<center><img
src="https://www.danluan.org/files/u1/sub04/10698276_608402725935621_981379969_o.jpg"
width="600" height="436" alt="10698276_608402725935621_981379969_o.jpg"
/></center>
<center><em>Khi người công dân trưởng thành lên và không còn
quỳ gối, thì độc tài cũng chấm dứt và chúng ta có một xã
hội dân chủ thực sự.</em></center>
<i>Tiến lên xã hội dân chủ là xu hướng chung của nhân loại.
Nhưng, mức độ và tiến trình xây dựng xã hội dân chủ ở
các quốc gia lại khác nhau tùy vào điều kiện phát triển của
đất nước đó. Một vấn đề đặt ra là làm thế nào để
nâng cao tinh thần dân chủ của người công dân. Từ Montesquieu
của thời đại Khai sáng đã đặt ra vấn đề này nhưng hơn
hai thế kỷ rưỡi qua nó vẫn là vấn đề nan giải, nhất là
ở các nước đang giai đoạn đầu bắt tay vào xây dựng nền
dân chủ.</i>
<b>Từ Thần dân đến Công dân</b>
Con người, thoát khỏi giới động vật không phải thành con
người đúng nghĩa ngay được mà phải trải qua một quá trình
tiến hoá liên tục. Khi xã hội loài người hình thành cũng
là thời điểm con người xuất hiện với tư cách là con
người sơ khai. Nhà nước xuất hiện và con người chính trị
cũng xuất hiện. Từ đó, con người dần hình thành và phát
triển các thể năng khác nhau để hoàn thiện thành Người như
trong xã hội dân chủ hiện đại.
Thể năng có thể hiểu là năng lực thể hiện bản thân, thể
hiện cái cá nhân của con người xã hội. Từ trong lịch sử
hình thành dân tộc và nhà nước, con người Việt Nam cũng
trải qua những thể năng khác nhau trong xã hội từ Thần dân
đến Công dân. Có thể nói, đó là một quá trình tiến hoá
lâu dài để hình thành con người Công dân. Từ xã hội phong
kiến trở về trước, con người Việt Nam (trong cái chung của
các nước phương Đông) là con người Thần dân. Khi xã hội
dân chủ xuất hiện ở Việt Nam thì con người Công dân cũng
được hình thành.
Thần dân là con người quy phục, trước hết là quy phục tự
nhiên. Mọi sinh hoạt trong xã hội truyền thống đều thể
hiện rõ sự quy phục tự nhiên của con người. Tiếp theo là
sự quy phục con người, quy phục Vua, quan. Nói chung, là Thần
dân nên con người không tồn tại một cách đúng nghĩa mà
phải sống dưới lốt của cộng đồng, nương nhờ vào lòng
thương cảm của thần thánh và Vua. Như Trần Đình Hượu phân
tích: "Xưa kia người nông dân không có gì cả: thân thể của
cha mẹ, tấc đất của cải thì của làng, của nước, của
vua, số phận thì do mệnh trời… muốn tồn tại phải dựa
vào làng, vào cộng đồng để xin lòng thương của mọi
người, ngõ hầu xà xẻo chút gì đó của cộng đồng mà
sống" [1].
Đặc tính của Thần dân là <b>chấp nhận sự an phận</b>và
<b>chờ mong sự bố thí</b>. Hai đặc tính này ăn sâu vào tâm
thức của người Việt từ thưở sơ khai cho đến khi họ
được coi là Công dân thì vẫn chưa thoái bỏ được hết.
Thần dân thực sự thức tỉnh cùng với sự tan rã của chế
độ phong kiến. Đó là một hệ quả tất yếu của quá trình
vận động và phát triển của nhân loại. <b>Con người, từ
Thần dân đến Công dân là quá trình nhận thức về tự do, là
kết quả của cuộc đấu tranh đòi tự do</b>.
Ở Việt Nam, quá trình từ con người Thần dân đến con người
Công dân còn mang một nét khác biệt là tồn tại một giai
đoạn trung chuyển ngắn vào đầu thế kỷ XX với sự xâm
lược của Thực dân Pháp và hình thành một con người mà như
Trần Đình Hượu gọi là con người Quốc dân: "Đầu thế
kỷ XX, chúng ta mới có người quốc dân chứ chưa phải người
công dân. Quan hệ của chúng ta mới dừng lại ở quan hệ cha
chú, anh em chứ chưa có quan hệ có tính nhà nước, nghĩa là
chưa có con người độc lập" [2]. Quốc dân khác Thần dân là
họ không an phận thủ thường, không quy phục một cách gần
như triệt để vào thần quyền mà đã có niềm tin vào bản
thân, vào sự tranh đấu của con người. Nhưng họ cũng chưa ý
thức được về bản thân của mỗi một con người cá nhân hay
con người độc lập để thành con người như tự nhiên nó
vốn có với đầy đủ quyền của tạo hóa ban cho, hay nhân
quyền. Việc hình thành Quốc dân đầu thế kỷ XX bên cạnh
sự phát triển về nhận thức của người Việt, về phát
triển khoa học kỹ thuật, cũng thể hiện sự ảnh hưởng rất
lớn từ văn hóa phương Tây mà đặc biệt là văn hóa Pháp.
Cùng lúc đó, chế độ phong kiến tàn lụi, thần không còn
quyền, vương cũng không còn quyền. Nhưng dân quyền và nhân
quyền chưa xuất hiện.
Cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 đã đưa lịch sử Việt Nam sang
một trang mới: Đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng
chủ nghĩa xã hội. Cuộc cách mạng cũng đưa con người đến
một thể năng khác là con người Công dân. Con người Công dân
xuất hiện đầu tiên trong lịch sử Việt Nam với cuộc phổ
thông đầu phiếu năm 1946 bầu cử Quốc hội khóa I của nhà
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuy nhiên, trải qua hơn nửa
thế kỷ, con người Công dân ở Việt Nam vẫn đang lửng lơ
giữa một mức độ chưa đạt đến sự hoàn thiện. Điều này
cũng thể hiện một chế độ dân chủ chưa được xây dựng
đầy đủ ở Việt Nam.
Con người Công dân gắn liền với xã hội dân chủ. Xã hội
dân chủ, như Nguyễn Trần Bạt định nghĩa "Là sự tôn
trọng các quyền của cá nhân, là sự nhận thức được các
quyền ấy của cá nhân và cấu trúc nó thành ra các quyền pháp
định" [3]. Theo đó, chúng ta không ngạc nhiên khi nói rằng
chúng ta chưa phải là những con người Công dân thực thụ, hay
công dân chuyên nghiệp của xã hội dân chủ. Vấn đề này nên
xem xét từ hai phía nhà nước và người dân. Nhà nước đã
thực sự tôn trọng các quyền của người dân, các quyền cá
nhân của con người, đã thực sự tôn trọng nhân quyền hay
chưa? Và về phía người dân, nhận thức về các quyền của
cá nhân, của bản thân mình, của con người đến mức độ
nào? Muốn cấu trúc các quyền cơ bản của con người con
người Công dân thành các quyền pháp định thì nhận thức
của người dân về vấn đề này phải đầy đủ và phải
được tiến hành khi một nhà nước dân chủ thực sự được
hình thành. Như xậy, xã hội dân chủ là một yếu tố cơ sở
đề hình thành con người Công dân.
Con người Công dân gắn với nhận thức về nhân quyền. Nhân
quyền là quyền con người. "Quyền con người không phải là
các quyền chính trị đơn giản, quyền con người là nâng cao
tính hiệu lực làm người, nâng cao mật độ hạnh phúc của
đời sống con người" [4]. Nói như vậy thì nhân quyền không
phải là một vấn đề đơn giản mà ở mọi trình độ xã
hội và trình độ con người đều nhận thức được. Hay nói
cách khác, để nhận thức được về nhân quyền cần có thời
gian và hội đủ điều kiện của xã hội. Tức là xã hội và
con người phải phát triển đến một mức độ nhất định
thì mới nhận thức được về nhân quyền. "Những xã hội
lạc hậu chừng nào còn chưa hiểu được giá trị của nhân
quyền thì cả nhà chính trị và người dân của họ đều
không thể có được cảm hứng. Nếu chỉ coi dân quyền là
đủ, mà tầm thường hóa hay không cần đến nhân quyền thì
con người không bao giờ vươn tới được trạng thái Người
vì không có đủ cảm hứng để phát triển" [5].
<b>Tinh thần dân chủ và tinh thần công dân</b>
Montesqiueu (1689 - 1755) - một học giả của thời đại Khai sáng
đã lập luận rằng: "Điều tôi nói về phẩm hạnh trong
nước cộng hòa chính là tình yêu tổ quốc, cũng tức là tình
yêu đối với sự bình đẳng. Đó không phải là phẩm hạnh
của sự luân lý, cũng không phải phẩm hạnh của Thiên chúa
giáo, mà là phẩm hạnh chính trị. Phẩm hạnh chính trị là
động cơ thúc đẩy hoạt động của chính thể cộng hòa, cũng
như danh dự là động cơ thúc đẩy chính thể quân chủ. Vì
vậy tôi gọi phẩm hạnh chính trị là tình yêu tổ quốc và
tình yêu bình đẳng" [6]. Lúc đó, nhà hiền triết của thời
đại Khai sáng Pháp chưa thể khái luận về tinh thần dân chủ,
nhưng ông đã đề cập được một vấn đề quan trọng mà ông
gọi là phẩm hạnh. Phẩm hạnh, như Montesquieu thì đó là tình
yêu Tổ quốc và tình yêu bình đẳng. Như vậy, nếu nói tinh
thần dân chủ là phẩm hạnh chính trị thì quá đơn giản hóa
tinh thần dân chủ. Bởi tình yêu Tổ quốc và tình yêu bình
đẳng gắn liền với con người từ rất sớm trong lịch sử
chứ không phải đến thời Khai sáng mới xuất hiện.
Từ khái niệm phẩm hạnh như trên, Montesquieu đã dẫn dắt
đến một khái niệm khác rất quan trọng khác là Đạo đức
dân chủ. Tinh thần dân chủ là sự thể hiện đạo đức dân
chủ của con người đối với xã hội và đối với chính họ.
Không chỉ những người dân thường mà cả nhà lãnh đạo
đều phải có tinh thần dân chủ. Hay nói cách khác, <b>Tinh
thần dân chủ là nhận thức về các quyền con người, nhận
thức về việc thực hành các quyền con người của người
Công dân trong xã hội dân chủ. </b>Và Tinh thần dân chủ cũng
là yếu tố đảm bảo để xây dựng và thực hành nền dân
chủ. Điều đó đòi hỏi con người phải xây dựng đạo đức
dân chủ cho chính mình.
Luận bàn vai trò của đạo đức dân chủ, Montesquieu phân
tích: "Một khi đạo đức của nền dân chủ đã mất, tính
tham lam lọt vào các trái tim, cái hư hỏng lồng vào tất cả
mọi ngóc ngách của xã hội. Các ước vọng bị đổi mục
tiêu: cái người ta vốn yêu thì người ta không yêu nữa,
người ta thấy mình vẫn tự do, nhưng tự do làm trái pháp
luật. Mỗi công dân giống như một một nô lệ trốn khỏi nhà
chủ nô. Điều trước đây được coi là kỷ cương thì nay
người ta coi là hà khắc. Cái trước đây được coi là luật
thì nay họ coi là phiền nhiễu. Điều đáng lưu ý người ta coi
là đáng sợ. Cách sống thanh đạm bị coi là thói hà tiện.
Trước kia, tài sản của mọi công dân được coi như một
phần của sự giàu có của quốc gia, thì nay kho tàng chung bị
coi như sở hữu tư nhân. Nước cộng hòa chỉ là cái túi cho
người ta bòn rút, và sức mạnh quốc gia chỉ còn là quyền
lực của một vài công dân, là nơi phá rối của mọi
người" [7]. Hiện nay, nhiều ý kiến trong phân tích này đã
được nhân loại vượt qua, vậy nên cần phải xem xét kỹ và
tiếp thu chọn lọc bởi xã hội dân chủ hiện nay cũng khác
với khát vọng của Montesquieu thế kỷ XIX.
Từ tinh thần dân chủ, con người Công dân tiến tới xây dựng
tinh thần Công dân. Như vậy, <b>tinh thần Công dân là sự thể
hiện, sự thực hành tinh thần dân chủ, đạo đức dân chủ
trong xã hội dân chủ</b>. Để có tinh thần công dân, người
Công dân phải nhận thức được tinh thần dân chủ và phải
tự xây dựng đạo đức dân chủ cho bản thân và góp phần
xây dựng đạo đức dân chủ trong xã hội.
Tinh thần Công dân gắn liền với tự do. Tự do để nhận
thức và thực hành tinh thần Công dân. Tự do làm cho con người
chủ động. Tính chủ động của con người là một dấu hiệu
của tinh thần Công dân. Xã hội dân chủ càng phát triển thì
tinh thần Công dân càng được đẩy mạnh và tính chủ động
của con người càng được nẩy nở, bồi đắp và vun cao.
Muốn được như vậy, phải đảm bảo sự tự do và nhận
thức về sự tự do cho con người.
Xây dựng nền dân chủ là đi đúng hướng phát triển của
nhân loại. Nếu một quốc gia có xu hướng phát triển xã hội
phi dân chủ, phản dân chủ thì điều đó có nghĩa là đi
ngược sự phát triển và sẽ có nguy cơ bị diệt vong. Để
xây dựng xã hội dân chủ vững mạnh, cần phải nâng cao tinh
thần Công dân cho con người. Như đã phân tích trên đây, tinh
thần Công dân phụ thuộc nhiều vào sự phát triển của nền
dân chủ, vào trình độ nhận thức của con người và nhiều
điều kiện khác. Không phải mọi con người khi trở thành công
dân đều có thể thực hành tinh thần dân chủ hay là phát huy
tinh thần Công dân được ngay. Họ cũng cần phải được dạy
học để thể hiện tinh thần công dân và trở thành công dân
đúng nghĩa trong xã hội dân chủ. Trong xã hội dân chủ hiện
đại, yêu cầu về tinh thần Công dân lên cao hơn và nó cũng
không thể biểu hiện dưới dạng bản năng, cảm giác. Tinh
thần công dân cần được biểu hiện thường xuyên, hàng ngày,
có hệ thống. Giáo dục tinh thần Công dân là tổ chức hướng
dẫn và thực hành về tinh thần công dân. Đất nước càng
phát triển thì vấn đề giáo dục tinh thần công dân phải
được đặt lên cao. Và để phát triển đất nước, cần
phải "Rèn luyện năng lực làm chủ của người dân chính là
nâng cao năng lực hiểu các quyền cơ bản và biến các quyền
cơ bản không chỉ trở thành kiến thức mà còn trở thành khát
vọng của mình". [Nguyễn Trần Bạt, 2008: 389].
Tóm lại, tinh thần công dân là một vấn đề quan trọng. Nếu
nhận thức đầy đủ về tinh thần công dân và giáo dục tinh
thần công dân thay vì xâm phạm, hạn chế tinh thần công dân
thì xã hội dân chủ sẽ được xây dựng vững mạnh. Lúc đó,
con người sẽ trở thành con Người thật sự với đầy đủ
quyền, nghĩa vụ và không ngừng được nâng cao năng lực làm
người, làm công dân./.
<i>Tác giả gửi Quê Choa</i>
_______________________
[1] Trần Đình Hượu. 2007. <b><i>Các bài giảng về tư tưởng
phương Đông</i></b> (Lại Nguyên Ân biên soạn). Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội. Trang 295.
[2] Trần Đình Hượu. 2007. <b><i>Các bài giảng về tư tưởng
phương Đông</i></b> (Lại Nguyên Ân biên soạn). Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội. Trang 295.
[3] Nguyễn Trần Bạt. 2006. <b><i>Văn hóa và Con người</i></b>.
Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội. Trang 207.
[4] Nguyễn Trần Bạt. 2008. <b><i>Cội nguồn cảm hứng</i></b>.
Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội. Trang 391.
[5] Nguyễn Trần Bạt. 2008. <b><i>Cội nguồn cảm hứng</i></b>.
Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội. Trang 28.
[6] Montesquieu. 1874. <b><i>De L'esprit des lois (Tinh thần pháp
luật).</i></b> Bản dịch của Hoàng Thanh Đạm (1996). Nxb Giáo
dục và Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, khoa
Luật, Hà Nội. Trang 37.
[7] Montesquieu. 1874. <b><i>De L'esprit des lois (Tinh thần pháp
luật).</i></b> Bản dịch của Hoàng Thanh Đạm (1996). Nxb Giáo
dục và Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, khoa
Luật, Hà Nội. Trang 55.
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://www.danluan.org/tin-tuc/20140904/bui-minh-hao-tan-man-ve-tinh-than-cong-dan-trong-xa-hoi-dan-chu),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét