vì chủ đề nghiên cứu quá hẹp (8%). Về trình bày dữ liệu,
có 3 nguyên nhân chính dẫn đến bài báo bị từ chối đăng:
trình bày dữ liệu không đầy đủ (32%), có mâu thẫn giữa
các dữ liệu trình bày (25%) và không cung cấp đầy đủ chi
tiếtt về phương pháp nghiên cứu (25%). Về cách viết, các
tổng biên tập và chuyên gia bình duyệt có vẻ không ưa cách
viết lách quá nhiều chữ nhưng ít ý tưởng và đây chính là
nguyên nhân hàng đầu dẫn đến bài báo bị từ chối (43%).
Ngoài ra, diễn đạt ý tưởng không khúc chiếc (21%) và câu văn
thừa (11%) cũng là những nguyên nhân bị từ chối.
<h2>Địa phương chủ nghĩa?</h2>
Phần lớn các tập san khoa học -- dù là trụ sở đặt ở Mĩ
hay Âu châu, hay trực thuộc các hiệp hội khoa học của Mĩ hay
Âu châu -- mang tính quốc tế, hiểu theo nghĩa ban biên tập
nhận bài từ tất cả các nhà khoa học trên thế giới. Câu
hỏi đặt ra là có sự khác biệt nào về tỉ lệ từ chối
giữa các nước hay không.
Theo thống kê của các tập san y khoa lớn như New England Journal
of Medicine, JAMA, không có khác biệt lớn về tỉ lệ từ chối
giữa các nước Mĩ (hay nói tiếng Anh) và ngoài Mĩ. Năm 2000, 25%
trong tổng số bài báo JAMA nhận được xuất phát từ các
nước ngoài Mĩ, và tỉ lệ từ chối là 95%. Tỉ lệ từ chối
các bài báo từ Mĩ của JAMA là 93%. Tập san New England Journal of
Medicine cho biết trong tổng số bài báo tập san nhận được
hàng năm, 1/2 đến từ các nước ngoài Mĩ. Trong tổng số các
bài báo được chấp nhận cho đăng trên New England Journal of
Medicine, 1/3 có nguồn gốc ngoài Mĩ.
Tuy nhiên, đối với các tập san chuyên ngành thì có sự khác
biệt lớn giữa các nước ngoài Mĩ và Mĩ. Chẳng hạn như tập
san Circulation Research (chuyên về tim mạch, impact factor ~10), mỗi
năm họ nhận được khoảng 2000 bài báo từ khắp các nước
trên thế giới, nhưng chủ yếu từ Mĩ (44%), Âu châu (31%),
Nhật (6%), và Á châu (9%, không kể Nhật). Tỉ lệ từ chối
chung là 85%, không khác mấy so với tỉ lệ từ chối các bài
báo từ Hàn Quốc (88%), Đài Loan (91%). Riêng Trung Quốc, có
đến 99% bài báo gửi cho tập san Circulation Research bị từ
chối vì chất lượng quá kém và tiếng Anh chưa đạt.
Một phân tích thú vị khác của tập san American Journal of
Roentgenology (IF ~4) cho thấy một "bức tranh" toàn cục thú
vị (Bảng 2). Trong thời gian từ 2003 đến 2005, tập san này
nhận được 5242 bài báo khoa học từ khắp nơi trên thế
giới, nhưng chủ yếu từ Mĩ (43%), Nhật (11%), Hàn Quốc (9%),
Đức (5%), và Canada (4%). Tuy nhiên, tỉ lệ bài báo được chấp
nhận cho đăng dao động lớn giữa các nước. Trong số 2252 bài
báo từ Mĩ, 72% được chấp nhận cho công bố, và trong tổng
số 2990 bài báo ngoài Mĩ, tỉ lệ được chấp nhận là 60%.
Nước có tỉ lệ chấp nhận thấp nhất là Ấn Độ, với chỉ
27% bài báo được công bố. Phân tích chi tiết theo ngôn ngữ
mẹ đẻ, thì trong số 2684 bài báo từ các nước nói tiếng Anh
(Mĩ, Canada, Anh, Úc) tỉ lệ chấp nhận cho công bố là ~71%.
Trong số 2558 bài báo xuất phát từ những nước không nói
tiếng Anh, tỉ lệ chấp nhận chỉ 60%.
Các nhà nghiên cứu phân chia các nguyên nhân từ chối thành 6
nhóm: nhóm: I liên quan đến thiếu cái mới hay dữ liệu không
có ích; nhóm II liên quan đến những khuyết điểm về phương
pháp và logic; nhóm III, khuyết điểm về phân tích dữ liệu;
nhóm IV, vấn đề ngôn ngữ; nhóm V, chuyên gia bình duyệt không
thích; và nhóm VI, không thích hợp cho tập san.
Khi phân tích lí do từ chối theo từng nhóm và nước (Bảng 3)
chúng ta thấy phần lớn (60%) bài báo bị từ chối là thuộc
vào nhóm I, tiếp đến là nhóm II (17%), nhóm III (7%), nhóm IV
(3.5%), nhóm V (8%), và nhóm VI (4.4%).
Phân tích lí do từ chối, chúng ta thấy rõ ràng có sự khác
biệt giữa các nước. Đối với những nước như Hàn Quốc,
Thổ Nhĩ Kì, Thụy Sĩ, Đài Loan, Ý, Ấn Độ, và Do Thái, lí do
từ chối lớn nhất ở các nước là nhóm I, tức thiếu cái
mới trong nghiên cứu. Nói cách khác, các nước này có xu
hướng làm những công trình nghiên cứu –nói theo tiếng Anh là
– "me too" (tức chỉ lặp lại những gì các nước khác đã
làm mà phương pháp, kết quả và cách diễn giải hoàn toàn
không có gì mới.
Điều đáng ngạc nhiên là trong số những bài báo từ Đức và
Áo bị từ chối, có đến 33-40% là do những sai sót về phương
pháp và lí luận! Riêng những nghiên cứu từ Trung Quốc thì
trong số bài báo bị từ chối, 52% là do thiếu cái mới, 17% do
vấn đề tiếng Anh, 14% là do khuyết điểm trong phương pháp
nghiên cứu là logic, và 6% do phân tích dữ liệu sai.
<h2>Vài nhận xét</h2>
Những dữ liệu trên đây cung cấp cho chúng ta một bức tranh
tương đối toàn diện về tình hình công bố quốc tế đối
với các nhà khoa học trong ngành y sinh học. Có thể tóm tắt
các dữ liệu trên đây qua 3 điểm chính như sau:
• trong tất cả các nguyên nhân từ chối công bố quốc tế,
gần 2/3 là do khuyết điểm trong khâu thiết kế nghiên cứu và
phương pháp nghiên cứu;
• những khuyết điểm này thường tập trung vào 2 khía cạnh
chính: thiếu cái mới và lí luận logic;
• bài bào từ Mĩ và các nước nói tiếng Anh có tỉ lệ từ
chối thấp hơn bài báo từ các nước không nói tiếng Anh;
Tuy nhiên, những phân tích trên đây cũng có vài hạn chế. Thứ
nhất là các dữ liệu được thu thập từ các tổng biên tập,
nhà khoa học và tập san trong lĩnh vực y sinh học; do đó có
thể chưa phản ảnh đúng tình trạng thực tế trong các lĩnh
vực khoa học khác như kĩ thuật, khoa học tự nhiên, khoa học
xã hội. Thứ hai là dữ liệu từ một tập san nhỏ (hay chỉ
có 25% nhà nghiên cứu trả lời) nên chắc chắn ngay cả trong
lĩnh vực y sinh học cũng chưa phản ảnh đúng thực trạng, dù
bức tranh chung thì chắc cũng khá đầy đủ.
Nếu những dữ liệu và phân tích trên đây cung cấp cho giới
khoa học, nhất là trong lĩnh vực y sinh học, vài kinh nghiệm,
tôi nghĩ đến những khía cạnh sau đây. Thứ nhất là khi có ý
tưởng làm nghiên cứu, cần phải chú trọng đến cái mới.
Cái mới ở đây không chỉ về ý tưởng, mà có thể là cái
mới về phương pháp nghiên cứu (dù ý tưởng không mới), cái
mới về kết quả và cách trình bày, và cái mới trong cách lí
giải kết quả nghiên cứu. Thiếu những cái mới này thì
nghiên cứu chỉ là một dạng "me too", tức chỉ hoàn toàn
bắt chước người khác từ A đến Z. Nếu là nghiên cứu "me
too" thì rất khó được chấp nhận cho công bố trên các tập
san có uy tín cao, hay dù có cơ hội được công bố thì tập san
cũng thuộc vào loại làng nhàng, dưới trung bình.
Thứ hai là cần chú trọng đến khâu thiết kế nghiên cứu và
phương pháp phân tích. Trong nghiên cứu thực nghiệm, thiết kế
và phương pháp đóng vai trò cực kì quan trọng. Thiết kế
nghiên cứu không thích hợp, thì dữ liệu có thể không có giá
trị khoa học cao, và không có cơ may công bố trên các tập san
có uy tín cao. Chẳng hạn như một công trình nghiên cứu y khoa
thiết kế theo mô hình có yếu tố thời gian và có nhóm chứng
lúc nào cũng có giá trị khoa học hơn là một công trình
"nghiên cứu cắt ngang" (cross-sectional study). Trong nghiên cứu
y học, phương pháp sai thì kết quả cũng sai hay không có giá
trị cao. Chẳng hạn như nếu nghiên cứu về bệnh tiểu
đường hay dinh dưỡng mà không có các đo lường về lượng
mỡ bằng phương pháp DXA thì dữ liệu khó mà xem là có giá
trị khoa học cao. Một nghiên cứu với thiết kế và phương
pháp chưa đạt thì xác suất bị từ chối rất cao.
Thứ ba là cần thạo tiếng Anh. Phần lớn các tập san quốc
tế, dù là tập san ở các nước Bắc Âu hay châu Á Thái Bình
Dương đều sử dụng tiếng Anh. Có thể nói không ngoa rằng
tiếng Anh đã trở thành một ngôn ngữ của cộng đồng khoa
học. Đối với các nhà khoa học Việt Nam, tiếng Anh là một
vấn đề lớn, vì phần lớn các nhà khoa học không thạo
tiếng Anh. Ngay cả những người có khả năng giao tiếp bằng
tiếng Anh, họ cũng rất khó viết nổi một bài báo khoa học.
Ngay cả những người viết được thì xác suất sai sót về cú
pháp, cách diễn đạt rất cao. Có thể nói không ngoa rằng
không một bài báo y khoa nào được công bố trên các tập san
ở trong nước viết đúng tiếng Anh! Nhưng như chúng ta thấy qua
các dữ liệu trên, tiếng Anh là một rào cản đáng kể (nhưng
không phải là rào cản duy nhất hay lớn nhất) đối với các
nhà khoa học ngoài các nước nói tiếng Anh. Do đó, chúng ta
cần phải đẩy mạnh việc trao dồi tiếng Anh trong giới khoa
học, và tổ chức nhiều khóa học về cách viết bài báo khoa
học bằng tiếng Anh. Tuy nhiên, tiếng Anh không phải là nguyên
nhân chính để từ chối một công trình nghiên cứu có chất
lượng cao. Ngược lại, tiếng Anh "văn hay chữ tốt" cũng
không thể bù đấp được những khiếm khuyết về cái mới và
phần thiết kế cũng như phương pháp nghiên cứu.
Đối với giới làm nghiên cứu khoa học, chuyện vui buồn trong
công bố công trình nghiên cứu xảy ra thường xuyên. Có nhiều
khi bài báo sau khi qua nhiều sửa đổi được chấp nhận cho
công bố, và dĩ nhiên đó là một tin mừng. Nếu tập san có
hệ số impact factor cao thì tác giả có khi tổ chức tiệc ăn
mừng. Mừng vì công trình của mình được công bố trên một
tập san lớn, và có cơ hội chia sẻ kinh nghiệm với đồng
nghiệp quốc tế. Nhưng hầu như bất cứ ai làm việc trong
nghiên cứu khoa học đều phải trải qua nhiều lần khi mà bài
báo nghiên cứu của mình bị tập san khoa học từ chối không
công bố. Đối với những nghiên cứu sinh lần đầu nhận
được lá thư của tổng biên tập thông báo cho biết bài báo
không được chấp nhận cho công bố là một bản tin sốc. Có
khi sốc đến cao độ. Có khi buồn chán. Trong bối cảnh buồn
chán đó, nhà khoa học có kinh nghiệm thường phải tỏ ra bình
tĩnh để xem xét lại nguyên nhân bài báo bị từ chối. Cần
phải biến sự việc tiêu cực (bị từ chối) thành một cơ
hội lí tưởng để tự vấn. Trong quá trình tự vấn này, một
số câu hỏi thông thường cần đặt ra:
• Tựa đề bài báo có phù hợp với dữ liệu nghiên cứu?
• Kết quả nghiên cứu có nhất quán với những lí giải trong
phần bàn luận?
• Có phải lí giải trong bài báo là lí giải duy nhất, hay còn
một lí giải, một cách diễn giải nào khác?
• Có cần thu thập thêm dữ liệu?
• Có cần một phương pháp phân tích khác tốt hơn?
• Kết quả có ý nghĩa thống kê và ý nghĩa thực tiễn?
• Kết quả nghiên cứu đã được trình bày một cách logic,
mạch lạc, và rõ ràng?
• Tiếng Anh đã trao chuốt chưa?
Trả lời được những câu hỏi tự vấn trên chắc chắn sẽ
có hiệu quả cải tiến bài báo một cách đáng kể. Cố nhiên,
khi bài báo bị từ chối thì điều đó không có nghĩa là công
trình chấm dứt ở đó, mà chúng ta vẫn có quyền khiếu nại,
hay trong nhiều trường hợp, chúng ta có thể chỉnh sửa và
nộp cho một tập san khác. Tuy nhiên, "biết người biết ta,
trăm trận trăm thắng", những lí do từ chối được mô tả
trong bài viết này là những kinh nghiệm quí báu để chúng ta
tự đánh giá và chuẩn bị cho nhiều nghiên cứu sau tốt hơn.
NVT
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/4322), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét