<strong>Một thoáng trên đường</strong></b>
<div class="boxright200"><img
src="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgH0KA57696ZEWZBrHc3DHJDvp3l7LZm_qNAhRA6x_JoPciE3CBfkkOW_Q20Kg0GkVLG9r5Ch7RmBxL5Y2XbkEjneDDCHc6o6VI4apomXARFJcNneV6ze4D7Vy4Gl5vQB144TjPbpe3a-sN/s1600/di-du-lich-thai-lan-can-bao-nhieu-tien-3.jpg"
width="200"></a>
<div class="textholder">Ảnh minh họa</div></div>
Từ phòng ăn của một khách sạn nhỏ nhìn ra, tôi cảm thấy
thiên nhiên ở thành phố Đông Nam Á mà mình vừa đến cũng
"tự nhiên như nhiên", cũng ngang dọc cao thấp tùy tiện
không ra hàng ra lối, tức không được chăm sóc một cách kỳ
khu tinh tế, do đó có cái vẻ mỹ lệ, nó là niềm tự hào về
sự có mặt của con người, như ở bên Tầu bên Nhật.
Không có may mắn đi sâu vào những thắng cảnh đẹp nhất
của Bangkok, chỉ ngồi xe ô tô du lịch nhìn ra hai bên đường
ngoại ô, tôi cũng chỉ thấy những ngôi nhà phần nhiều màu
xám, cao ốc đâu chỉ dăm bảy đến mười tầng. Có những khu
vực san sát nhà mái tôn kiểu ven đô Sài Gòn. Vào các siêu
thị thấy hàng hóa rất nhiều, nhưng trên đường thì thấy ít
biển quảng cáo.
Thái Lan với tôi chỉ là vậy. Đó không phải một Thái Lan
làm tất cả để mời gọi khách du lịch, như tôi hằng nghe
một số bạn đi về kể lại. Tôi cũng bắt gặp ở đây
những bãi cỏ hoang lụn vụn. Chạy ngầm dưới mặt tiền một
khách sạn là một con cống mà tới quãng lộ thiên thì bốc
mùi thoang thoảng khó chịu. Đường rộng nhưng mới chỉ đủ
cho xe đi lại và chỉ nhờ người đi xe biết kiềm chế và tôn
trọng luật pháp nên không cảm thấy hỗn loạn. Đường thật
nhiều ô tô nhưng những xe được sử dụng phần lớn là xe
nội địa.
Cảm tưởng chung rút lại là một cái gì không choáng lộn
không nổi bật.
Tuy nhiên tôi lại cho rằng chính cái đó là hợp với tình
cảnh của một nước Đông Nam Á, khu vực đã từng là mồi
ngon cho chủ nghĩa thực dân trong các thể kỉ 18 – 19, và tới
nay vẫn không phải là vùng phát triển của thế giới. Mà về
mặt văn hóa, nó là khu vực bị kẹt giữa hai nền văn hóa
lớn là Trung Hoa và Ấn Độ.
Ở bên nhà, những lúc rỗi, tự đối diện với lòng mình,
tôi thường buồn bã nhận ra một điều. Nếu có một cái gì
mà làm người ta khó chịu nhất ở Hà Nội, thì đó là việc
mọi người cùng hùa nhau tìm cách che giấu thực trạng đang
sống, cả nước muốn tô vẽ cho mình, muốn chứng tỏ rằng
dân Việt không thua kém gì những nơi khác. Ở Thái Lan, tôi
không có cảm tưởng đó. Vừa phải. Biết điều. Chân chất.
Giản dị... Thái Lan mà tôi gặp là một cái gì tổng hợp của
những phẩm chất đó. Ngay ở các khu chợ ồn ào chật hẹp
không thấy khắp nơi là túi ni lông như ở Hà Nội. Cũng như
bên Nhật, không thấy cảnh người Thái liến láo nói trong
điện thoại.
Trước cửa chùa Phật Vàng (Kim Phật Tự) có một người ăn
mày. Ông ta ngồi ăn cơm tay lấy cái thìa xúc cơm ra từ túi ni
lông. Nhưng ăn xong, ông không quên gói ghém các thứ rồi lấy
dây thun buộc lại cho vào túi sách, -- chứ không thẳng tay
quăng ra mặt đường, và nếu quăng được vào những chiếc xe
sang trọng đi qua thì càng sung sướng. Ở ông không có lòng căm
hận cuả những người nghèo thấy tất cả những người giàu
khác là kẻ thù của mình như đám ăn mày Hà Nội. Ông ăn mày
Thái đang yên vị trên một chiếc thảm nhỏ dùng để ngồi.
Khi hút thuốc lá, ông gạt tàn vào một cái bát đặt ngay bên
cạnh.
Sau này đọc báo mới biết Thái Lan là một đất nước của
những con người hiền hòa. Khách phương Tây mệnh danh đây là
đất nước những nụ cười. Người ta lại còn bảo trong cái
cười của người Thái Lan có thoáng qua ý <i>mai – pen –
rai</i>, với nghĩa không sao, không có gì đâu mà. Nó xa lạ với
những tiếng cười phá trời, cái cười đắc thắng của các
đám nhậu bên vỉa hè Hà Nội.
<b>Chiều sâu cuộc sống</b>
Cùng với việc che giấu thực trạng lạc hậu, người Việt
mình lại thường thích tô vẽ để trưng ra niềm tự hào thô
lỗ về các phong tục tập quán ngàn đời và bảo đó là nền
văn hóa "đậm đà bản sắc" không lẫn với ai hết.
Đọc phần văn hóa Thái Lan trên mạng và qua câu chuyện với
người hướng dẫn viên, tôi thấy tinh thần chi phối phong tục
tập quán ở đây khác hẳn. Xin kể ba ví dụ.
-- Ở nhiều gia đình Việt Nam hiện nay, tới ngày sinh nhật
của con cái hình như cả nhà đều bận rộn lo lắng, làm sao
để chứng tỏ rằng đứa con có ngày sinh nhật đó là niềm
tự hào của gia đình. Còn ở Thái, ngày sinh nhật là dịp để
bọn trẻ bộc lộ lòng biết ơn với bố mẹ ông bà và với
cuộc đời. Trong ngày sinh nhật, trẻ muốn mình có hình ảnh
đẹp hơn, trở nên ngoan ngoãn hơn trong mắt bố mẹ và lấy
đó làm niềm hãnh diện.
--Với đà ào ạt trở lại của các hủ tục, các đám ma ở
Hà Nội thường ồn ào, người ta như muốn khoe ra sự thương
xót đối với người vừa nằm xuống. Còn theo phong tục của
Thái Lan, khi đưa đám người chết không nên khóc nhiều, bởi
khóc nhiều sẽ làm cho người chết thấy phiền lòng.
-- Trong thái độ đối với tôn giáo, tôi cảm thấy ở người
Thái có thái độ thành tín. Các nhà sư được tôn trọng, chùa
chiền giữ được vẻ trang nghiêm, thanh tịnh. Cuộc sống như
có một cái gì đó thiêng liêng, đó là hương vị mà ở Hà
Nội, tôi chỉ cảm thấy hồi nhỏ, trước 1954, kéo dài ra tới
đầu những năm sau mươi. Còn từ sau 1965 đến nay, nó đã bị
đánh mất dần dần.
<b>Biết cách tổ chức xã hội </b>
Ngay từ trong lời giới thiệu trước chuyến đi, công ti du
lịch đã lưu ý chúng tôi về sự sùng bái Hoàng gia của
người Thái.
Những câu chuyện của người hướng dẫn địa phương cũng
xoay quanh chủ để này. ơn thế nữa, chúng tôiH Hơn thế nữa,
chúng tôi còn cảm nghe được rằng đó là những bằng chứng
thực chứ không phải những lời lẽ tuyên truyền nhằm áp
đặt cho khách từ xa tới.
Hoàng gia Thái Lan tạo được sự kính trọng tuyệt đối trong
dân gian. Bất cứ một hành động nào xúc phạm đến Hoàng gia
đều có thể bị mọi người chung quanh báo cho cảnh sát biết
và bị nghiêm trị. Cho đến việc tiêu tiền nữa, ở Bangkok,
người ta chỉ sử dụng tiền Thái vì ở đó có in hình quốc
vương mà người ta kính trọng. Một tội lớn trong giao thiệp
dành cho người nào dám lấy chân chà đạp lên đồng tiền, vì
đó cũng coi là xúc phạm đến giá trị tinh thần của đất
nước.
Khi nghe nói đến một nước quân chủ, nhiều người Việt ở
tuổi tôi lập tức nhớ lại những bài học được học ở
phổ thông. Các vua chúa thời xưa được miêu tả là những
người cực kỳ đoảng vị. Nhất là nhà Nguyễn. Thôi thì bạc
nhựơc yếu hèn đồi bại đủ thứ. Làm như họ không phải
là người Việt.
Sau này tôi được biết rằng thực ra cái lối bôi nhọ giai
cấp phong kiến như thế chỉ là sản phẩm của một thời con
người quá uất ức muốn thay đổi và đập phá, nên nhìn tất
cả những người chủ cũ là có tội. Chứ thực ra giai cấp
phong kiến Việt Nam đâu đến nỗi.
Cuối năm 2012, một nhà sử học là anh Cao Tự Thanh vừa dịch
và giới thiệu cuốn <i>Đại Nam thực lục chính biên đệ
thất kỷ</i> của Quốc sử quán triều Nguyễn. Cuốn sách cho
thấy từ đời Khải Định, nhà vua đã biết đặt ra khẩu
hiệu ba vế, bên cạnh <i>Tôn quân quyền, </i>là<i> Khai dân trí,
Dụ dân tài</i> (hướng dẫn cho dân làm giàu). Còn nhiều việc
khác, chứng tỏ chính quyền lúc ấy biết học hỏi để
<i>cải lương</i> tức cải cách xã hội theo hướng hiện đại.
Trở lại với chuyện bên Thái. Sự kính trọng đối với
Hoàng gia có cái lý của nó. Hoàng gia rất xứng đáng với sự
kính trọng đó, trước hết là trên phương diện định hướng
cho sự phát triển kinh tế quốc gia, mà cũng là cách thức để
bảo đảm đời sống cho dân chúng.
Ở khắp nơi trên đất Bangkok và Pattaya, tôi bắt gặp hình
ảnh của vua Rama IX là vị vua trị vì từ 1946 tới nay. Người
hướng dẫn sớm cho chúng tôi biết rằng, bản thân vua là một
trí thức đã từng theo học ở đại học phương Tây. Ông là
kỹ sư nông nghiệp. Chính ông đã nghiên cứu để tạo ra
giống ổi không hạt, là một thứ hoa quả mà nước Thái có
thể xuất khẩu.
Hoàng gia đứng ra bảo lãnh cho những ngành kinh tế mà có thể
giúp cho Thái Lan phát triển. Khi tỉnh Phuket bị sóng thần tàn
phá, Hoàng gia đã đầu tư vào để giúp tỉnh đó tổ chức
lại đời sống. Nghề sản xuất Yến Sào cũng được Hoàng gia
bảo trợ và một vị công chúa trực tiếp làm công việc là
kiểm tra sản phẩm trước khi xuất xưởng để đảm bảo uy
tín của sản phẩm. Một vị công chúa khác vừa học nghề bác
sĩ vừa nhận giảng dạy một ít giờ ở trường đại học.
Và trong nông nghiệp, thì sau một chuyến sang Việt Nam, bà đã
mang về giống thanh long, trở thành giống quả phổ biến ở
Thái Lan. Khi tôi đến thăm cửa hàng đá quý, ở đó bên cạnh
hình ảnh đức vua đương thời là Rama IX có hình ảnh vua Rama
V. Người ta giải thích với tôi là ông này đã có công mang
công cụ sản xuất vàng bạc từ phương Tây về để đổi
mới công nghệ làm đá quý của nước Thái.
Từ trường hợp của Thái, người ta có thể rút ra cái tiêu
chuẩn chủ yếu để đánh giá một chế độ chính trị.
Đã gọi Hoàng gia tức đây không phải là chính quyền của
dân, do dân như tình hình ở một số nước châu Á trong thế
kỷ XX. Sau khi lật đổ chế độ quân chủ, các nước này
thường tuyên bố là dân chủ, tiến bộ. Những người cầm
quyền đúng là mới nẩy nòi lên từ đám đông dân chúng
thực. Nhưng khi nắm quyền trong tay, họ hoàn toàn chủ quan và
tùy tiện trong việc quản lý quốc gia. Các cuộc bầu cử hầu
hết đều hình thức giả tạo. Ai đứng ra tổ chức bầu cử
kẻ đó được. Cộng với một lý do nữa nghe có vẻ tình
nghĩa mà hóa ra gây mầm hậu họa: họ không bao giờ quên là
đã hy sinh quá nhiều để ngoi lên địa vị cao nhất xã hội.
Với nhiều hình thức khác nhau, họ băm bổ lao vào xoay xỏa
kiếm chác, ý muốn đòi hỏi xã hội phải báo ơn cho mình gia
đình mình, phe nhóm mình; và khi không được thì quay ra dùng
bạo lực trị dân, phản bội ngay cái lý tưởng ban đầu vốn
rất tốt đẹp mà họ theo đuổi.
Kinh nghiệm xã hội hiện đại là trong chính trị, rất dễ có
sự tách rời giữa cái danh và cái thực, giữa điều người ta
tuyên bố thậm chí là cái điều người ta mong muốn và điều
làm được. Thái Lan không vụ cái danh mà chỉ lo tính tới cái
thực. Thái Lan hiểu rằng cái thời dân chủ theo nghĩa chân
chính nhất còn chưa tới.
<i>--Cốt nhất là sự trung thành với tương lai chứ không
phải trung thành với quá khứ.</i>
<i>-- Đáng phải lo nhất là sự tử tế của con người và sự
thịnh vượng của xứ sở chứ không phải cái tiếng hão lý
tưởng này chủ nghĩa nọ</i>.
Trong những ngày đi du lịch bụi trên đất Myanma, tôi đã cảm
thấy như thế (xem bài trên blog này 14-3-2014). Hôm nay đến Thái
Lan tôi lại cảm thấy như thế.
<b>Tự đổi mới cách cai trị và làm cho nền cai trị có
được một bộ máy thích hợp</b>
Một khía cạnh khác làm nên tính chính đáng của Hoàng gia
Thái là khả năng tự cải biến tự làm mới mình để phù
hợp với sự phát triển của thời đại.
Trong cuốn <i>Lịch sử Đông Nam Á,</i> của D.G.E. Hall (đã
dịch ra tiếng Việt) phần viết về Việt Nam, tôi thấy sử gia
người Anh nhận định Nguyễn Ánh Gia Long là người sinh ra để
chiếm lại đất nước, là người chiến thắng sau những cuộc
nội chiến, chứ không phải người sinh ra để cai trị đất
nước.
Tôi rất thích cái ý này vì nó gợi cho người ta nhớ lại
cách hình thành bộ máy quyền lực thường thấy ở xứ mình.
Lịch sử Việt là lịch sử <i>được làm vua thua làm giặc.</i>
Người thắng trong những cuộc nội chiến sẽ có tất cả
chính nghĩa và mọi thứ vinh quang khác. Rồi nếu như họ lại
còn chiến thắng trong công cuộc ngoại xâm nữa, thì quyền
quản lý đất nước mặc nhiên là trong tay họ. Họ muốn vầy
phò phá nát đất nước thế nào, dân chúng cũng phải chịu.
Không phải chỉ có Gia Long mà các đời vua chúa ở Việt Nam
đều theo luật như vậy.
Trong khi đó, ở Thái Lan, -- như tôi thấy người ta viết trong
sách vở và hôm nay nghe người địa phương kể lại -- nhà
cầm quyền biết cai quản đất nước bằng sự nhạy bén của
tầng lớp quý tộc nhiều đời cộng với nhận thức tổng
quát chính xác về thời đại. Là bộ phận tinh hoa của đất
nước, Hoàng gia đã tự biến chuyển để theo kịp với mọi
tình thế.
Bên cạnh việc lo bảo đảm phúc lợi cho dân, tính chính danh
của Hoàng gia bộc lộ trước tiên là trong việc định hướng
lớn cho sự phát triển của đất nước.
Trong khi Anh – Pháp xâm lược hai nước bên cạnh là Myanma và
Campuchia thì Thái Lan là nước duy nhất ở Đông Nam Á vẫn giữ
được nền độc lập của mình.
Hoàng gia lúc ấy đã sớm hiểu rằng phương Tây là một nền
văn hóa văn minh cao hơn mình, và có thể học hỏi họ trong
tất cả mọi việc. Thái Lan không chỉ lo mua hàng mà còn muốn
mua cả tư duy của phương Tây nữa.
Các hoàng tử và nhiều người trong hoàng tộc được cử sang
các nước phương Tây để học từ những nghề nghiệp bình
thường cho đến việc tổ chức xã hội.
Vua Rama IV - Mongkut (trị vì 1851 - 1868) là người thành thạo
tiếng Anh và ham đọc các sách phương Tây dưới sự hướng
dẫn của các ông thầy phương Tây. Ông đã ký với người
nước ngoài nhiều hiệp định cần thiết.
Vua Rama V<b> – </b>Chulalongkorn (1868-1910) nhiều lần đi tham
khảo học hỏi ở các nước phương Tây. Trong chính phủ của
ông có nhiều cố vấn người Bỉ, Đan Mạch. Thời ông, Hoàng
gia mở trường do người Anh dạy, trong đó có trường luật.
Từ 1844 tới 1877, có ít nhất 7 tờ báo tiếng Anh trong toàn
quốc.
Khi Thái khai thông tuyến đường sắt đầu tiên của đất
nước, vua Chulalongkorn bảo rằng đó là ngày đẹp nhất của
đời mình.
Trong khi ở các nước mới lật đổ chế độ quân chủ, việc
quản lý đất nước hoàn toàn có tính cách nghiệp dư, thì
Hoàng gia Thái Lan quản lí đất nước với một sự hiểu biết
tinh tường về các vấn đề hành chính sự nghiệp.
Châu Âu vốn có nhiều quan niệm hợp lý về tổ chức xã
hội. Trong khi Pháp Đức là những nước cộng hòa thì Anh, Hà
Lan, Bỉ… lại là các vương quốc. Và Thái Lan đã học theo
họ.
Ngày 10/12/1932 Vua Prachadhipok (Rama VII) đã thông qua bản Hiến
pháp đầu tiên và Thái Lan theo chế độ quân chủ lập hiến.
Tuy chủ yếu vẫn dựa trên cơ sở Hiến pháp 1932, nhưng 80 năm
qua Thái Lan đã thay đổi gần hai mươi hiến pháp. Hiến pháp
lần đầu một đảng, hiến pháp thông qua lần thứ hai đã cho
phép đa đảng.
Các thể chế như Thượng viện, Tòa án tối cao… luôn luôn
hình thành trong sự phối hợp giữa nguyện vọng của đông
đảo dân cư và sự chỉ đạo của Hoàng gia. Quân đội như
một bộ phanh hãm, khi chính trường không tìm thấy sự đồng
thuận thì quân đội làm nhiệm vụ làm trụ cột tạm giữ cho
tình hình trật tự, để mọi ngành mọi giới bàn bạc tiếp.
Các tướng lĩnh có thể làm thủ tướng tạm thời, nhưng các
bộ thì bao giờ cũng do các nhà chuyên môn nắm.
Chúng tôi đến Thái Lan đúng vào dịp đất nước này vừa qua
cuộc đảo chính của giới quân sự. Mặc dầu vậy suốt trên
đường đi, không mấy khi thấy bóng những đám lính hay cảnh
sát và không khí đằng đằng sát khí của các xứ có thiết
quân luật.
Bằng kinh nghiệm Việt Nam, ai cũng nghĩ rằng khi đất nước
đang qua cuộc đảo chính như thế này, tức là không ai làm ăn
gì nữa, khắp nơi lộn xộn. Nhưng hôm nay, Thái Lan gợi cho
người ta nghĩ khác. Ở những nơi nào kia, sự ổn định luôn
luôn phải nhờ đến bàn tay của bạo lực, do đó là một sự
ổn định giả tạo, nó luôn luôn chông chênh như sẵn sàng bị
đánh mất, -- thì ở Thái, sự ổn định nằm sẵn trong cốt
cách cuộc sống và mọi biến động trên bề mặt là để đi
dần tới sự ổn định mới.
Hoàng gia Thái không phải là loại người cai trị mà lúc nào
cũng khoe khoang về công ơn của mình với người dân. Hoàng gia
Thái càng không phải là những người cai trị tự cho là mình
"biết tuốt", trong đầu luôn có ảo tưởng rằng mình đưa
dân tộc đi lên, trong khi thực tế là lôi cả xã hội rơi
xuống vũng bùn của cô độc và lạc hậu. Các đời vua kế
tiếp ở Thái hiểu được những giới hạn của họ, cái gì lo
được thì lo, không lo được tự để xã hội cùng bàn bạc
và thể nghiệm.
Nạn kẹt xe hiện còn khá phổ biến ở Bangkok. Người dân nơi
đây khi mắc cảnh kẹt xe yên tâm chờ đợi, không lanh chanh
phá luật tìm lối riêng cho xe mình. Bởi họ biết rằng đó là
chuyện thường tình ở một nước mới phát triển. Nhất là
họ biết rằng bộ máy quản lý giao thông đang suy nghĩ để
cấu trúc lại hệ thống, nhằm có được cách sống cách đi
lại phù hợp với hoàn cảnh đất nước ngày một phát triển.
Đối với tình hình chính trị, người dân Thái cũng có sự
bình tâm và niềm tin tương tự.
<b>
</b>
<b>Đặt quốc gia mình vào trong xu thế vận động của thế
giới</b>
Rộng hơn câu chuyện biết thích ứng với hoàn cảnh, đúng
hơn là đặt cơ sở cho việc thích ứng đó, là quan niệm
người Thái về vị trí của mình trong thế giới. Sống cạnh
Trung quốc nhưng Thái Lan không coi Trung quốc là thiên triều là
mẫu mực, nhất là xa lạ với quan niệm chỉ có châu Á mình
là văn minh, mà phương Tây là man di mọi rợ. Vua Rama IV - Mongkut
(trị vì 1851 - 1868) hiểu thất bại của Trung quốc trước
phương Tây lúc đó là do Trung quốc không chịu mở cửa. Và
ông đi theo cách của mình như trên đã kể.
Mà chẳng cứ phương Tây, Thái Lan tôn trọng tất cả các dân
tộc chung quanh. Đồng thời với việc sang du học phương Tây,
vua Rama V (1868 - 1910) từng có những chuyến thăm thú và khảo
sát dài ngày sang các nước lân cận.
Trong một bài viết trên mạng bàn về đời sống chính trị
Thái Lan, tôi thấy người ta bảo rằng chính sách ngoại giao
của Thái Lan là cách tồn tại của cây sậy tức là gió chiều
nào ngả theo chiều ấy. Trong việc quan hệ với các quốc gia
bên ngoài, họ không tìm cách đẩy xã hội mình đến tình
trạng đối đầu mà luôn luôn tìm cách cùng chung sống cùng
tồn tại.
Sự khôn ngoan của Thái bộc lộ rõ nhất trong những giai
đoạn thế giới có những biến chuyển lớn.
Sử sách còn ghi là hồi Đại chiến thứ hai, lúc đầu Thái
Lan cũng cộng tác với người Nhật, đến 1.8. 1944, lập tức
trong một đêm quay sang phía người Mỹ.
Dường như Thái Lan muốn tuyên bố nước này không bị ràng
buộc bởi tất cả cam kết nhất thời, lại càng không bị
ràng buộc bởi những danh tiếng nhăng nhố. Cách xử lí của
họ đúng là theo đúng tinh thần mà các nhà chính trị lõi
đời ở cả Đông lẫn Tây đều thống nhất: không có bạn
vĩnh viễn, không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có quyền lợi
của dân tộc là vĩnh viễn. Cần biến thù thành bạn chứ
không phải biến bạn thành thù. Không lấy việc làm đau các
quốc gia khác làm niềm vui, bởi khi đó chính chúng ta cũng sẽ
rơi vào cái cảnh thân tàn ma dại.
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://www.danluan.org/tin-tuc/20140806/vuong-tri-nhan-thai-lan-xu-so-biet-tu-cai-tri),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét