Andrew Wells-Dang - Không gian xã hội dân sự ở Việt Nam đang mở rộng?

<div class="boxleft300"><img
src="http://www.danluan.org/files/u5219/highlight.jpg" width="600"
height="400" alt="highlight.jpg" /><div class="textholder">Chiến dịch
VietPride của Tổ chức Isee: Nâng cao
nhận thức cộng đồng về quyền bình đẳng của những
người đồng giới, chuyển giới và song giới, HN,
2014</div></div>"Khoa học", như Plato nói, "chẳng qua chỉ là
ý niệm". Điều mà chúng ta nghĩ là đúng có thể không phải
lúc nào cũng đúng, song trong chính trị, kinh tế học…, ý
niệm có vai trò rất lớn. Trong bốn tháng qua, tôi đã gặp gỡ
và trao đổi với rất nhiều chuyên gia và nhà hoạt động với
nhiều quan điểm khác nhau về ý nghĩa và đường hướng phát
triển của xã hội dân sự ở Việt Nam. Không gian xã hội dân
sự ở Việt Nam<sup >1</sup> đang mở rộng ra, thu hẹp lại, hay
vẫn dậm chân tại chỗ? Làm sao để biết được điều
đó?</h3> Bài viết này là một cố gắng ban đầu trong việc
đánh giá xã hội dân sự ở Việt Nam.

<b>Một quan điểm đồng nhất?</b>

Hầu hết các nhà quan sát đều nhất trí rằng không gian xã
hội dân sự (XHDS) ở Việt Nam đang mở rộng, ít ra là ở một
vài khía cạnh. Dưới đây là một số minh chứng cho nhận
định đó:

1. Số lượng <b>các tổ chức xã hội có đăng ký hoạt
động</b>đang gia tăng. Theo một khảo sát thực hiện năm 2000,
có 322 tổ chức có trụ sở chính ở Hà Nội và TP HCM; năm
2005, có 800 tổ chức khoa học và công nghệ đăng ký thành
lập. Năm 2010, ước tính Việt Nam có khoảng 1.700 tổ chức phi
chính phủ (NGO), trong đó 600 tổ chức đăng ký dưới sự bảo
trợ của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật
(VUSTA)<sup>2</sup>. Các tổ chức NGO khác thì đăng ký dưới sự
bảo trợ của các tổ chức khác như Liên hiệp các Hội Khoa
học và Kỹ thuật các tỉnh, các trường đại học và các
viện nghiên cứu... Bên cạnh đó, số lượng các hiệp hội
chính trị-xã hội và các hiệp hội nghề nghiệp - còn được
gọi là các "tổ chức phi chính phủ nhà nước" - cũng đang
gia tăng nhanh chóng. Đáng chú ý là, sự phát triển này đã và
đang diễn ra trong khi Luật về Hội mới chưa ban hành, và cũng
không có sự thay đổi đáng kể nào về khung pháp lý.

2. Việc đo lường <b>chất lượng </b>hoạt động của các tổ
chức xã hội khó thực hiện hơn. Tuy vậy, chúng ta vẫn có
thể khẳng định rằng cả chất lượng và kết quả hoạt
động của các tổ chức này đều đang phát triển, nếu nhìn
vào những con số ngày càng lớn về số lượng các tổ chức,
số lượng thành viên, người tham gia, người thụ hưởng, và
sự phong phú đa dạng của các lĩnh vực mà các tổ chức này
hoạt động. Bên cạnh những lĩnh vực truyền thống như xóa
đói giảm nghèo, y tế, và giáo dục, các tổ chức xã hội bây
giờ cũng ngày một chủ động tham gia vào các hoạt động bảo
vệ môi trường, kiểm soát tham nhũng, và vận động chính
sách; trong các hội nhóm dành cho người khuyết tật, người
đang sống chung với HIV, các nhóm đồng tính/chuyển đổi giới
tính, có nhiều nhóm còn có thâm niên hoạt động tới 5 - 10
năm. Tuy vậy, vẫn còn cần thêm nhiều bằng chứng nữa để
chứng minh cho chất lượng hoạt động của các tổ chức xã
hội.

3. Song song với đó là sự phát triển mạnh mẽ của các nhà
hoạt động xã hội và <b>các hoạt động xã hội phi chính
thức</b>, bao gồm các nhóm sinh viên tình nguyện, các hội và
các quán cà phê dành cho nghệ sĩ, doanh nhân trẻ, và các nhóm
học tập khác, chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn. Theo
nhận xét của một người tham gia/nhà quan sát, các nhóm phi
chính thức này "có thể thậm chí còn linh động, dễ thay
đổi, và thú vị hơn cả các tổ chức NGO truyền thống",
bởi đa số đều hoạt động trên cơ sở tình nguyện, không
có nhân viên, văn phòng thường trực, hay được tài trợ.
Hoạt động của họ hướng tới các mục tiêu từ thiện, văn
hóa, và môi trường, trong đó giới trẻ tham gia rất đông, tuy
rằng nhóm người trung tuổi và cao niên cũng tham gia cùng. Hiện
vẫn chưa có con số ước tính nào về số lượng của các
hoạt động phi chính thức như vậy.

4. Việc sử dụng <b>Internet và các kênh truyền thông </b>xã
hội cũng đã và đang làm thay đổi bối cảnh giao tiếp xã
hội. Ngày càng có nhiều người tương tác trực tuyến hơn:
tỉ lệ sử dụng Internet ở Việt Nam là 43%, cao nhất Đông Nam
Á <sup>3</sup>. Một số người sử dụng web cũng tích cực tìm
kiếm các kênh thông tin trước đây chưa phổ biến; một số
khác lấy công nghệ làm phương tiện phát tán các suy nghĩ/
trải nghiệm của mình lên blog và các bài viết trên mạng xã
hội; theo các nguồn tin của chính phủ, Việt Nam hiện có ba
triệu blogger<sup>4</sup>. Kết quả là, những thảo luận về
chính sách từng chỉ được lưu hành trong môi trường khép kín
thì nay đã được đưa ra bàn luận công khai.

5. <b>Sự tham gia và mối quan tâm của công dân đối với các
sự kiện chính trị</b>đang ở mức cao và đang trên đà phát
triển - một minh chứng rõ nét là những tranh cãi gần đây và
mật độ đưa tin của giới truyền thông về những diễn biến
trên Biển Đông. Việc sửa đổi Luật Đất đai và Hiến pháp
trong năm 2013 đã đem đến một cơ hội hiếm có để người
dân được công khai thảo luận về quá trình soạn thảo. Trong
các "không gian được chào mời" này, Chính phủ đã cải
thiện đáng kể quá trình tư vấn, cung cấp thêm nhiều thông
tin và kéo dài thời gian tham gia đóng góp ý kiến của người
dân hơn so với trước đây. Hoạt động tham gia đóng góp ý
kiến cũng đang diễn ra đối với một số luật và chính sách
khác đang trong quá trình sửa đổi. Rõ ràng, sau đợt cải cách
Hiến pháp, rất nhiều đạo luật liên quan đến quyền tự do
công dân, trong đó có Luật về Hội, Luật Tiếp cận thông tin,
và Luật Biểu tình, đã chính thức có tên trong chương trình
nghị sự của Quốc hội trong giai đoạn 2014 - 2015 sau nhiều
năm trì hoãn.

<b>…Hay một trường hợp còn chưa chắc chắn?</b>

Trong khi các nhà quan sát nhận thấy những dấu hiệu thay đổi
tích cực ở nhiều khía cạnh của không gian XHDS, thì một số
khía cạnh lại tỏ ra ít, thậm chí không hề thay đổi. Chẳng
hạn:

6. <b>Quan điểm của người dân về các tổ chức xã hội
</b>đang ở mức trung lập hoặc tiêu cực. Một nghiên cứu do
Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường, một NGO trong
nước, thực hiện năm 2014 cho thấy 75% số người tham gia
phỏng vấn nói họ chưa từng nghe nói đến NGO, và cũng có
tới 75% số người cho rằng các hoạt động từ thiện chủ
yếu là do các cơ quan chính phủ thực hiện. Một nghiên cứu
khác tìm hiểu về đánh giá của các doanh nghiệp đối với
các tổ chức NGO kết luận, phần lớn các doanh nghiệp Việt
Nam đều cho rằng các tổ chức xã hội là các tình nguyện
viên không chuyên nghiệp, và họ không đóng vai trò quan trọng
trong sự phát triển của đất nước.<sup>5</sup>

7. <b>Các quan điểm chính thức</b>về XHDS hiện vẫn chưa rõ
ràng. Thuật ngữ "XHDS" chỉ xuất hiện nhỏ giọt trên
truyền thông và các tạp chí học thuật, trong khi đó các văn
kiện của Đảng và Chính phủ chỉ đề cập tới "các tổ
chức xã hội" và "nhân dân". Đây đó trong các ấn phẩm,
chúng ta vẫn có thể bắt gặp những quan điểm rằng XHDS là
một phần âm mưu của nước ngoài nhằm làm bất ổn tình hình
tại Việt Nam, dù giới học thuật nhấn mạnh sự chính đáng
của việc sử dụng thuật ngữ này ở Việt Nam và tính liên
kết mật thiết của nó với Chủ nghĩa Mác.<sup>6</sup> Ngay cả
khi các lãnh đạo đề cập thuật ngữ "XHDS" thì nó cũng có
nhiều lớp nghĩa, phù hợp với định nghĩa của Antonio Gramsci
[chính trị gia và nhà lý thuyết chính trị người Ý, một trong
những thành viên sáng lập Đảng Cộng sản Ý] về "khu vực
gây tranh cãi".

<b>Các chỉ số quốc tế về không gian XHDS</b>

Nhiều phương pháp đã được đưa ra để xác định và đo
lường không gian XHDS ở các quốc gia (Hình 1), trong đó có
những phương pháp chỉ thiên về cách đo <b>định lượng</b>,
tức là tập trung vào số lượng và loại hình của các tổ
chức hiện hành tại một quốc gia, hoặc đưa ra chỉ số của
nhiều thuộc tính khác nhau được xếp theo thứ tự. Việc tính
toán số lượng các tổ chức có thể là một chỉ số hữu
ích giúp đo lường sự thay đổi theo thời gian, song lại không
thể hiện được nhiều về chất lượng hay kết quả hoạt
động của các tổ chức này, và bỏ qua hầu hết những hình
thức và không gian khác nhau mà XHDS hoạt động. Phương pháp đo
đa chiều hiện đang được ưu ái hơn, song giá trị của nó
phụ thuộc vào thiết kế đo lường và sự khách quan tương
đối của những người thực hiện. Thông thường, các cuộc
đánh giá sẽ do các hội đồng chuyên gia thực hiện (chẳng
hạn như Chỉ số Xã hội dân sự của Liên minh thế giới vì
sự Tham gia của công dân CIVICUS) hoặc thông qua các cuộc điều
tra về một phần hay toàn bộ dân số (chẳng hạn như Chỉ số
Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI và Chỉ số Hiệu quả Quản
trị và Hành chính công cấp tỉnh PAPI ở Việt Nam, hai chỉ số
đo lường các khía cạnh quản lý có mối quan hệ gián tiếp
tới các vấn đề của XHDS).

<center><img
src="http://www.vanhoanghean.com.vn/images/clip_image00220copy.jpg"
></center>
<center><i>Hình 1. Các phương pháp đánh giá về không gian XHDS
trên thế giới </i></center>

Cũng có những phương pháp miêu tả một cách định tính về
không gian XHDS. Một số chính phủ, viện nghiên cứu, và các
tổ chức NGO quốc tế công bố các báo cáo thường niên hoặc
không thường xuyên về những vấn đề liên quan đến quản
lý, phát triển con người, và nhân quyền với nội dung miêu
tả, thiên về phân tích. Các học giả xuất bản các công
trình khảo cứu chuyên sâu nhằm so sánh giữa các quốc gia với
nhau hoặc miêu tả sự thay đổi theo thời gian ở một quốc gia
cụ thể. Các nghiên cứu định tính như các phân tích về kinh
tế-chính trị thường cụ thể và chi tiết chứ không đưa ra
các chỉ số hay các bảng xếp hạng số học. Phạm vi của các
nghiên cứu này chỉ giới hạn ở các trường hợp hoặc các
quốc gia được điều tra, nên khó mà đưa ra những so sánh mang
tính toàn cầu. Tuy nhiên, bản thân nhiều chỉ số định
lượng toàn cầu lại quá rộng lớn, nên khó nắm bắt được
những chi tiết và những thay đổi theo tình hình ở mỗi quốc
gia.<sup>7 </sup>

Nỗ lực quốc tế nổi tiếng nhất là <b>Chỉ số Xã hội dân
sự</b>(CSI) do CIVICUS ở Việt Nam và 52 quốc gia khác thực hiện
trong giai đoạn 2001-2011.<sup>8</sup> Chỉ số này được xây
dựng dựa trên bốn khía cạnh lớn của XHDS: cấu trúc, môi
trường bên ngoài, các giá trị, và ảnh hưởng - các khía
cạnh này được minh họa theo hình kim cương (Hình 2). Trong số
đó, khía cạnh môi trường bên ngoài có mối liên hệ trực
tiếp nhất đến không gian XHDS, tương tự như một số yếu
tố của khía cạnh cấu trúc.

Chỉ số CSI Việt Nam do một nhóm các chuyên gia trong nước và
quốc tế thực hiện với sự hỗ trợ của Trung tâm nghiên
cứu Phát triển hỗ trợ cộng đồng (CECODES) hiện vẫn là
nghiên cứu hoàn bị nhất về XHDS tại Việt Nam tính cho tới
giờ. Theo đó, nghiên cứu này kết luận rằng Việt Nam có
điểm số trung bình về mặt cấu trúc và các giá trị, điểm
số về môi trường hoạt động kém hơn, còn điểm số tác
động thì thấp. Nhóm nghiên cứu chỉ số CSI cũng đưa rất
nhiều các tổ chức quần chúng vào phạm vi XHDS - và họ thừa
nhận rằng nếu không tính đến những tổ chức này thì điểm
số sẽ còn thấp hơn nữa.<sup>9</sup> Sau nghiên cứu đó, hiện
vẫn chưa có nghiên cứu lặp lại tiếp theo vì những hạn chế
về nguồn lực, và bản thân CIVICUS cũng chuyển sang sử dụng
các phương pháp đánh giá năng lực XHDS toàn cầu khác. Xuất
phát từ những phân tích về sự mở rộng của (một số)
không gian XHDS, có thể đi đến giả thiết rằng, năm 2014,
Việt Nam có điểm số cao hơn ở một số khía cạnh, đặc
biệt là Các giá trị và Tác động.

<center><img src="http://www.vanhoanghean.com.vn/images/h220copy.jpg"
></center>
<center><i>Hình 2. Kết quả nghiên cứu Chỉ số XHDS ở Việt Nam
(2006) </i></center>

Sau năm 2011, CIVICUS thay chỉ số CSI bằng <b>"Chỉ số môi
trường thuận lợi</b>" tập trung trực tiếp hơn vào các khía
cạnh liên quan đến không gian XHDS. Theo định nghĩa của họ,
"môi trường XHDS là các điều kiện mà trong đó XHDS hoạt
động… được hình thành từ các lực lượng định hình và
ảnh hưởng tới quy mô, phạm vi, và việc vận hành của
XHDS"<sup>10</sup>. Các điều kiện này bao gồm tình trạng quản
lý nội bộ và tính minh bạch của các tổ chức XHDS, mối quan
hệ và các mạng lưới giữa các nhóm XHDS và các cá nhân, khung
pháp lý do nhà nước ban hành, bối cảnh chính trị, thái độ
công chúng, và các nguồn lực. Sau đó, các khía cạnh này
được đưa vào các nhóm kinh tế - xã hội, văn hóa - xã hội,
và quản trị nhà nước, trong đó quản trị nhà nước đóng
vai trò quan trọng nhất.<sup>11</sup> Chỉ số môi trường thuận
lợi cũng sử dụng nhiều dữ liệu thứ cấp, chẳng hạn như
các chỉ số quản trị nhà nước của Ngân hàng Thế giới,
Khảo sát ý kiến công luận về các giá trị thế giới, và
các báo cáo của các viện nghiên cứu chính trị như Freedom
House, một think tank có trụ sở ở Mỹ. Năm 2013, Việt Nam
được điểm số cao ở mục "kinh tế - xã hội", trong khi
điểm "văn hóa - xã hội" dưới trung bình, vànằm trong top 5
quốc gia cuối bảng về "quản trị nhà nước".

Nếu như cả hai chỉ số CSI năm 2006 và Chỉ số Môi trường
thuận lợi năm 2013 - kết quả đánh giá độc lập do cùng một
tổ chức thực hiện – được chấp nhận như các giá trị sơ
bộ, thì môi trường hoạt động cho XHDS ở Việt Nam rõ ràng
đang xấu đi trong khoảng thời gian bảy năm xen giữa hai cuộc
nghiên cứu trên. Đây chính xác là điểm đối lập với quan
điểm chung của nhiều nhà hoạt động Việt Nam như đã đề
cập trong bài viết này ở trên. Một cách lý giải là nhóm
nghiên cứu CSI năm 2006 đã đánh giá quá cao sức mạnh của XHDS
ở Việt Nam tại thời điểm đó: giả thiết này có thể xảy
ra ở góc độ nào đó, song việc tính điểm đã được các
chuyên gia quốc tế giám sát và tuân theo các chuẩn toàn cầu.
Kết quả trên thực tế, các chỉ số này chỉ ở mức từ
thấp tới trung bình, và không được tán thành rộng rãi.
Ngược lại, chỉ số năm 2013 lại được thực hiện hoàn toàn
bởi người nước ngoài và dựa trên các dữ liệu thứ cấp,
một số trong đó có thể bị coi là thiên kiến đối với các
cơ chế chính trị độc đảng.<sup>12</sup> Các tiêu chí do
CIVICUS và các chỉ số quốc tế khác sử dụng thường bao hàm
quá nhiều chủ đề thuộc phạm vi bối cảnh xã hội và chính
trị chung, không hướng cụ thể đến XHDS, và có sự lẫn lộn
giữa không gian XHDS với không gian chính trị nói chung.

<b>Hướng tới một khung thay thế cho Việt Nam</b>

Dựa vào những phân tích trên về các xu hướng trong nước và
quốc tế, chúng ta có thể xây dựng một khung nghiên cứu linh
động hơn về không gian XHDS ở Việt Nam, vẫn tận dụng
được thế mạnh của các chỉ số quốc tế trong khi tránh
được xu hướng đơn giản hóa quá mức và thiên kiến. Các
thành tố cơ bản trong khung đó sẽ bao gồm những thay đổi
về<b>quy mô, thành phần, và tầm ảnh hưởng. </b>

Một khung đo lường như vậy cần được xây dựng dựa trên
các nguyên tắc sau:

• Phải được bạch hóa và sẵn sàng tiếp nhận các ý kiến
đóng góp để cải thiện.

• Phải tham chiếu tới một số yếu tố tiêu chí quốc tế
phù hợp cho mọi bối cảnh, và bổ sung những tiêu chí mới
phù hợp với bối cảnh Việt Nam.

• Kết hợp cả các phân tích định tính và định lượng,
vì việc sử dụng cả hai phương pháp này sẽ mang lại nhiều
cách đánh giá hơn đối với không gian XHDS. Thay vì chỉ dùng
một chỉ số, việc kết hợp nhiều chỉ số có thể đưa ra
bằng chứng, xu hướng, và phạm vi thay đổi trong một giai
đoạn cụ thể.

• Cần phải coi ý kiến của các nhà hoạt động trong nước,
bao gồm cả các chuyên gia và công chúng nói chung (càng đa dạng
về khu vực, dân tộc, và giới tính càng tốt) là một nguồn
thông tin quan trọng, vì các nhà hoạt động trong nước hiểu
rõ hơn ai hết về bản chất và các giới hạn của không gian
mà họ hoạt động trong đó.

• Bên cạnh các luật và thiết chế chính thống, khung đo
lường này cũng phải cân nhắc vai trò của các định chế và
hệ thống phi chính thức, vốn nằm ngoài mọi chỉ số quốc
tế hiện hành.

• Trọng tâm của khung này phải là đánh giá những thay đổi
tại Việt Nam theo thời gian, chứ không sa đà vào so sánh Việt
Nam với các quốc gia khác.

Công cụ đánh giá không gian XHDS tại Việt Nam phải được cô
đọng để tránh gây phức tạp và khó khăn khi sử dụng. Sau
khi thiết kế xong, một nhóm chuyên gia đại diện có thể thực
hiện đánh giá hằng năm dựa trên các chỉ số định tính và
định lượng cho từng thành tố như đã nói đến ở trên.

Mặc dù định nghĩa và các phương pháp tìm hiểu về XHDS rất
đa dạng, và có thể còn tiếp tục có thêm nhiều định nghĩa
và phương pháp mới ra đời trong các năm tới, song kinh nghiệm
tại Việt Nam và trên thế giới đã chứng minh rằng các khái
niệm về XHDS và không gian XHDS đều phù hợp với Việt Nam, và
có thể đánh giá sự thay đổi của không gian này theo thời
gian. Những thay đổi đó, tương tự như các thay đổi xã hội
khác, không nhất thiết phải nhất quán với nhau, có thể đảo
ngược hoặc tăng tốc bởi các thay đổi đột biến hay các xu
hướng bên ngoài ở cả cấp độ trong nước và quốc tế.
Chẳng hạn, các công trình nghiên cứu đã chỉ ra, thiên tai (và
nhân tai) có thể tác động tới XHDS và chính quyền - điều
này đã được chứng minh qua hệ quả của đợt sóng thần
tại Ấn Độ năm 2004 và trận động đất tại tỉnh Tứ Xuyên
năm 2008. Khủng hoảng kinh tế cũng có thể mang lại những tác
động không nhìn thấy trước. Dù không thể lường được
những biến cố đó, song có thể đưa khả năng chúng xảy ra
vào một bộ khung đánh giá thay đổi. Một cách để thực
hiện điều này là hình thành một series các kịch bản, trong
đó miêu tả những hệ quả có thể xảy ra, từ "kịch bản
tốt nhất" cho tới "kịch bản xấu nhất", dưới ảnh
hưởng của các yếu tố khả biến như kinh tế, chính trị, và
môi trường.
***
Các học giả và nhà hoạt động XHDS Việt Nam cùng có chung
nhiều quan điểm về sự mở rộng của không gian XHDS trong
những năm gần đây. Tuy vậy, các minh chứng bằng dữ liệu
định tính và định lượng vẫn còn lẫn lộn và chưa chắc
chắn. Các chỉ số so sánh quốc tế chỉ là một nguồn bên
ngoài nhằm đánh giá những thay đổi trong bối cảnh Việt Nam,
song tiêu chí của chúng lại chỉ có giá trị hạn chế trong
việc tìm hiểu những khác biệt vi tế và dần dần trong một
quốc gia theo thời gian. Thay vì một chỉ số số học, bài
viết này đề xuất xây dựng một Công cụ Đánh giá Không gian
XHDS mà nếu được thực hiện hằng năm bởi một nhóm các
chuyên gia đại diện có thể cung cấp một cơ sở vừa định
tính vừa định lượng để đánh giá xu hướng và mức độ
biến đổi trong xã hội Việt Nam.


-----------
<sup>1</sup>Tác giả xin gửi lời cảm ơn tới các chuyên gia và
các nhà hoạt động XHDS mà tác giả phỏng vấn từ tháng 4
đến tháng 7/2014 đã đóng góp ý kiến cho bài viết này. Một
số buổi làm việc cũng được thực hiện dưới sự bảo trợ
của Chương trình hỗ trợ liên minh DFID-Oxfam.

<sup>2</sup>CIVICUS (2006) Sự trỗi dậy của xã hội dân sự:
Đánh giá đầu tiên về xã hội dân sự ở Việt Nam, ed. I.
Nørlund, p. 34; Hiệp hội liên minh các tổ chức khoa học và
công nghệ (2010) Bản tin phát triển #1, tháng 10, tr. 7.

<sup>3</sup>Xem http://www.internetlivestats.com/internet-users-by-country/.

<sup>4</sup>Điều trần của Thứ trưởng bộ ngoại giao Hà Kim
Ngọc trước Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc tại Geneva,
tháng 2/ 2014.

<sup>5</sup>CECODES, Asia Foundation, và VCCI (2013) Doanh nghiệp làm
từ thiện và quan điểm của doanh nghiệp về các tổ chức NGO
trong nước tại Việt Nam.

<sup>6</sup>Chẳng hạn, xem Vũ Duy Phú, ed. (2007) Xã hội dân sự:
Một số Vấn đề Chọn lọc, NXB Tri Trức.

<sup>7</sup>Hyden, Goran and John Samuel (2011) Tăng cường khả năng
phản hồi của nhà nước: kinh nghiệp với các bản đánh giá
dân chủ về nhà nước. UNDP, tr. 17-21.

<sup>8</sup>CIVICUS (2008) Nghiên cứu toàn cầu về tình trạng xã
hội dân sự, vol. 2: Các quan điểm so sánh, Kumarian Press, tr.
3-54.

<sup>9</sup>CIVICUS 2006, tr. 36-7.

<sup>10</sup>CIVICUS, Tình trạng xã hội dân sự 2013: Tạo ra và
hỗ trợ môi trường hoạt động – báo cáo tổng hợp, tr. 10.

<sup>11</sup>CIVICUS, 2013 Chỉ số môi trường khả thi, tr. 19.

<sup>12</sup>Steiner N (2012) 'Đánh giá mức độ thiên kiến về
chính trị trong các điểm số dân chủ của Freedom House: Liệu
các nhà nước thân Mỹ có được đánh giá là dân chủ hơn
không?', Tạp chí phân tích chính sách so sánh.

.. . .......................


***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://www.danluan.org/tin-tuc/20140906/andrew-wells-dang-khong-gian-xa-hoi-dan-su-o-viet-nam-dang-mo-rong),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét