<center><div class="boxright><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/12/001-hc3acnh-chung1.jpg?w=902&h=449"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<center><em>Sách Giáo Khoa Thời Việt Nam Cộng Hò</em>a</center>
<strong>Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa</strong> là nền giáo dục
Việt Nam dưới chính thể Việt Nam Cộng Hòa. Triết lý giáo
dục của Việt Nam Cộng hòa là <em><strong>nhân bản, dân tộc,
và khai phóng</strong></em>. Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa nhấn
mạnh quyền tự do giáo dục, và cho rằng <em><strong>"nền giáo
dục cơ bản có tính cách cưỡng bách và miễn
phí,"</strong></em> "<em>nền giáo dục đại học được tự
trị", và "những người có khả năng mà không có phương tiện
sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn."</em>
Hệ thống giáo dục Việt Nam Cộng Hòa gồm Tiểu Học, Trung
Học, và Đại Học, cùng với một mạng lưới các Cơ Sở Giáo
Dục Công Lập, Dân Lập, và Tư Thục ở cả ba bậc học, và
hệ thống tổ chức quản trị từ Trung Ương cho tới Địa
Phương.
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/1468720_354694488000497_1492264788_n.jpg?w=902&h=550"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<center><em>Phòng Thí Nghiệm ở Viện Pasteur Sài Gòn [Hình trên
Internet]</em></center>
<h2>Tổng quan</h2>
Từ năm 1917, chính quyền thuộc địa Pháp ở Việt Nam đã có
một hệ thống giáo dục thống nhất cho cả ba miền Nam, Trung,
Bắc, và cả Lào cùng Campuchia. Hệ thống giáo dục thời Pháp
thuộc có ba bậc: tiểu học, trung học, và đại học. Chương
trình học là chương trình của Pháp, với một chút sửa đổi
nhỏ áp dụng cho các cơ sở giáo dục ở Việt Nam, dùng tiếng
Pháp làm ngôn ngữ chính, Tiếng Việt chỉ là ngôn ngữ phụ.
Sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập vào năm 1945, chương trình
học của Việt Nam – còn gọi là chương trình Hoàng Xuân Hãn
(ban hành thời chính phủ Trần Trọng Kim - được đem ra áp
dụng ở miền Trung và miền Bắc.
Riêng ở Miền Nam, vì có sự trở lại của người Pháp nên
chương trình Pháp vẫn còn tiếp tục cho đến giữa thập niên
1950. Đến thời Đệ Nhất Cộng Hòa thì chương trình Việt
mới được áp dụng ở Miền Nam để thay thế cho chương trình
Pháp. Cũng từ đây, các nhà lãnh đạo giáo dục Việt Nam mới
có cơ hội đóng vai trò lãnh đạo thực sự của mình.
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/pkc3bd-le1bb85.jpg?w=762&h=550"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<center><em>Một buổi lễ khánh thành tượng Petrus Ký trong khuôn
viên [công viên 30/4 hiện tại], nằm trên đường Boulevard
Norodom – [ Đại Lộ Thống Nhất trước Dinh Độc Lập, hướng
về Nhà Thờ Đức Bà. ]</em></center>
Ngay từ những ngày đầu hình thành nền Đệ Nhất Cộng Hòa,
những người làm công tác giáo dục ở Miền Nam đã xây dựng
được nền móng quan trọng cho nền giáo dục quốc gia, tìm ra
câu trả lời cho những vấn đề giáo dục cốt yếu. Những
vấn đề đó là: triết lý giáo dục, mục tiêu giáo dục,
chương trình học, tài liệu giáo khoa và phương tiện học
tập, vai trò của nhà giáo, cơ sở vật chất và trang thiết
bị trường học, đánh giá kết quả học tập, và tổ chức
quản trị.
Nhìn chung, người ta thấy mô hình giáo dục ở Miền Nam Việt
Nam trong những năm 1970 có khuynh hướng xa dần ảnh hưởng của
Pháp vốn chú trọng đào tạo một số ít phần tử ưu tú trong
xã hội và có khuynh hướng thiên về lý thuyết, để chấp
nhận mô hình giáo dục Hoa Kỳ có tính cách đại chúng và
thực tiễn.
Năm học 1973-1974, Việt Nam Cộng Hòa có một phần năm [20%] dân
số là học sinh và sinh viên đang đi học trong các cơ sở giáo
dục. Con số này bao gồm 3.101.560 học sinh tiểu học, 1.091.779
học sinh trunghọc, và 101.454 sinh viên đại học; số người
biết đọc biết viết ước tính khoảng 70% dân số. Đến năm
1975, tổng số sinh viên trong các viện đại học ở miền Nam
là khoảng 150.000 người [không tính các sinh viên theo học ở
Học viện Hành Chính Quốc Gia và ở các trường đại học
cộng đồng.]
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/ce1baa3nh-gie1bb9d-rc6b0e1bb9bc-he1bb8dc-sinh-te1baa1i-trc6b0e1bb9dng-hie1bb87n-ce1bb95ng-nc3a0y-ne1bab1m-trc3aan-me1bab7t-tie1bb81n-c491c6b0e1bb9dng-n.jpg?w=902&h=550"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<center><em>Cảnh giờ rước học sinh tan trường.</em></center>
Mặc dù tồn tại chỉ trong 20 năm [từ 1955 đến 1975], bị ảnh
hưởng nặng nề bởi chiến tranh và những bất ổn chính trị
thường xảy ra, phần thì ngân sách eo hẹp do phần lớn ngân
sách quốc gia phải dành cho Quốc Phòng và Nội Vụ [trên 40%
ngân sách quốc gia dành cho Quốc Phòng, khoảng 13% cho nội vụ,
chỉ khoảng 7-7,5% cho Giáo Dục], nền giáo dục Việt Nam Cộng
Hòa đã phát triển vượt bậc, đáp ứng được nhu cầu gia
tăng nhanh chóng của người dân, đào tạo được một lớp
người có học vấn và có khả năng chuyên môn đóng góp vào
việc xây dựng quốc gia và tạo được sự nghiệp vững chắc
ngay cả ở các quốc gia phát triển.
Kết quả này có được là nhờ các nhà giáo có ý thức rõ
ràng về sứ mạng giáo dục, có ý thức trách nhiệm và lương
tâm nghề nghiệp, đã sống cuộc sống khiêm nhường để đóng
góp trọn vẹn cho nghề nghiệp, nhờ nhiều bậc phụ huynh đã
đóng góp công sức cho việc xây dựng nền giáo dục quốc gia,
và nhờ những nhà lãnh đạo giáo dục đã có những ý tưởng,
sáng kiến, và nỗ lực mang lại sự tiến bộ cho nền giáo
dục ở Miền Nam Việt Nam.
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/750thay_co_truong_qgnt.jpg?w=902&h=405"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<center><em>Thầy cô giáo [Giáo Sư] thời Việt Nam Cộng
Hòa</em></center>
<h2>Triết lý giáo dục</h2>
Năm 1958, dưới thời Bộ Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục Trần
Hựu Thế, Việt Nam Cộng Hòa nhóm họp Đại Hội Giáo Dục
Quốc Gia [lần I] tại Sài Gòn. Đại hội này quy tụ nhiều
phụ huynh học sinh, thân hào nhân sĩ, học giả, đại diện
của quân đội, chính quyền và các tổ chức quần chúng, đại
diện ngành văn hóa và giáo dục các cấp từ tiểu học đến
đại học, từ phổ thông đến kỹ thuật… Ba nguyên tắc
"nhân bản" [humanistic], "dân tộc" [nationalistic], và "khai phóng"
[liberal] được chính thức hóa ở hội nghị này.
Đây là những nguyên tắc làm nền tảng cho triết lý giáo dục
của Việt Nam Cộng Hòa, được ghi cụ thể trong tài liệu
Những nguyên tắc căn bản do Bộ Quốc gia Giáo dục ấn hành
năm 1959 và sau đó trong Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa [1967].
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/vnch-giao-duc6.jpg?w=902&h=512"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<center><em>Khóa Hội Thảo Cải Tổ Chương Trình Sư
Phạm.</em></center>
<h2>1. Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là giáo dục nhân bản.</h2>
Triết lý nhân bản chủ trương con người có địa vị quan
trọng trong thế gian này; <strong>lấy con người làm gốc, lấy
cuộc sống của con người trong cuộc đời này làm căn bản;
xem con người như một cứu cánh chứ không phải như một
phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất cứ
cá nhân, đảng phái, hay tổ chức nào khác</strong>.
Triết lý nhân bản chấp nhận có sự khác biệt giữa các cá
nhân, nhưng không chấp nhận việc sử dụng sự khác biệt đó
để đánh giá conngười, và không chấp nhận sự kỳ thị hay
phân biệt giàu nghèo, địa phương, tôn giáo, chủng tộc…
Với triết lý nhân bản, <strong>mọi người có giá trị như
nhau và đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng
đều về giáo dục</strong>.
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/vnch-giao-duc1-1.jpg?w=902&h=699"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<h2>2. Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là giáo dục dân tộc.</h2>
Giáo dục tôn trọng giá trị truyền thống của dân tộc trong
mọi sinh hoạt liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp, và quốc
gia. Giáo dục phải bảo tồn và phát huy được những tinh hoa
hay những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Dân
tộc tính trong văn hóa cần phải được các thế hệ biết
đến, bảo tồn và phát huy, để không bị mất đi hay tan biến
trong những nền văn hóa khác.
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/sinh-vic3aan-c491e1baa1i-he1bb8dc-dc6b0e1bba3c-khoa-sc3a0i-gc3b2n-gc3b3i-bc3a1nh-chc6b0ng-c491e1bb83-c491em-gic3bap-c491e1bb93ng-bc3a0o-mie1bb81n-trung-b.jpg?w=593"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<em>Sinh viên Đại Học Dược Khoa Sài Gòn gói bánh chưng để
đem giúp đồng bào Miền Trung bị bão lụt năm Thìn 1964.</em>
<h2>3. Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là giáo dục khai phóng.</h2>
Tinh thần dân tộc không nhất thiết phải bảo thủ, không
nhất thiết phải đóng cửa. Ngược lại, giáo dục phải mở
rộng, tiếp nhận những kiến thức khoa học kỹ thuật tân
tiến trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát
triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào
việc hiện đại hóa quốc gia và xã hội, làm cho xã hội tiến
bộ tiếp cận với văn minh thế giới.
Từ những nguyên tắc căn bản ở trên, chính quyền Việt Nam
Cộng Hòa đề ra những mục tiêu chính sau đây cho nền giáo
dục của mình. Những mục tiêu này được đề ra là để
nhằm trả lời cho câu hỏi: Sau khi nhận được sự giáo dục,
những người đi học sẽ trở nên người như thế nào đối
với cá nhân mình, đối với gia đình, quốc gia, xã hội, và
nhân loại.
<h2>Mục tiêu giáo dục thời Việt Nam Cộng Hòa:</h2>
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/164-1-c491e1bbabng-khe1baa1c-nhe1bb95.jpg?w=550"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<h2>1. Phát triển toàn diện mỗi cá nhân.</h2>
Trong tinh thần tôn trọng nhân cách và giá trị của cá nhân
học sinh, giáo dục hướng vào việc phát triển toàn diện mỗi
cá nhân theo bản tính tự nhiên của mỗi người và theo những
quy luật phát triển tự nhiên cả về thể chất lẫn tâm lý.
Nhân cách và khả năng riêng của học sinh được lưu ý đúng
mức. Cung cấp cho học sinh đầy đủ thông tin và dữ kiện
để học sinh phán đoán, lựa chọn; không che giấu thông tin hay
chỉ cung cấp những thông tin chọn lọc thiếu trung thực theo
một chủ trương, hướng đi định sẵn nào.
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/vn_vnch_thanhnuconghoa_01.jpg?w=550"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<center><em>Thanh nữ Việt Nam Cộng Hòa</em></center>
<h2>2. Phát triển tinh thần quốc gia ở mỗi học sinh.</h2>
Điều này thực hiện bằng cách: giúp học sinh hiểu biết hoàn
cảnh xã hội, môi trường sống, và lối sống của người
dân; giúp học sinh hiểu biết lịch sử nước nhà, yêu thương
xứ sở mình, ca ngợi tinh thần đoàn kết, tranh đấu của
người dân trong việc chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc; giúp
học sinh học tiếng Việt và sử dụng tiếng Việt một cách
có hiệu quả; giúp học sinh nhận biết nét đẹp của quê
hương xứ sở, những tài nguyên phong phú của quốc gia, những
phẩm hạnh truyền thống của dân tộc; giúp học sinh bảo tồn
những truyền thống tốt đẹp, những phong tục giá trị của
quốc gia; giúp học sinh có tinh thần tự tin, tự lực, và tự
lập.
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/vn_vnch_bieutinh_hoangsa_vnch-bieutinh.jpg?w=550&h=550"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<center><em>Người dân miền Nam biểu tình phản đối Trung Quốc
đánh chiếm Hoàng Sa, năm 1974.</em></center>
<h2>3. Phát triển tinh thần dân chủ và tinh thần khoa học.</h2>
Điều này thực hiện bằng cách: giúp học sinh tổ chức những
nhóm làm việc độc lập qua đó phát triển tinh thần cộng
đồng và ý thức tập thể; giúp học sinh phát triển óc phán
đoán với tinh thần trách nhiệm và kỷ luật; giúp phát triển
tính tò mò và tinh thần khoa học; giúp học sinh có khả năng
tiếp nhận những giá trị văn hóa của nhân loại.
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/saigon_university.jpg?w=550&h=550"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<center><em>Mặt tiền của Viện Đại Học Sài Gòn [Số 3 Công
Trường Chiến Sĩ ]</em></center>
<h2>Giáo dục tiểu học:</h2>
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/tieu-hoc-vnch.jpg?w=550&h=550"
/><div class="textholder"></div></div>
</center>
<center><em>Một lớp tiểu học ở miền Nam vào năm
1961.</em></center>
Bậc Tiểu Học thời Việt Nam Cộng hòa bao gồm năm lớp, từ
lớp 1 đến lớp 5 [thời Đệ Nhất Cộng Hòa gọi là lớp Năm
đến lớp Nhất]. Theo quy định của hiến pháp, giáo dục
tiểu học là giáo dục phổ cập [bắt buộc]. Từ thời Đệ
Nhất Cộng Hòa đã có luật quy định trẻ em phải đi học ít
nhất ba năm tiểu học. Mỗi năm học sinh phải thi để lên
lớp. Ai thi trượt phải học "đúp," tức học lại lớp đó.
Các trường công lập đều hoàn toàn miễn phí, không thu học
phí và các khoản lệ phí khác.
<strong>Số liệu giáo dục bậc tiểu học</strong>[8]
Niên học Số học sinh <Số lớp học
1955 400.865 8.191
1957 717.198[9]
1960 1.230.000[9]
1963 1.450.679 30.123
1964 1.554.063[10]
1970 2.556.000 44.104
Học sinh tiểu học chỉ học một buổi, sáu ngày mỗi tuần.
Theo quy định, một ngày được chia ra 2 ca học; ca học buổi
sáng và ca học buổi chiều.
Vào đầu thập niên 1970, Việt Nam Cộng Hòa có 2,5 triệu học
sinh tiểu học, chiếm hơn 80% tổng số thiếu niên từ 6 đến
11 tuổi; 5.208 trường tiểu học [chưa kể các cơ sở ở Phú
Bổn, Vĩnh Long và Sa Đéc.]
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/he1bb8dc-le1bb9bp-nhe1baa5t-le1bb9bp-nhc3ac-he1bb93i-xc6b0a-h2.jpg?w=550&h=550"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<center><em>Học sinh lớp Nhất, lớp Nhì hồi xưa – ( Lớp Bốn
lớp Năm bây giờ. )</em></center>
Tất cả trẻ em từ 6 tuổi đều được nhận vào lớp Một
để bắt đầu bậc tiểu học. Phụ huynh có thể chọn lựa cho
con em vào học miễn phí cho hết bậc tiểu học trong các
trường công lập hay tốn học phí (tùy trường) tại các
trường tiểu học tư thục.
Lớp 1 [trước năm 1967 gọi là lớp Năm] cấp tiểu học mỗi
tuần học 25 giờ, trong đó 9,5 giờ môn Quốc văn; 2 giờ Bổn
phận công dân và Đức dục [còn gọi là lớp Công dân giáo
dục.] Lớp 2 [trước năm 1967 gọi là lớp Tư], Quốc văn giảm
còn 8 tiếng nhưng thêm 2 giờ Sử ký và Địa lý. Lớp 3 trở
lên thì ba môn Quốc văn, Công dân và Sử Địa chiếm 12-13
tiếng mỗi tuần.
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/03/gie1bb9d-sinh-hoe1baa1t-ce1bba7a-toc3a0n-trc6b0e1bb9dng-the1bb9di-be1baa5y-gie1bb9d-mc.jpg?w=550&h=550"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<center><em>Giờ sinh hoạt của toàn trường thời bấy
giờ.</em></center>
Một năm học kéo dài chín tháng, nghỉ ba tháng hè. Trong năm
học có khoảng 10 ngày nghỉ lễ [thông thường vào những ngày
áp Tết.]
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/04c-the-hoc-sinh-57-64.jpg?w=550&h=550"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<center><em>Thẻ căn cước học sinh Trường Trung Học Võ Trường
Toản</em>
</center>
<h2> Giáo dục trung học:</h2>
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/he1bb93-nge1bb8dc-ce1baa9n.jpg?w=550"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<center>Các vị Giáo Sư Trường Trung Học Hồ Ngọc Cẩn</center>
Tính đến đầu những năm 1970, Việt Nam Cộng Hòa có hơn
550.000 học sinh trung học, tức hơn 20% tổng số thanh thiếu
niên ở lứa tuổi từ 12 đến 18; có 534 trường trung học
(chưa kể các cơ sở ở Vĩnh Long và Sa Đéc).
Đến năm 1975 thì có khoảng 900.000 học sinh ở các trường
trung học công lập. Các trường trung học công lập nổi tiếng
thời đó có Petrus Ký, Chu Văn An, Võ Trường Toản, Trưng
Vương, Gia Long, Lê Quý Đôn (Sài Gòn) tiền thân là Trường
Chasseloup Laubat, Quốc Học (Huế), Trường Trung học Phan Chu Trinh
(Đà Nẵng), Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho), Phan Thanh Giản (Cần
Thơ)…
Các trường công lập đều hoàn toàn miễn phí, không thu học
phí và các khoản lệ phí khác.
<strong>Tên gọi năm lớp bậc tiểu học</strong>
<strong>trước 1971 </strong> <strong><h2>sau 1971</h2></strong>
lớp năm lớp một
lớp tư lớp hai
lớp ba lớp ba
lớp nhì lớp tư
lớp nhất lớp năm
<h2>Tên các lớp bậc trung học đệ nhất cấp</h2>
lớp đệ thất lớp sáu
lớp đệ lục lớp bảy
lớp đệ ngũ lớp tám
lớp đệ tứ <h1> lớp chín
<strong>Tên các lớp trung học đệ nhị cấp</strong>
lớp đệ tam lớp mười
lớp đệ nhị lớp 11
lớp đệ nhất lớp 12
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/03/me1bb99t-le1bb9bp-the1bbad-nghie1bb87m-hoc3a1-che1baa5t-te1baa1i-trc6b0e1bb9dng-petrus-kc3bd.jpg?w=593"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<center><em>Một lớp thử nghiệm hoá chất tại trường Petrus
Ký</em></center>
<h2>Trung học đệ nhất cấp:</h2>
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/trc6b0e1bb9dng-trung-he1bb8dc-ce1bb99ng-c491e1bb93ng-que1baadn-8-nc483m-72-73.jpg?w=902&h=366"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<em><center>Trường Trung Học Cộng Đồng Quận 8 Năm 1972-
1973</center></em>
Trung Học Đệ Nhất Cấp bao gồm từ lớp 6 đến lớp 9
(trước năm 1971 gọi là lớp đệ thất đến đệ tứ), tương
đương trung học cơ sở hiện nay. Từ tiểu học phải thi vào
trung học đệ nhất cấp. Đậu vào trường trung học công lập
không dễ. Các trường trung học công lập hàng năm đều tổ
chức tuyển sinh vào lớp Đệ Thất (từ năm 1971 gọi là lớp
6), kỳ thi có tính chọn lọc khá cao (tỷ số chung toàn quốc
vào trường công khoảng 62%); tại một số trường danh tiếng
tỷ lệ trúng tuyển thấp hơn 10%.
Những học sinh không vào được trường công thì có thể nhập
học trường tư thục nhưng phải trả học phí. Một năm học
được chia thành hai "lục cá nguyệt" [hay "học kỳ."] Kể từ
lớp 6, học sinh bắt đầu phải học ngoại ngữ, thường là
Tiếng Anh hay Tiếng Pháp, môn Công Dân Giáo Dục tiếp tục với
lượng 2 giờ mỗi tuần.
Từ năm 1966 trở đi, môn võ Vovinam [tức Việt Võ Đạo] cũng
được đưa vào giảng dạy ở một số trường.
Học xong năm lớp 9 thì thi bằng Trung học đệ nhất cấp. Kỳ
thi này thoạt tiên có hai phần: Viết và vấn đáp.
Năm 1959 bỏ phần vấn đáp rồi đến niên học 1966-1967 thì
Bộ Quốc Gia Giáo Dục bãi bỏ hẳn kỳ thi Trung Học Đệ Nhất
Cấp.
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/03/02-marie-curie-sc3a2n-trc6b0e1bb9dng.jpg?w=902&h=550"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<em><center>Sân Trường Marie Curie</center></em>
<h2>Trung học đệ nhị cấp:</h2>
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/03/vc3b5-trc6b0e1bb9dng-toe1baa3n-hoc-sinh.jpg?w=902&h=680"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<center><em>Nam Sinh Võ Trường Toản</em></center>
Trung học đệ nhị cấp là các lớp 10, 11 và 12, trước 1971
gọi là đệ tam, đệ nhị và đệ nhất; tương đương trung
học phổ thông hiện nay. Muốn vào thì phải đậu được bằng
Trung học đệ nhất cấp, tức bằng Trung học cơ sở.
Vào đệ nhị cấp, học sinh phải chọn học theo một trong bốn
ban như dự bị vào đại học. Bốn ban thường gọi A, B, C, D
theo thứ tự là Khoa học thực nghiệm hay còn gọi là ban vạn
vật; ban toán; ban văn chường và ban văn chương cổ ngữ,
thường là Hán văn. Ngoài ra học sinh cũng bắt đầu học thêm
một ngoại ngữ thứ hai.
Vào năm lớp 11 thì học sinh phải thi Tú Tài I rồi thi Tú Tài
II năm lớp 12. Thể lệ này đến năm học 1972-1973 thì bỏ,
chỉ thi một đợt tú tài phổ thông. Thí sinh phải thi tất cả
các môn học được giảng dạy (trừ môn Thể dục), đề thi
gồm các nội dung đã học, không có giới hạn hoặc bỏ bớt.
Hình thức thi kể từ năm 1974 cũng bỏ lối viết bài luận
(essay) mà theo lối thi trắc nghiệm có tính cách khách quan hơn.
Số liệu giáo dục bậc trung học[8]
Niên học Số học sinh Số lớp học
1955 51.465 890
1960 160.500[9]
1963 264.866 4.831
1964 291.965[10]
1970 623.000 9.069
Mỗi năm có hai đợt thi Tú Tài tổ chức vào khoảng tháng 6 và
tháng 8.
Tỷ lệ đậu Tú Tài I (15-30%) và Tú tài II (30-45%), tại các
trường công lập nhìn chung tỷ lệ đậu cao hơn trường tư
thục do phần lớn học sinh đã được sàng lọc qua kỳ thi vào
lớp 6 rồi. Do tỷ lệ đậu kỳ thi Tú tài khá thấp nên vào
được đại học là một chuyện khó. Thí sinh đậu được
xếp thành: Hạng "tối ưu" hay "ưu ban khen" (18/20 điểm
trở lên), thí sinh đậu Tú tài II hạng tối ưu thường hiếm,
mỗi năm toàn Việt Nam Cộng Hòa chỉ một vài em đậu hạng
này, có năm không có; hạng "ưu" (16/20 điểm trở lên);
"bình"(14/20); "bình thứ" (12/20), và "thứ"(10/20).
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/03/truonggialong-3.jpg?w=550&h=550"
/><div class="textholder"></div></div>
</center>
<center><em>Thầy trò Trường Nữ Trung Học Gia Long</em></center>
Một số trường trung học chia theo phái tính như ở Sài Gòn
thì có trường Petrus Ký, Chu Văn An, Võ Trường Toản, Trường
Hồ Ngọc Cẩn [Gia Định] và các trường Quốc học [Huế], Phan
Chu Trinh [Đà Nẵng], Võ Tánh [Nha Trang], Trần Hưng Đạo [Đà
Lạt], Nguyễn Đình Chiểu [Mỹ Tho] dành cho nam sinh và các
trường Trưng Vương, Gia Long, Lê Văn Duyệt, Trường Nữ Trung
học Đồng Khánh [Huế], Trường Nữ Trung Học Bùi Thị Xuân
[Đà Lạt], Trường Nữ Trung Học Lê Ngọc Hân [Mỹ Tho],
Trường Nữ Trung Học Đoàn Thị Điểm [Cần Thơ] chỉ dành cho
nữ sinh.
Học sinh Trung Học lúc bấy giờ phải mặc đồng phục: Nữ
sinh thì áo dài trắng, quần trắng hay đen; còn nam sinh thì mặc
áo sơ mi trắng, quần màu xanh dương.
<div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/03/ne1bbaf-sinh-lc3aa-vc483n-duye1bb87t.jpg?w=550&h=550"
/><div class="textholder"></div></div>
<center><em>Nữ Sinh Lê Văn Duyệt</em></center>
<h2>Trung học tổng hợp:</h2>
Chương trình giáo dục Trung Học Tổng Hợp (Tiếng Anh:
Comprehensive High School) là mộtchương trình giáo dục thực tiễn
phát sinh từ quan niệm giáo dục của triết gia John Dewey,sau này
được nhà giáo dục người Mỹ là James B. Connant hệ thống
hóa và đem áp dụng cho các trường Trung Học Hoa Kỳ. Giáo dục
trung học tổng hợp chú trọng đến khía cạnh thực tiễn và
hướng nghiệp, đặt nặng vào các môn tư vấn, kinh tế gia
đình, kinh doanh, công-kỹ nghệ, v.v… nhằm trang bị cho học
sinh những kiến thức thực tiễn, giúp họ có thể mưu sinh sau
khi rời trường trung học. Ở từng địa phương, phụ huynh
học sinh và các nhà giáo có thể đề nghị những môn học
đặc thù khả dĩ có thể đem ra ứng dụng ở nơi mình sinh
sống.
Thời Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa chính phủ cho thử nghiệm
chương trình Trung Học Tổng Hợp, nhập đệ nhất và đệ nhị
cấp lại với nhau. Học trình này được áp dụng đầu tiên
tại Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức [khai giảng niên
khóa đầu tiên vào tháng 10 năm 1965] , sau đó mở rộng cho một
số trường như Nguyễn An Ninh [cho nam sinh; 93 đường Trần Nhân
Tông, Quận 10] và Sương Nguyệt Ánh [cho nữ sinh; góc đường
Bà Hạt và Vĩnh Viễn, gần chùa Ấn Quang] ở Sài Gòn, và
Chưởng Binh Lễ ở Long Xuyên.
<div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/nhe1baa1c-sc4a9-nguye1bb85n-c491e1bba9c-quang-ce1baa7m-c491c3a0n-trong-me1bb99t-bue1bb95i-sinh-hoe1baa1t-ce1bba7a-nhc3b3m-du-ca-ve1bb9bi-cc3a1c-he1bb8dc-sin.jpg?w=550&h=549"
/><div class="textholder"></div></div>
<center><em>Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang (cầm đàn) trong một buổi
sinh hoạt của nhóm Du Ca với các học sinh trường Trung Học
Kiểu Mẫu Thủ Đức vào cuối thập niên 1960</em></center>
<h2>Bổ sung</h2> <strong>[theo góp ý của độc giả
Nguyễn]</strong>:
<strong>Ở Huế:</strong> Ngày 4-8-1964 trường Đại Học Sư Phạm
Huế đã thành lập một trường Trung Học trực thuộc mang tên
Trung Học Kiểu Mẫu Huế (khai giảng niên khóa đầu tiên gồm 8
lớp, 320 học sinh, 24 nhà giáo, 7 nhân viên, với hiệu trưởng
Trần Kim Nở).
<strong>Ở Cần Thơ</strong>: Năm 1966, Trung Học Kiểu Mẫu Cần
Thơ được thành lập thuộc Phân Khoa Sư phạm của Viện Đại
Học Cần Thơ.
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/12/ce1bb95ng-trc6b0e1bb9dng-trung-he1bb8dc-kie1bb83u-me1baabu-hue1babf-1964-1975.jpg?w=550&h=550"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<em><center>Cổng trường Trung Học Kiểu Mẫu Huế
1964-1975</center></em>
<h2>Trung học kỹ thuật:</h2>
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/trc6b0e1bb9dng-que1bb91c-gia-nc3b4ng-lc3a2m-me1bba5c-blao-2.jpg?w=550"
/><div
class="textholder"></div></div></center>
<center><em>Trường Quốc-Gia Nông-Lâm-Mục B'Lao</em></center>
Các trường trung học kỹ thuật nằm trong hệ thống giáo dục
kỹ thuật, kết hợp việc dạy nghề với giáo dục phổ thông.
Các học sinh trúng tuyển vào trung học kỹ thuật thường
được cấp học bổng toàn phần hay bán phần. Mỗi tuần học
42 giờ; hai môn ngoại ngữ bắt buộc là Tiếng Anh và Tiếng
Pháp.
Các trường trung học kỹ thuật có mặt hầu hết ở các
tỉnh, thành phố; ví dụ, công lập thì có Trường Trung học
Kỹ thuật Cao Thắng (thành lập năm 1956; tiền thân là Trường
Cơ khí Á Châu thành lập năm 1906 ở Sài Gòn; nay là Trường Cao
Đẳng Kỹ Thuật Cao Thắng, Trường Trung Học Nông Lâm Súc Bảo
Lộc, Trường Trung Học Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ; tư
thục thì có Trường Trung Học Kỹ Thuật Don Bosco [do các tu sĩ
Dòng Don Bosco thành lập năm 1956 ở Gia Định; nay là Trường
Đại Học Công Nghiệp TPHCM.]
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/hie1bb87u-trc6b0e1bb9fng-cao-thanh-c491e1baa3nh-vc3a0-cc3a1c-gic3a1o-trc6b0e1bb9dng-trung-he1bb8dc-ke1bbb9-thue1baadt-cao-the1baafng.jpg?w=550&h=550"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<center>Hiệu trưởng Cao Thanh Đảnh và các Giáo Sư trường trung
học kỹ thuật Cao Thắng.</center>
<h2>Các trường tư thục và Quốc Gia Nghĩa Tử</h2>
<strong>Các trường tư thục và Bồ Đề:</strong>
[video:http://www.youtube.com/watch?feature=player_embedded&v=gxhaxaLAGVE]
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/le1bb83-ke1bbb7-nie1bb87m-100-nc483m-thc3a0nh-le1baadp-ce1bba7a-trc6b0e1bb9dng-lasan-taberd-17-thc3a1ng-2-nc483m-1974-h08.jpg?w=550&h=550"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<em><center>Lễ kỷ niệm 100 năm thành lập của trường Lasan
Taberd 17 tháng 2 năm 1974</center></em>
Ngoài hệ thống trường công lập của chính phủ là hệ thống
trường tư thục. Vào năm 1964 các trường tư thục giáo dục
28% trẻ em tiểu học và 62% học sinh trung học. Đến niên học
1970-1971 thì trường tư thục đảm nhiệm 17,7% học sinh tiểu
học và 77,6% học sinh trung học.
Con số này tính đến năm 1975, Việt Nam Cộng Hòa có khoảng 1,2
triệu học sinh ghi danh học ở hơn 1.000 trường tư thục ở
cả hai cấp tiểu học và trung học. Các trường tư thục nổi
tiếng như Lasan Taberd dành cho nam sinh; Couvent des Oiseaux, Saint
Paul, Regina Pacis [Nữ vương Hòa bình], Nguyễn Bá Tòng, Hưng
Đạo, và Regina Mundi (Nữ vương Thế giới) dành cho nữ sinh.
Bốn trường này nằm dưới sự điều hành của Giáo Hội Công
Giáo.
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/sc3a2n-trc6b0e1bb9dng-bc3a1c-c3a1i-collc3a8ge-fraternitc3a9.jpg?w=902&h=1197"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<center><em>Sân Trường Bác Ái (Collège Fraternité)</em></center>
Trường Bác Ái (Collège Fraternité) ở Chợ Quán với đa số
học sinh là người Việt gốc Hoa cũng là một tư thục có
tiếng do các thương hội người Hoa bảo trợ. Giáo hội Phật
giáo Việt Nam Thống Nhất có hệ thống các trường tiểu học
và trung học Bồ Đề ở nhiều tỉnh thành, tính đến năm 1970
trên toàn quốc có 137 trường Bồ đề, trong đó có 65 trường
trung học với tổng số học sinh là 58.466.
Ngoài ra còn có một số trường do chính phủ Pháp tài trợ như
Marie Curie, Colette, và Saint-Exupéry. Kể từ năm 1956, tất cả
các trường học tại Việt Nam, bất kể trường tư hay trường
do ngoại quốc tài trợ, đều phải dạy một số giờ nhất
định cho các môn quốc văn và lịch sử Việt Nam.
Chương trình học chính trong các trường tư vẫn theo chương
trình mà Bộ Quốc Gia Giáo Dục đã đề ra, dù có thể thêm
một số giờ hoặc môn kiến thức thêm.
Sau năm 1975, dưới chính thể Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt
Nam tổng cộng có 1.087 trường tư thục ở miền Nam Việt Nam
bị giải thể và trở thành trường công [hầu hết mang tên
mới.]
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/le-collc3a8ge-fraternitc3a9-bac-ai-datant-de-1908-se-situe-4-rue-nguyc3aan-trai-cho-quan.jpg?w=550&h=550"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<center><strong>Le Collège Fraternité – Bac Ai datant de 1908, se situe 4
– rue Nguyên Trai, Cho Quan.</strong></center>
<h2>Các trường Quốc Gia Nghĩa Tử:</h2>
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/saigon-17-march-1971-bc3a0-nguye1bb85n-vc483n-thie1bb87u-de1bbb1-le1bb85-khc3a1nh-thc3a0nh-thc6b0-vie1bb87n-trc6b0e1bb9dng-qg-nghc4a9a-te1bbad.jpg?w=550&h=550"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<center><em>
Saigon 17 March 1971 – Bà Nguyễn Văn Thiệu dự lễ khánh thành
Thư viện trường Quốc Gia Nghĩa Tử.</em></center>
Ngoài hệ thống các trường công lập và tư thục kể trên,
Việt Nam Cộng Hòa còn có hệ thống thứ ba là các trường
Quốc Gia Nghĩa Tử. Tuy đây là trường công lập, nhưng không
đón nhận học sinh bình thường mà chỉ dành riêng cho các con
em của tử sĩ, hoặc thương phế binh của Quân Lực Việt Nam
Cộng Hòa - như là một đặc ân của chính phủ giúp đỡ không
chỉ phương tiện học hành mà cả việc nuôi dưỡng.
Hệ thống này bắt đầu hoạt động từ năm 1963 ở Sài Gòn,
sau khai triển thêm ở Đà Nẵng, Cần Thơ, Huế, và Biên Hòa.
Tổng cộng có 7 cơ sở với hơn 10.000 học sinh. Loại trường
này do Bộ Cựu Chiến Binh quản lý chứ không phải Bộ Quốc
Gia Giáo Dục, nhưng vẫn dùng giáo trình của Bộ Quốc Gia Giáo
Dục.
Chủ đích của các trường Quốc gia nghĩa tử là giáo dục
phổ thông và hướng nghiệp cho các học sinh chứ không được
huấn luyện quân sự. Vì vậy trường Quốc Gia Nghĩa Tử khác
trường Thiếu Sinh Quân. Sau năm 1975, các trường quốc gia nghĩa
tử cũng bị giải thể.
[video:http://www.youtube.com/watch?feature=player_embedded&v=gxhaxaLAGVE]
<h2>Giáo dục đại học:</h2>
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/viendaihocvanhanh-saigon.jpg?w=550&h=550"
/><div class="textholder"></div></div></center>
Học sinh đậu được Tú Tài II thì có thể ghi danh vào học ở
một trong các viện Đại Học, trường Đại Học, và học
viện trong nước. Tuy nhiên vì số chỗ trong một số trường
rất có giới hạn nên học sinh phải dự một kỳ thi tuyển có
tính chọn lọc rất cao; các trường này thường là Y, Dược,
Nha, Kỹ Thuật, Quốc gia hành chánh và Sư Phạm.
Việc tuyển chọn dựa trên khả năng của thí sinh, hoàn toàn
không xét đến lý lịch gia đình. Sinh viên học trong các cơ
sở giáo dục công lập thì không phải đóng tiền. Chỉ ở
một vài trường hay phân khoa đại học thì sinh viên mới đóng
lệ phí thi vào cuối năm học. Ngoài ra, chính phủ còn có
những chương trình học bổng cho sinh viên.
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/trong-khuc3b4n-vic3aan-he1bb8dc-vie1bb87n-que1bb91c-gia-hc3a0nh-chc3a1nh-h2.jpg?w=550"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<em><center>Trong khuôn viên Học Viện Quốc Gia Hành
Chánh</center></em>
<h2>Số liệu giáo dục bậc đại học:</h2>
Niên học Số sinh viên
1960-61 11.708[45]
1962 16.835[10]
1964 20.834[10]
1974-75 166.475[46]
Chương trình học trong các cơ sở giáo dục đại học được
chia làm ba cấp. Cấp 1 (học 4 năm): Nếu theo hướng các ngành
nhân văn, khoa học, v.v.. thì lấy bằng Cử Nhân (ví dụ: cử
nhân Triết, cử nhân Toán…); nếu theo hướng các ngành chuyên
nghiệp thì lấy bằng Tốt nghiệp (ví dụ: bằng tốt nghiệp
Trường Đại Học Sư Phạm, bằng tốt nghiệp Học viện Quốc
Gia Hành Chánh…) hay bằng Kỹ Sư (ví dụ: Kỹ Sư Điện, kỹ
Sư Canh nông…). Cấp 2: học thêm 1-2 năm và thi lấy bằng Cao
Học hay Tiến Sĩ đệ tam cấp (tiếng Pháp: Docteurde Troisième
Cycle; tương đương Thạc sĩ ngày nay). Cấp 3: học thêm 2-3 năm
và làm luận án thì lấy bằng Tiến Sĩ (tương đương với
bằng Ph.D. của Hoa Kỳ).
Riêng ngành y, vì phải có thời gian thực tập ở bệnh viện
nên sau khi học xong chương trình dự bị y khoa phải học thêm 6
năm, hay lâu hơn mới xong chương trình đại học.
<h2>Bổ sung của độc giả Trần Thạnh (26.12.2013)</h2>:
Việt Nam Cộng có nhiều trí thức tốt nghiệp từ Pháp và Hoa
Kỳ nên có hai hệ thống bằng cấp khác nhau:
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/12/normale11.gif?w=550&h=566"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<center><em>Thạc Sĩ người Việt đầu tiên là ông Phạm Duy
Khiêm, bào huynh của nhạc sĩ Phạm Duy. Ecole Normale
Supérieure.</em></center>
<em><center>
Ðánh dấu hoa* là ôngPhạm Duy Khiêm. Ðánh dấu X là Tổng
Thống Pháp Georges Pompidou</center></em>
<strong>Theo hệ thống của Pháp </strong>(ngày trước):
- Cử Nhân (Licencié), Cao Học (DEA), Tiến Sĩ Đệ Tam Cấp
(Doctorat de 3è cycle), Tiến Sĩ Quốc Gia (Doctorat d'État).
<strong>Theo hệ thống của Hoa Kỳ</strong>:
- Cử Nhân (Bachelor), Master (trước 1975 chưa có từ ngữ dịch
chính xác bằng cấp này), Tiến Sĩ (PhD).
Khó có thể so sánh Master và Tiến Sĩ Đệ Tam Cấp vì học
trình hai bên khác nhau. ( Hiện nay trong nước dịch Master là
Thạc Sĩ gây hiểu lầm cho nhiều người ).
Từ "Thạc Sĩ " trước đây được dùng để chỉ những người
thi đậu một kỳ thi rất khó của Pháp (Agrégation). Người thi
đậu được gọi là Agrégé. Không có từ tiếng Anh tương
đương cho từ này.
<center>
<div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/luat-khoa-sai-gon.jpg?w=550&h=550"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<center><em>Đại Học Luật Khoa Sài Gòn</em></center>
<h2>Mô hình các cơ sở giáo dục đại học:</h2>
Phần lớn các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam thời Việt
Nam Cộng Hòa được tổ chức theo mô hình Viện Đại Học (theo
Việt-Nam Tự-Điển của Hội khai trí Đức Tiến: Viện = Nơi,
sở).
Đây là mô hình tương tự như <em>university</em> của Hoa Kỳ và
Tây Âu, cùng với nó là hệ thống đào tạo theo tín chỉ
(Tiếng Anh: Credit). Mỗi viện đại học bao gồm nhiều Phân khoa
đại học (Tiếng Anh: Faculty; thường gọi tắt là phân khoa, ví
dụ: Phân Khoa Y, Phân Khoa Sư Phạm, Phân Khoa Khoa Học, v.v…)
hoặc Trường hay Trường Đại học (Tiếng Anh: School hay College;
ví dụ: Trường Đại Học Nông Nghiệp, Trường Đại Học Kỹ
Thuật, v.v…).
Trong mỗi Phân Khoa Đại Học hay Trường Đại Học có các
ngành (ví dụ: ngành Điện Tử, ngành Công Chánh, v.v…); về
mặt tổ chức, mỗi ngành tương ứng với một ban (Tiếng Anh:
Department; tương đương với đơn vị khoa hiện nay).
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/c491e1baa1i-he1bb8dc-sc6b0-phe1baa1m-ke1bbb9-thue1baadt-the1bba7-c491e1bba9c-h3.jpg?w=550&h=550"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<em><center>Trường Đại học Giáo Dục: Tiền thân là Trung Tâm
Huấn Luyện Sư Phạm Kỹ thuật</center></em>
Về mặt tổ chức, viện đại học của Việt Nam Cộng Hòa duy
trì đường lối phi chính trị của các đại học Tây Phương.
Các khoa trưởng của các trường phân khoa không do Bộ Quốc gia
Giáo dục bổ nhiệm mà do các giáo sư của Hội đồng Khoa bầu
lên.
Trong hai thập niên 1960 và 1970, lúc hội nghị Hòa Bình đang
diễn ra ở Paris, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ráo riết lên
kế hoạch tái thiết sau chiến tranh, với viễn cảnh là hòa
bình sẽ lập lại ở Việt Nam, một chính phủ liên hiệp sẽ
được thành lập, người lính từ các bên trở về cần
được đào tạo để tái hòa nhập vào xã hội. Trong khuôn
khổ kế hoạch đó, có hai mô hình cơ sở giáo dục đại học
mới và mang tính thực tiễn được hình thành, đó là trường
đại học cộng đồng và viện đại học bách khoa.
Trường đại học cộng đồng là một cơ sở giáo dục đại
học sơ cấp và đa ngành; sinh viên học ở đây để chuyển
tiếp lên học ở các viện đại học lớn, hoặc mở mang kiến
thức, hoặc học nghề để ra làm việc.
Các trường đại học cộng đồng được thành lập với sự
tham gia đóng góp, xây dựng, và quản trị của địa phương
nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển ở địa phương trong các
mặt văn hóa, xã hội, và kinh tế. Khởi điểm của mô hình
giáo dục này là một nghiên cứu của ông Đỗ Bá Khê tiến
hành vào năm 1969 mà các kết quả sau đó được đưa vào một
luận án tiến sĩ trình ở Viện Đại học Southern California vào
năm 1970 với tựa đề The Community College Concept: A Study of its
Relevance to Postwar Reconstruction in Vietnam [Khái niệm trường đại
học cộng đồng:Nghiên cứu sự phù hợp của nó với công
cuộc tái thiết hậu chiến ở Việt Nam].
Cơ sở đầu tiên được hình thành là Trường Đại Học Cộng
Đồng Tiền Giang, thành lập vào năm 1971 ở Định Tường sau
khi mô hình giáo dục mới này được mang đi trình bày sâu
rộng trong dân chúng.
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/25-khach_vieng_truong_01.jpg?w=550&h=550y"
/><div class="textholder">div></div></center>
<em><center>Trường Đại Học Giáo Dục: Tiền thân là Trung tâm
Huấn luyện Sư phạm Kỹ thuật</center></em>
Vào năm 1973, Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức (tên tiếng
Anh: Thủ Đức Polytechnic University, gọi tắt là Thủ Đức Poly)
được thành lập. Đây là một cơ sở giáo dục đại học đa
ngành, đa lĩnh vực, và chú trọng đến các ngành thực tiễn.
Trong thời gian đầu, Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức có
các trường đại học chuyên về Nông Nghiệp, Kỹ Thuật, Giáo
Dục, Khoa Học và Nhân Văn, Kinh tế và Quản trị, và Thiết
kế đô thị; ngoài ra còn có trường đào tạo sau đại học.
Theo kế hoạch, các cơ sở giáo dục đều được gom chung lại
trong một khuôn viên rộng lớn, tạo một môi trường gợi
hứng cho trí thức suy luận, với một cảnh trí được thiết
kế nhằm nâng cao óc sáng tạo; quản lý hành chính tập trung
để tăng hiệu năng và giảm chi phí.
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/trc6b0e1bb9dng-sc6b0-phe1baa1m-thue1bb99c-vie1bb87n-c491h-sc3a0i-gc3b2n.jpg?w=550&h=550"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<center><em>Trường Sư Phạm, thuộc Viện Đại Học Sài
Gòn</em></center>
Sau năm 1975, dưới chính thể Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt
Nam, toàn bộ các cơ sở giáo dục đại học thời Việt Nam
Cộng hòa bị đổi tên và bị phân tán theo khuôn mẫu giáo
dục của Liên Xô nên không còn mô hình theo đó các trường hay
phân khoa đại học cấu thành viện đại học, mà mỗi trường
trở nên biệt lập.
Giáo dục đại học Việt Nam dưới các chính thể Việt Nam Dân
Chủ Cộng Hòa và Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam theo mô
hình phân tán ngành học. Các "trường đại học bách khoa"
được thành lập dưới hai chính thể này ( Trường Đại Học
Bách Khoa Hà Nội, Trường Đại học Bách Khoa TPHCM, và Trường
Đại Học Bách Khoa Đà Nẵng) không giống như mô hình viện
đại học bách khoa vì chỉ tập trung vào các ngành kỹ thuật
tương tự, mô hình "trường đại học tổng hợp" (Trường
Đại Học Tổng Hợp Hà Nội, Trường Đại Học Tổng Hợp
TPHCM và Trường Đại Học Tổng Hợp Huế) cũng chỉ tập trung
vào các ngành khoa học cơ bản, chứ không mang tính chất toàn
diện.
Đến đầu thập niên 1990, chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ
nghĩa Việt Nam mới thành lập 2 "đại học" cấp quốc gia và 3
"đại học" cấp vùng theo mô hình gần giống như mô hình viện
đại học. Vào tháng 10 năm 2009, một số đại biểu của Quốc
Hội Nước CHXHCN Việt Nam đưa ra đề nghị gọi tên các "đại
học" cấp quốc gia và cấp vùng là "viện đại học."
Các viện đại học công lập:
<h2>Viện Đại Học Sài Gòn</h2>: Tiền thân là Viện Đại Học
Đông Dương (1906), rồi Viện Đại Học Quốc Gia Việt Nam
(1955)– còn có tên là Viện Đại Học Quốc Gia Sài Gòn. Năm
1957, Viện Đại Học Quốc Gia Việt Nam đổi tên thành Viện
Đại Học Sài Gòn. Đây là viện đại học lớn nhất nước.
Trước năm 1964, Tiếng Việt lẫn Tiếng Pháp được dùng để
giảng dạy ở bậc đại học, nhưng sau đó thì chỉ dùng
tiếng Việt mà thôi theo chính sách ngôn ngữ theo đuổi từ năm
1955. Riêng Trường Đại Học Y Khoa dùng cả tiếng Anh.
Vào thời điểm năm 1970, hơn 70% sinh viên đại học trên toàn
quốc ghi danh học ở Viện Đại Học Sài Gòn.
<h2>Viện Đại Học Huế</h2>: Thành lập vào tháng 3 năm 1957
với 5 phân khoa đại học: Khoa Học, Luật, Sư Phạm, Văn Khoa,
và Y Khoa.
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/hc3a0ng-c491e1baa7u-bc3aan-trc3a1i-c3b4ng-nguye1bb85n-c491c483ng-trc3acnh-be1bb99-trc6b0e1bb9fng-be1bb99-qg-gic3a1o-de1bba5c-vie1bb87n-trc6b0e1bb9fng-vi.jpg?w=550&h=550"
/><div class="textholder"></div></div>
</center>
<em><center>Hàng đầu bên trái: Ông Nguyễn Đăng Trình Bộ
Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục, Viện Trưởng Viện Đại Học
Huế đầu tiên [tháng 3/1957-7/1957 ].Ở giữa: Tổng thống Việt
Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm. Bên Phải: Linh Mục Giáo sư Cao
Văn Luận, Viện trưởng Viện Đại học Huế từ
7/1957-1965</center></em>.
<h2>Viện Đại Học Cần Thơ</h2>: Thành lập năm 1966 với 4 phân
khoa đại học: Khoa Học, Luật Khoa & Khoa Học Xã Hội, Sư
Phạm, và Văn Khoa.
<h2>Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức</h2>: Thành lập năm 1974.
Tiền thân là Trung Tâm Quốc gia Kỹ Thuật (1957), Học Viện
Quốc gia Kỹ Thuật (1972).
<h2>Các viện đại học tư thục:</h2>
<center>Viện Đại Học Đà Lạt</center>: Thành lập ngày 8 tháng
8 năm 1957. Một phần cơ sở của Viện Đại Học Đà Lạt
nguyên là một chủng viện của Giáo Hội Công Giáo. Viện đại
học này có 4 phân khoa đại học: Chính Trị Kinh Doanh, Khoa
Học, Sư Phạm, Thần Học và Văn Khoa. Theo ước tính, từ năm
1957 đến 1975 viện đại học này đã giáo dục 26.551 người.
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/vie1bb87n-c491e1baa1i-he1bb8dc-c491c3a0-le1baa1t.jpg?w=550&h=492"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<em><center>Viện Đại Học Đà Lạt</center></em>
<center>Viện Đại Học Vạn Hạnh</center>: Thuộc khối Ấn Quang
của Giáo Hội Phật Giáo hội Việt Nam Thống Nhất; thành lập
ngày 17 tháng 10 năm 1964 ở số 222 đường Trương Minh Giảng
(sau 1975 là đường Lê Văn Sỹ), Quận 3, Sài Gòn-Gia Định với
5 phân khoa đại học: Giáo Dục, Phật Học, Khoa Học Xã Hội,
Khoa Học Ứng Dụng, và Văn Học & Khoa Học Nhân văn. Vào đầu
thập niên 1970, Vạn Hạnh có hơn 3.000 sinh viên.
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/le1bb85-phc3a1t-be1bab1ng-ce1bbad-nhc3a2n-ce1bba7a-vie1bb87n-c491e1baa1i-he1bb8dc-ve1baa1n-he1baa1nh-1973.jpg?w=550&h=550"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<em><center>Lễ phát bằng Cử Nhân của Viện Đại Học Vạn
Hạnh, 1973</center></em>
<h2>Viện Đại Học Phương Nam</h2>: Được cấp giấy phép năm
1967 tọa lạc ở số 16 đường Trần Quốc Toản (sau năm 1975
là đường 3/2 ), quận 10, Sài Gòn. Viện đại học này thuộc
khối Việt Nam Quốc Tự của Hội Phật Giáo Việt Nam Thống
Nhất, Giáo sư Lê Kim Ngân làm viện trưởng.
Viện Đại học Phương Nam có 3 phân khoa đại học: Kinh
Tế-Thương Mại, Ngoại Ngữ, và Văn Khoa. Vào thập niên 1970,
viện đại học này có khoảng 750 sinh viên ghi danh.
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/thc6b0-vie1bb87n-c491e1baa1i-he1bb8dc-ve1baa1n-he1baa1nh-sc3a0i-gc3b2n.jpg?w=550&h=550"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<em><center>Thư viện Đại Học Vạn Hạnh Sài Gòn</center></em>
<h2>Viện Đại Học An Giang [Hòa Hảo]</h2>: Thành lập năm 1970
ở Long Xuyên với 5 phân khoa đại học: Văn Khoa, Thương
Mại-Ngân Hàng, Bang Giao Quốc Tế, Khoa Học Quản Trị và Sư
Phạm. Viện Đại Học này trực thuộc Giáo Hội Phật Giáo Hòa
Hảo.
<h2>Viện Đại Học Cao Đài</h2>: Thành lập năm 1971 trên
đường Ca Bảo Đạo ở Tây Ninh với 3 phân khoa đại học:
Thần Học Cao Đài, Nông Lâm Mục, và Sư Phạm. Viện Đại Học
này trực thuộc Giáo Hội Cao Đài.
<h2>Viện Đại Học Minh Đức</h2>: Được cấp giấy phép năm
1972, trụ sở ở Sài Gòn với 5 phân khoa đại học: Kỹ Thuật
Canh Nông, Khoa Học Kỹ Thuật, Kinh Tế Thương Mại, Nhân Văn
Nghệ Thuật, và Y Khoa. Viện Đại học này do Giáo Hội Công
Giáo điều hành.
<h2>Các học viện và viện nghiên cứu:</h2>
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/vinpasteur.jpg?w=550&h=550"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<center><em>Viện Pasteur Nha Trang</em></center>
<h2>Học Viện Quốc Gia Hành Chính</h2>: Cơ sở này được thành
lập từ thời Quốc Gia Việt Nam với văn bản ký ngày 29 tháng
5 năm 1950 nhằm đào tạo nhân sự chuyên môn trong lãnh vực
công quyền như thuế vụ và ngoại giao. Trường sở đặt ở
Đà Lạt; năm 1956 thì dời về Sài Gòn đặt ở đường
Alexandre de Rhodes; năm 1958 thì chuyển về số 100 đường Trần
Quốc Toản [gần góc đường Cao Thắng, sau năm 1975 là đường
3/2], Quận10, Sài Gòn.
Học viện này trực thuộc Phủ Thủ Tướng hay Phủ Tổng
Thống, đến năm 1973 thì thuộc Phủ Tổng Ủy Công Vụ. Học
viện có chương trình hai năm cao học, chia thành ba ban cao học,
đốc sự, và tham sự.
<h2>Học Viện Quốc Gia Nông Nghiệp</h2> (1972-1974): Tiền thân là
Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc (1962-1968), Trung Tâm Quốc gia
Nông Nghiệp (1968-1972) rồi nhập vào Viện Đại Học Bách Khoa
Thủ Đức năm 1974.
Ngoài những học viện trên, Việt Nam Cộng hòa còn duy trì một
số cơ quan nghiên cứu khoa học như Viện Pasteur Sài Gòn, Viện
Pasteur Đà Lạt, Viện Pasteur Nha Trang, Viện Hải Dương học Nha
Trang, Viện Nguyên Tử Lực Đà Lạt, Viện Khảo Cổ v.v… với
những chuyên môn đặc biệt.
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/sa_gon__entr_e_de_l_institut_pasteur.jpg?w=593
/><div class="textholder"></div></div></center>
<h2>Các trường đại học cộng đồng:</h2>
Bắt đầu từ năm 1971 chính phủ mở một số trường đại
học cộng đồng (theo mô hình community college của Hoa Kỳ) như
Trường Đại Học Cộng Đồng Tiền Giang ở Mỹ Tho, Duyên Hải
ở Nha Trang, Quảng Đà ở Đà Nẵng (1974), và Long Hồ ở Vĩnh
Long.
Trường Đại Học Cộng Đồng Tiền Giang đặt trọng tâm vào
nông nghiệp; Trường Đại Học Cộng Đồng Duyên Hải hướng
về ngư nghiệp. Riêng Trường Long Hồ còn đang dang dở chưa
hoàn tất thì chính thể Việt Nam Cộng hòa bị giải tán.
Ở Sài Gòn có Trường Đại Học Regina Pacis (khai giảng vào năm
1973) dành riêng cho nữ sinh do Công Giáo thành lập, và theo
triết lý đại học cộng đồng.
<h2>Các trường kỹ thuật và huấn nghệ:</h2>
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/trc6b0e1bb9dng-ke1bbb9-sc6b0-cc3b4ng-nghe1bb87-trc6b0e1bb9dng-hc3a0ng-he1baa3i-thue1bb99c-trung-tc3a2m-que1bb91c-gia-ke1bbb9-thue1baadt.jpg?w=550"
/><div class="textholder">y</div></div></center>
<center><em>Trường Kỹ Sư Công Nghệ, Trường Hàng Hải thuộc
Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật</em></center>
Ngoài những trường đại học còn có hệ thống trường cao
đẳng như Trường Bách Khoa Phú Thọ và Trường Nông lâm Súc.
Một số những trường này sang thập niên 1970 được nâng lên
tương đương với cấp đại học.
<h2>Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục</h2>: Thoạt tiên là Nha Khảo
Cứu Đông Dương thành lập năm 1930 ở B'lao, cơ sở này đến
năm 1955 thì nâng lên thành Trường Quốc Gia Nông lâm mục với
chương trình học bốn năm. Diện tích vườn thực nghiệm rộng
200 ha chia thành những khu chăn nuôi gia súc,vườn cây công
nghiệp, lúa thóc. Qua từng giai đoạn, trường đổi tên thành
Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc (1962-1968), Trung Tâm Quốc Gia
Nông Nghiệp (1968-1972), Học Viện Quốc Gia Nông Nghiệp
(1972-1974). Cuối cùng Trường Quốc Gia Nông lâm Mục được sáp
nhập vào Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức ( có trụ sở ở
số 45 đường Cường Để, Quận 1, Sài Gòn). Trường còn có
chi nhánh ở Huế, Cần Thơ, và Bình Dương.
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/trc6b0e1bb9dng-cao-c491e1bab3ng-c491e1bb87n-he1bb8dc.jpg?w=550&h=550"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<em><center>Trường Cao Đẳng Điện Học</center></em>
<h2>Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ</h2>: Thành lập năm 1957 thời
Đệ Nhất Cộng Hoà gồm bốn trường: Trường Cao Đẳng Công
Chánh, Trường Cao Đẳng Điện Học, Trường Quốc Gia Kỹ Sư
Công Nghệ, và Trường Việt Nam Hàng Hải. Năm 1968 lập thêm
Trường Cao Đẳng Hóa Học. Năm 1972, Trung Tâm Quốc Gia Kỹ
Thuật đổi thành Học Viện Quốc Gia Kỹ Thuật và đến năm
1974 thì nhập với Trường Đại Học Nông Nghiệp để tạo nên
Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức
<h2>Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia</h2>: Thành lập năm 1966 để
đào tạo nhân viên giữ an ninh và thi hành luật pháp.
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/12/khc3b3a-2-ce1baa3nh-sc3a1t-que1bb91c-gia.jpg?w=550&h=550"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<center><em>Khóa 2 Cảnh Sát Quốc Gia</em></center>
<h2>Các trường nghệ thuật</h2>:
Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ: Thành lập ngày 12
tháng 4 năm 1956 dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Chương trình
học sau được bổ túc để bao gồm các bộ môn âm nhạc cổ
điển Tây Phương và truyền thống Việt Nam cùng kịch nghệ.
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/cc3a1c-gic3a1o-sc6b0-trc6b0e1bb9dng-que1bb91c-gia-c3a2m-nhe1baa1c-vc3a0-ke1bb8bch-nghe1bb87-c491e1bb93ng-te1baa5u-tre1baa7n-thanh-tc3a2m-c491e1bb9dn-k.jpg?w=550&h=550"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<em><center>Các giáo sư Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ
đồng tấu: Trần Thanh Tâm [đờn kìm], Phan Văn Nghị [đờn
cò], Trương Văn Đệ [đờn tam], Vũ Văn Hòa [sáo] và Nguyễn
Vĩnh Bảo [đờn tranh].</center></em>
<h2>Trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế</h2> Thành lập năm 1962 ở
cố đô Huế chủ yếu dạy âm nhạc cổ truyền Việt Nam,dùng
nhà hát Duyệt Thị Đường trong Kinh Thành Huế làm nơi giảng
dạy.
<h2>Trường Quốc Gia Trang Trí Mỹ Thuật</h2>: Thành lập năm
1971, trên cơ sở nâng cấp Trường Trung học Trang trí Mỹ
thuật Gia Định [tiền thân là Trường Mỹ Nghệ Gia Định,
thành lập năm 1940.]
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/bue1bb95i-he1bb8dc-hc3acnh-he1bb8da-te1baa1i-le1bb9bp-de1bbb1-be1bb8b-ce1bba7a-trc6b0e1bb9dng-que1bb91c-gia-me1bbb9-thue1baadt-sc3a0i-gc3b2n-c491e1baa7.jpg?w=550&h=550"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<center><em>Buổi học hình họa tại lớp dự bị của trường
Quốc gia Mỹ thuật Sài Gòn đầu thập niên 60</em></center>
<h2>Trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn</h2>: Thành
lập sau năm 1954; chuyên đào tạo về nghệ thuật tạo hình
với các chương trình học 3 và 7 năm. Vị giám đốc đầu tiên
là họa sĩ Lê Văn Đệ [1954-1966.]
<h2>Sinh viên du học ngoại quốc:</h2>
Một số sinh viên bậc đại học được cấp giấy phép đi du
học ở nước ngoài. Hai quốc gia thu nhận nhiều sinh viên Việt
Nam vào năm 1964 là Pháp (1.522) và Hoa Kỳ (399), đa số theo học
các ngành khoa học xã hội và kỹ sư.
<h2>TÀI LIỆU VÀ DỤNG CỤ GIÁO KHOA</h2>
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/sc3a1ch-gic3a1o-khoa1.jpg?w=550&h=550"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<em><center>Trang trong sách Địa Lý Lớp Ba</center></em>
Truyện Kiều bản chữ Nôm của Chiêm Vân Thị do Bộ Giáo Dục
Việt Nam Cộng Hòa xuất bản năm 1967
Năm 1958, chính phủ Đệ Nhất Cộng Hòa cho lập Ban Tu Thư
thuộc Bộ Quốc Gia Giáo Dục để soạn, dịch, và in sách giáo
khoa cho hệ thống giáo dục toàn quốc. Tính đến năm 1962, Bộ
Quốc Gia Giáo Dục đã ấn hành xong 39 đầu sách tiểu học, 83
sách trung học, và 9 sách đại học.[82]
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/sc3a1ch-c491e1bb8ba-lc3bd-le1bb9bp-3-h1.jpg?w=550&h=550"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<center><em>Trang bìa sách Địa Lý Lớp Ba</em></center>
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/sc3a1ch-c491e1bb8ba-lc3bd-le1bb9bp-3.jpg?w=550&h=550"
/><div class="textholder"></div></div></center>
Các giáo chức và họa sĩ làm việc trong Ban Tu Thư đã soạn
thảo trọn bộ sách cho bậc tiểu học. Bộ sách này được
đánh giá cao cả về nội dung lẫn hình thức. Có nhiều sách
đã được viết, dịch, và phát hành để học sinh và sinh viên
có tài liệu tham khảo.
Phần lớn sách giáo khoa và trang thiết bị dụng cụ học tập
do Trung Tâm Học Liệu của Bộ Giáo Dục sản xuất và cung
cấp, với sự giúp đỡ của một số cơ quan nước ngoài. Trung
tâm này còn hợp tác với UNESCO để viết và dịch sách dành
cho thiếu nhi để giúp các em hiểu biết về các nền văn hóa
khác nhau và tạo sự đoàn kết giữa các nhi đồng trên thế
giới. Bộ Giáo Dục cũng dành riêng ngân quỹ để in sách giáo
khoa bậc tiểu học cho gần 30 sắc tộc thiểu số khác nhau ở
Việt Nam.
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/kohoreader.jpg?w=550&h=550"
/><div class="textholder"></div></div></center>
Ngoài ra, để có sự thống nhất trong việc sử dụng các danh
từ chuyên môn, Bộ Giáo Dục cũng đã thiết lập Ủy Ban Quốc
Gia Soạn Thảo Danh Từ Chuyên Môn. bao gồm nhiều giáo sư đại
học. Ủy ban đã soạn thảo và, thông qua Trung Tâm Học Liệu,
ấn hành những tập đầu tiên trong lĩnh vực văn học và khoa
học.[83] Trong những dự án đó Bộ cho in lại nguyên bản
Truyện Kiều bằng chữ Nôm.
<h2>NHÀ GIÁO</h2>
<h2>Đào tạo giáo chức</h2>
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/trc6b0e1bb9dng-c491h-sc6b0-phe1baa1m-thue1bb99c-vie1bb87n-c491h-hue1babf.jpg?w=550&h=550"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<center><em>Trường ĐH Sư Phạm thuộc Viện Đại Học Huế.
Tòa nhà này thời Pháp là Khách Sạn Morin Frères</em></center>
Trường Đại học Sư phạm Sài Gòn thuộc Viện Đại học Sài
Gòn (thành lập vào năm 1957) là cơ sở sư phạm đầu tiên,
bắt đầu khai giảng năm 1958.[84] Sau có thêm các trường Cao
đẳng Sư phạm ở Ban Mê Thuột, Huế, Vĩnh Long, Long An, và Quy
Nhơn, Nha Trang, Mỹ Tho, Cần Thơ, Long Xuyên.
Ngoài ra còn có Trường Đại Học Sư Phạm Huế thuộc Viện
Đại Học Huế và Trường Đại Học Sư Phạm Đà Lạt thuộc
Viện Đại Học Đà Lạt.
Vào thời điểm năm 1974, cả nước có 16 cơ sở đào tạo giáo
viên tiểu học với chương trình hai năm còn gọi là chương
trình sư phạm cấp tốc. Chương trình này nhận những ai đã
đậu được bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp. Hằng năm chương
trình này đào tạo khoảng 2.000 giáo viên tiểu học.
Giáo viên trung học thì phải theo học chương trình của
trường đại học sư phạm [2 hoặc 4 năm]. Sinh viên các
trường sư phạm được cấp học bổng nếu ký hợp đồng 10
năm làm việc cho nhà nước ở các trường công lập sau khi
tốt nghiệp.
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/c491e1bb99i-ngc5a9-gic3a1o-sc6b0-tre1babb-nhie1bb87t-tc3acnh-te1bb91t-nghie1bb87p-c491e1baa1i-he1bb8dc-sc6b0-phe1baa1m-sc3a0i-gc3b2n.jpg?w=550&h=550"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<center><em>Đội ngũ giáo sư trẻ nhiệt tình vừa tốt nghiệp
Đại Học Sư Phạm Sài Gòn</em></center>
Nha Sư Phạm (thuộc Bộ Văn Hóa, Giáo Dục và Thanh Niên) và các
trường sư phạm thường xuyên tổ chức các chương trình tu
nghiệp và các buổi hội thảo giáo dục để giáo chức có
dịp học hỏi và phát triển nghề nghiệp. Bộ Văn hóa, Giáo
dục và Thanh niên cũng gởi gởi nhiều giáo chức đi tu nghiệp
ở các nước như Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Nhật, Đức, v.v…
Đối với giáo sư đại học thì đa số xuất thân từ Viện
Đại Học Đông Dương ở Hà Nội từ trước năm 1954. Số khác
được đào tạo ở Pháp, Đức và Mỹ. Vào năm 1970 tổng cộng
có 941 giáo sư giảng dạy ở các trường đại học của Việt
Nam Cộng hòa.
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/le1bb85-khai-gie1baa3ng-trc6b0e1bb9dng-c491e1baa1i-he1bb8dc-que1bb91c-gia-vie1bb87t-nam-ngc3a0y-15-thc3a1ng-11-nc483m-1945-khc3b3a-c491e1baa7u-tic3aan-dc6b0.jpg?w=550"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<center><em>Lễ khai giảng Trường Đại Học Quốc Gia Việt Nam
ngày 15 tháng 11 năm 1945, khóa đầu tiên dưới chính phủ Việt
Nam Dân Chủ Cộng Hòa</em></center>
<h2>Đời sống và tinh thần giáo chức</h2>
Chỉ số lương của giáo viên tiểu học mới ra trường là 250,
giáo học bổ túc hạng 5 là 320, giáo sư trung học đệ nhất
cấp hạng 4 là 400, giáo sư trung học đệ nhị cấp hạng 5 là
430, hạng 4 là 470.
Với mức lương căn bản như vậy, cộng thêm phụ cấp sư
phạm, nhà giáo ở các thành phố thời Đệ Nhất Cộng Hòa có
cuộc sống khá thoải mái, có thể mướn được người giúp
việc trong nhà.
Sang thời Đệ Nhị Cộng Hòa, đời sống bắt đầu đắt đỏ,
vật giá leo thang, nhà giáo cảm thấy chật vật hơn, nhất là
ở những thành phố lớn như Sài Gòn và Đà Nẵng. Tuy vậy,
lúc nào các nhà giáo cũng giữ vững tinh thần và tư cách của
nhà mô phạm [người mẫu mực, người đóng vai trò hình mẫu],
từ cách ăn mặc thật đứng đắn đến cách ăn nói, giao tiếp
với phụ huynh và học sinh, và với cả giới chức chính quyền
địa phương.
<div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/03/scan_pic0046.jpg" width="550"
/><div class="textholder"></div></div>
<em><center>Một nữ giáo sư trẻ vừa tốt nghiệp trường Đại
Học Sư Phạm.</center></em>
<h2>THI CỬ VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP</h2>
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/tutai1.jpg?w=593" /><div
class="textholder"></div></div></center>
<center><em>Chứng chỉ Tú Tài I </em></center>
Đề thi trắc nghiệm đã được sử dụng cho môn Công dân,
Sử, Địa trong các kỳ thi Tú tài I và Tú tài II từ niên khóa
1965-1966. Đến năm 1974, toàn bộ các môn thi trong kỳ thi tú tài
gồm toàn những câu trắc nghiệm. Các vị thanh tra trong ban
soạn đề thi đều phải đi dự lớp huấn luyện về cách
thức soạn câu hỏi, thử nghiệm các câu hỏi với trên 1.800
học sinh ở nhiều nơi, phân tích câu trả lời của học sinh
để tính độ khó của câu hỏi và trả lời để lựa chọn
hoặc điều chỉnh câu hỏi trắc nghiệm cho thích hợp
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/tutai2.jpg?w=550" /><div
class="textholder"></div></div></center>
<em><center>Chứng chỉ Tú tài II</center></em>
<h2>Chứng chỉ Tú Tài II</h2>
Đầu những năm 1970, Nha Khảo Thí của Bộ Quốc Gia Giáo Dục
đã ký hợp đồng với công ty IBM để điện toán hóa toàn bộ
hồ sơ thí vụ, từ việc ghi danh, làm phiếu báo danh, chứng
chỉ trúng tuyển… đến các con số thống kê cần thiết.
Bảng trả lời cho đề thi trắc nghiệm được đặt từ Hoa
Kỳ, và bài làm của thí sinh được chấm bằng máy IBM 1230.
Điểm chấm xong từ máy chấm được chuyển sang máy IBM 534
để đục lỗ. Những phiếu đục lỗ này được đưa vào máy
IBM 360 để đọc điểm, nhân hệ số, cộng điểm, tính điểm
trung bình, độ lệch chuẩn, chuyển điểm thô ra điểm tiêu
chuẩn, tính thứ hạng trúng tuyển v.v… Nhóm mẫu [sample] và
nhóm định chuẩn [norm group] được lựa chọn kỹ càng theo
đúng phương pháp của khoa học thống kê để tính điểm trung
bình và độ lệch tiêu chuẩn.
<h2>Một số nhà lãnh đạo giáo dục tiêu biểu</h2>
Trong suốt thời gian 20 năm tồn tại, các vị tổng trưởng
[tức bộ trưởng] và thứ trưởng giáo dục của Việt Nam
Cộng hòa đã có những ý tưởng, sáng kiến, và nỗ lực mang
lại sự tiến bộ cho nền giáo dục ở miền Nam Việt Nam. Sau
đây là vài nhà lãnh đạo tiêu biểu:
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/phan_huy_quat.jpg?w=550"
/><div class="textholder"></div></div></center>
<em><center>Ông Phan Huy Quát</center></em>
*.<strong> Phan Huy Quát</strong>: Sinh năm 1911, mất năm 1979; Tổng
Trưởng Giáo Dục Quốc Gia Việt Nam 1949. Ông mất trong tù cải
tạo dưới chính thể Cộng hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
*. <strong>Nguyễn Thành Giung</strong>: Sinh năm 1894 tại Sa Đéc;
Tiến Sĩ Vạn Vật Học ] Viện Đại học Khoa Học Marseille];
Bộ Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục 1952-1953 thời Quốc Gia Việt
Nam, kiêm Phó Viện Trưởng Viện Đại Học Hà Nội.
*. <strong>Trần Hữu Thế</strong>: Sinh năm 1922 tại Mỹ Tho, mất
năm 1995 tại Pháp; tiến sĩ khoa học [1952], từng dạy học ở
Lyon [Pháp] và làm giáo sư ở Trường Đại Học Khoa Học thuộc
Viện Đại Học Sài Gòn; từ 1958 đến 1960 làm Bộ Trưởng Bộ
Quốc Gia Giáo Dục; từng làm Đại sứ của Việt Nam Cộng hòa
tại Philippines. Dưới thời Bộ Trưởng Trần Hữu Thế, số
lượng học sinh, sinh viên gia tăng nhanh chóng, và nhiều cải
tiến trong giáo dục đã được thực hiện. Cùng thời kỳ này,
Đại Hội Giáo Dục Quốc Gia (lần I) được tổ chức ở Sài
Gòn vào năm 1958, chính thức hóa ba nguyên tắc nhân bản, dân
tộc, và khai phóng làm nền tảng cho triết lý giáo dục Việt
Nam Cộng Hòa.
*. <strong>Nguyễn Văn Trường</strong>: sinh năm 1930 tại Vĩnh Long;
giáo sư tại Viện Đại Học Huế; hai lần đảm trách chức
vụ Tổng Trưởng Giáo Dục thời kỳ chuyển tiếp giữa Đệ
Nhất và Đệ Nhị Cộng hòa. Ông là người tích cực vận
động và đóng góp vào sự ra đời của Viện Đại Học Cần
Thơ vào năm 1966.
*. <strong>Trần Ngọc Ninh</strong>: Sinh năm 1923 tại Hà Nội; bác
sĩ giải phẫu và giáo sư Trường Đại Học Y Khoa Sài Gòn,
giáo sư Văn Minh Đại Cương và Văn Hóa Việt Nam tại Viện
Đại Học Vạn Hạnh; Phó Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Giáo
Dục thời kỳ chuyển tiếp giữa Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng
Hòa.[98]
*. <strong>Lê Minh Trí</strong>: bác sĩ y khoa tai-mũi-họng, giáo sư
Trường Đại Học Y khoa Sài Gòn, làm Tổng Trưởng Giáo Dục
bị ám sát bằng lựu đạn năm 1969.[100]
*. <strong>Nguyễn Lưu Viên</strong>: Sinh năm 1919; bác sĩ, từng
làm việc tại Trường Đại Học Y khoa Sài Gòn, Bệnh Viện
Chợ Rẫy, và Viện Pasteur Sài Gòn; từ 1969 đến 1971 làm Phó
Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Giáo Dục rồ, Phó Thủ Tướng
kiêm Trưởng Phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa ở Hội Nghị La Celle
Saint Cloud trong chính phủ Trần Thiện Khiêm.
*. <strong>Ngô Khắc Tĩnh</strong>: Sinh năm 1922 tại Phan Rang, mất
năm 2005 tại Hoa Kỳ; dược sĩ (tốt nghiệp ở Pháp); từ năm
1971 đến 1975 làm Tổng Trưởng Bộ Văn Hóa, Giáo Dục, và Thanh
Niên; từ năm 1975 đến 1988 bị tù cải tạo dưới chính thể
Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
*. <strong>Đỗ Bá Khê</strong>: Sinh năm 1922 tại Mỹ Tho, mất năm
2005 tại Hoa Kỳ; tiến sĩ giáo dục (Viện Đại Học Southern
California); Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa, Giáo Dục, và Thanh Niên
thời Đệ Nhị Cộng Hòa. Ông là người đã thiết lập hệ
thống các trường đại học cộng đồng ở Miền Nam Việt Nam
và được xem là "cha đẻ của các trường đại học cộng
đồng Việt Nam." Ông còn thiết lập Viện Đại Học Bách khoa
Thủ Đức vào năm 1974, dựa theo mô hình của các viện đại
học bách khoa ở California (Hoa Kỳ), và làm việc với vai trò
viện trưởng sáng lập của viện đại học này.
*. <strong>Nguyễn Thanh Liêm</strong>: Sinh năm 1934 tại Mỹ Tho;
tiến sĩ giáo dục (Viện Đại Học Iowa State, Hoa Kỳ); Thứ
Trưởng Bộ Văn Hóa, Giáo Dục, và Thanh Niên thời Đệ Nhị
Cộng Hòa.
*. <strong>Các Bộ Trưởng Quốc Gia Giáo Dục</strong>: Vương Quang
Nhường, Nguyễn Dương Đôn, Nguyễn Quang Trình
<h2>ĐÁNH GIÁ</h2>
<center><div class="boxright"><img
src="http://tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/hocba1950.jpg?w=762&h=461"
/><div class="textholder"></div></div></center>
Học bạ của một học sinh giỏi nhất lớp năm 1950
Về học bạ trên, Giáo sư Dương Thiệu Tống, trường Trung
Học Kiểu Mẫu Thủ Đức đánh giá như sau:
<blockquote>"Điểm nhận xét đầu tiên của tôi là điểm số
các môn học ngày xưa sao lại thấp đến thế, ngay cả đối
với học sinh đứng nhất lớp như các thí dụ trên đây.
…
Vậy phải chăng các thầy giáo chúng tôi ngày xưa không bị áp
lực bởi thi đua đạt thành tích nên có thể cho điểm trung
thực hơn? Phải chăng chúng tôi quá khắt khe với học sinh? Hay
là học sinh ngày nay giỏi hơn xưa quá nhiều? Tôi xin phép dành
các câu hỏi này cho các đồng nghiệp và các trường học của
chúng ta suy ngẫm và tìm giải đáp."
[ Trích từ nguồn Blog Lý Toét]</blockquote>
Từ ngày 7 đến ngày 28 tháng 6 năm 1975 ( tức là sáu tuần sau
sự kiện ngày 30 tháng 4), Arthur W. Galston, giáo sư sinh học ở
Viện Đại học Yale, viếng thăm miền Bắc Việt Nam (lúc đó
vẫn là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa). Theo tường trình của
Galston cho tạp chí Science số ra ngày 29 tháng 8 năm 1975 thì một
trong những chủ đề khiến các nhà lãnh đạo miền Bắc bận
tâm vào lúc đó là vấn đề thống nhất với miền Nam. Theo
tạp chí Science thì <em>"Việc thống nhất trong lĩnh vực khoa
học và giáo dục có lẽ sẽ có nhiều khó khăn vì hai miền
đã phát triển theo hai chiều hướng khác nhau trong nhiều thập
niên. Nhưng dù cho có nhiều khó khăn, Galston nhận thấy các nhà
lãnh đạo miền Bắc công khai bày tỏ sự ngưỡng mộ đối
với nhiều đặc điểm của nền khoa học và giáo dục ở
miền Nam; họ dự định kết hợp những đặc điểm này vào
miền Bắc khi quá trình thống nhất đang được thảo luận sôi
nổi vào lúc đó thực sự diễn ra."</em>
Theo Galston, các nhà lãnh đạo miền Bắc, cụ thể được nhắc
đến trong bài là Nguyễn Văn Hiệu (Viện Trưởng Viện Khoa
Học Việt Nam) và Phạm Văn Đồng (Thủ Tướng Việt Nam Dân
Chủ Cộng Hòa), đặc biệt quan tâm đến hệ thống giáo dục
nhấn mạnh đến các ngành kỹ thuật và điện tử cùng hệ
thống các trường đại học cộng đồng hệ hai năm đã
được thiết lập ở miền Nam (nguyên văn tiếng Anh: <em>"the
widespread educational emphasis on engineering and electronics and the system
of two-year, community colleges"</em>).[104]
Lời chứng và đánh giá của ông Mai Thái Lĩnh, cựu sinh viên
Viện Đại Học Đà Lạt,[105] nguyên Phó Chủ Tịch Hội Đồng
Nhân Dân Thành Phố Đà Lạt dưới chính thể Cộng Hòa Xã Hội
Chủ Nghĩa Việt Nam:
<blockquote>"Tôi là con của một cán bộ Việt Minh – tham gia
Cách mạng tháng Tám tại Lâm Đồng sau đó tập kết ra miền
Bắc [...] Chế độ Việt Nam Cộng Hòa lúc đó biết lý lịch
của tôi, nhưng vẫn không phân biệt đối xử, cho nên tôi vẫn
có thể học hành đến nơi đến chốn. Tính chất tốt đẹp
của nền giáo dục cũ của miền Nam là điều tôi công khai
thừa nhận, vì vậy suốt 14 năm phục vụ trong ngành giáo dục
"xã hội chủ nghĩa" (1975-1989), tôi bị người ta gán cho đủ
thứ nhãn hiệu, chụp cho nhiều thứ mũ chỉ vì tôi nêu rõ
những ưu điểm của nền giáo dục cũ cần phải học hỏi.
Chính là do thừa hưởng nền giáo dục đó của miền Nam mà
tôi có được tính độc lập trong tư duy, không bao giờ chịu
nô lệ về tư tưởng…"[106]</blockquote>
Đánh giá của nhà phê bình văn học Thụy Khuê:
<blockquote>"Có thể nói, trong suốt thời gian chia đôi đất
nước, mặc dù với những tệ nạn của xã hội chiến tranh,
tham nhũng; miền Nam vẫn có một hệ thống giáo dục đứng
đắn. Trong chương trình giáo khoa, các giai đoạn lịch sử và
văn học đều được giảng dậy đầy đủ, không thiên
hướng. Ở bậc trung học học sinh gặt hái những kiến thức
đại cương về sử, về văn, và tới trình độ tú tài, thu
thập những khái niệm đầu tiên về triết học. Lên đại
học, sinh viên văn khoa có dịp học hỏi và đào sâu thêm về
những trào lưu tư tưởng Đông Tây, đồng thời đọc và hiểu
được văn học nước ngoài qua một nền dịch thuật đáng tin
cậy, dịch được những sách cơ bản. Nguyễn Văn Trung trong
hồi ký đã nhấn mạnh đến sự tự trị của đại học, nhờ
sự tự trị này mà các giáo sư có quyền giảng dạy tự do,
không bị áp lực chính trị của chính quyền. Chính điều
kiện giáo dục này, đã cho phép miền Nam xây dựng được một
tầng lớp trí thức, một tầng lớp văn nghệ sĩ và một quần
chúng độc giả; giúp cho nhiều nhà văn có thể sống bằng
nghề nghiệp của mình. Và cũng chính tầng lớp trí thức và
sinh viên này đã là đối trọng, chống lại chính quyền, khi
có những biến cố chính trị lớn như việc đàn áp Phật Giáo
thời ông Diệm và việc đấu tranh chống tham nhũng (như vụ
báo Sóng Thần) thời ông Thiệu."[107]</blockquote>
<strong>Huỳnh Minh Tú </strong>
[Biên tập và thêm hình ảnh sưu tầm từ Internet]
[Nguồn: Wikipedia, FB Tuyen Nguyen]
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://www.danluan.org/tin-tuc/20140624/huynh-minh-tu-nhin-lai-nen-giao-duc-viet-nam-cong-hoa-su-tiec-nuoi-vo-bo-ben),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét