<b>Bảo tồn di sản không thể không tham khảo, thậm chí cần
phải bảo tồn, thiết thế xã hội đã sinh ra di sản. Tôi có
cảm tưởng (có thể do chưa đọc rộng chăng?) quan điểm này
chưa được thảo luận ở Việt Nam</b>.
Bài viết tạm giới hạn trong loại di tích, di sản kiến trúc
cổ.
<b>Nhiều, phân tán </b>
Theo một thống kê gần nhất hiện chúng ta có chừng 40.000 di
tích lịch sử, văn hóa (của nhiều thời kỳ, chế độ, loại
hình…) và đã xếp hạng hơn 3000 di tích quốc gia. Trong số
đã xếp hạng có tới hơn 2000 di tích thuộc các thiết chế
tôn giáo, tín ngưỡng (đình, chùa, đền, miếu…). Vùng Đồng
bằng sông Hồng chiếm tới khoảng 70% di tích cả nước. Đã
có ý kiến cho rằng xếp hạng quá nhiều di tích, không cần
thiết và không đủ nguồn lực để bảo tồn, tuy nhiên bài
này không hướng tới nội dung đó.
<a name="more"></a> Một nghiên cứu của chúng tôi về "Dịch
vụ công cộng cổ truyền" nhận thấy mỗi làng Việt thường
có chừng 13 không gian công cộng, công trình dịch vụ công
cộng là tài sản công của làng (gồm: chợ, chùa, đình, văn
từ văn chỉ, đền - miếu, công quán - điếm sở, giếng làng -
ao làng, cổng làng, kho nghĩa sương, hệ thống đường làng,
nghĩa trang làng và công điền - ruộng công). Tạm tính đến
năm 1833 Việt Nam có khoảng 13.000 làng (khi cuộc Nam tiến đã
gần trọn vẹn, theo <i>Hoàng Việt địa dư chí </i>của<i> Phan
Huy Chú</i>), nếu bình quân 1 làng có 10 công trình, không gian
công cộng thì tổng khối vật chất này lên tới hơn 100.000
đơn vị. Theo Pièrre Gourou (nhà địa lý nhân văn kiệt xuất
Pháp 1900-1999) vào những năm 1920 vùng châu thổ Bắc Kỳ có
khoảng 7000 làng xã (tạm ước chiếm hơn 50% số làng xã cả
nước). Riêng đình, Nguyễn Du Chi cho biết khoảng năm 1943-1945
các tỉnh miền Bắc Việt Nam có chừng 504 đình làng niên đại
từ thế kỷ 16 - thế kỷ 17 (thuộc hàng những công trình kiến
trúc, điêu khắc quý giá nhất của người Việt), nhưng đến
năm 1985 chỉ còn 65 đình thuộc các niên đại này. Sự mất
mát đó thật khó chịu đựng!
Các số liệu trên có thể chưa hoàn toàn chính xác vẫn cho
thấy hệ thống di tích tôn giáo, tín ngưỡng dồi dào của
người Việt nằm chủ yếu ở không gian nông thôn, phân tán
trong các làng mạc. Nhu cầu tâm linh, tu dưỡng tinh thần là
thường xuyên, người trong một làng có thể đến chùa làng
bất cứ lúc nào lòng người muốn vậy, mà không phải đi xa
(mất chi phí giao thông, thời gian…). Sự phân tán đáp ứng nhu
cầu thường xuyên đó, khá thiết thực. Đặc điểm này dễ
nhận ra, nhắc lại chỉ nhằm gợi ý nên lựa chọn sử dụng
cơ chế nào để có thể bảo tồn, duy trì hoạt động hệ
thống nhiều di tích và phân tán ấy? Và xin lưu ý, một kịch
bản giao thông phù hợp (tiết kiệm năng lượng) chính là
hướng đến một tương lai bền vững.
<b>Quy mô nhỏ</b>
Cũng là một đặc điểm nữa dễ nhận biết nếu so sánh
chúng với các công trình kiến trúc tôn giáo quy mô lớn, rất
lớn tại những quốc gia châu Âu (các nhà thờ Thiên chúa
giáo…), hoặc các nước châu Á khác (đền, tháp ở Ấn Độ,
Campuchia, Indonesia…) tương đối gần nhau về niên đại xây
dựng. Ngoài số chùa lớn không nhiều (chùa của nước: Yên
Tử, Giạm, Keo, Quỳnh, Thầy…, có quốc sư trụ trì, thường
là nơi tu hành của tăng ni Phật tử) quy mô tương đối nhỏ
của hầu hết các chùa làng Việt còn được thể hiện bằng
thời gian thi công không quá dài, với vật liệu chủ yếu là
gỗ (dễ thi công, dễ bị thời gian tàn phá hơn đá). "To như
cái đình", thời gian xây dựng cũng chỉ khoảng 10 năm, ví
dụ đình Thổ Hà (Bắc Giang) vào loại lớn nhất đồng bằng
sông Hồng được làm trong 8 năm (hưng công năm Ất Sửu (1685),
năm Nhâm Thân (1692) làm cửa võng hoàn tất công trình).
Theo tôi đây là thêm một ưu điểm nổi trội của người
Việt xét từ quan điểm phát triển bền vững. Bởi quy mô công
trình được kiến thiết vừa với nhu cầu sử dụng (dân số
mỗi làng xưa phổ biến dưới 1.000 người), và hầu hết các
công trình đã sử dụng những vật liệu tại chỗ, tái tạo
được, không phải khai thác từ xa, không phải hủy hoại môi
trường để có được những công trình lớn, siêu lớn (xưa
các cụ xài hoang, con cháu hôm nay phỏng còn được mấy tài
nguyên mà xây dựng chủ nghĩa xã hội?). Ưu điểm của quy mô
nhỏ cho phép dễ sửa chữa, trùng tu, bảo quản. Tức là trong
các hoạt động sống, người Việt vốn luôn tìm cách cân
bằng với thiên nhiên, điều mà người hôm nay gọi là "thân
thiện với môi trường". Nếu kế thừa tinh thần của tổ
tiên, hẳn lũ con cháu bất hiếu ngày nay sẽ không tìm cách
"ghi điểm" bằng những công trình tôn giáo, tín ngưỡng
"bị hội chứng hoành tráng hành hạ"?
Còn nếu ai đó vẫn áy náy sao tiền nhân ta không làm công
trình thật to cho các giống nòi khác khiếp sợ, thì xin thưa,
với hơn 3000 km đê sông, đê biển ở đồng bằng Bắc Bộ làm
ròng rã nhiều thế kỷ thì: "<i>Nó (đê) nhắc ta nhớ lại
nhưng công trình tập thể to lớn mà con người đã thực hiện
được: Kim tự tháp Ai Cập, đền tháp Angkor.</i>" (Pièrre
Gourou<i> – Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ</i>, tr. 81).
<b>Di sản dân quyền </b>
138 kim tự tháp Ai Cập cũng như Thập tam lăng và Tử Cấm
thành Bắc Kinh (Trung quốc)… đều là các công trình được
xây dựng bằng sức mạnh vương quyền, lập ra những chỗ trú
ngụ cho những vị vua, hoàng hậu lúc sống và sau khi họ chết
vẫn "phải tiếp tục được sống vương giả". Còn Angkor
Wat (Campuchia) khổng lồ được xây để dâng lên thần Vishnu,
những ai đã từng ghé thăm đều thấy lối kiến trúc đó
quyết không cho người ở, không công năng để ở. Nó, một
cách cực đoan nhất chỉ dành cho thánh thần trú ngụ, diễn
đạt một cách trọn vẹn nhất quyền năng của thần quyền.
Tôi không có ý định so sánh, chỉ chia sẻ sự nhận biết
tính chất của mỗi loại không gian di sản, để tự hiểu
nguồn cơn lòng tự hào của mỗi dân tộc, mỗi nền văn hóa…
Để thấy rằng trong di sản định cư của người Việt, kiến
trúc tôn giáo, tín ngưỡng nằm trong đó, thân thiết trong mỗi
ngôi làng xưa, cho mình quyền tự tin vào một thiết chế dân
quyền đã kiến tạo nên hàng nghìn công trình quý giá ấy.
Thực vậy, như đã nêu ở phần trên, 13 không gian, công trình
công cộng phổ biến trong một làng Bắc Bộ xưa là tài sản
của cộng đồng làng xã trong đó có đình, chùa… Và cũng như
các tài sản khác, đình hay chùa… phần lớn hình thành bằng
công sức, tiền của của các thành viên làng. Theo "<i>Thủy
tạo đình miếu bi</i>", đình Thổ Hà (năm 1964 được nhà
nước Việt Nam công nhận Di tích lịch sử văn hóa quốc gia,
người Pháp đã xếp hạng trong Viện Bảo tàng Bác Cổ Đông
Dương từ đầu thế kỷ 20) thì<i>, </i>ngoài 33 vị quan viên,
cùng những người giàu có công đức cột lớn, cột nhỏ và
thượng lương, tất cả dân làng từ 5-100 tuổi chẳng kể trai,
gái từ năm 1685 đã, mỗi người đều đóng góp (chia làm 4
lần) cả thảy hơn 1.000 sử tiền [một loại tiền ngày xưa,
xem <a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Ti%E1%BB%81n_Vi%E1%BB%87t_Nam">ở
đây</a> – <i>BVN</i>], hàng trăm bát gạo, làm nên ngôi đình
của làng họ. Đến hôm nay (sau hơn 300 năm) tôi chẳng thấy
một công trình kiến trúc nào lớn hơn nó ở làng này, chưa
kể chùa Thổ Hà (dân làng xây năm 1580, trước đình 105 năm)
cũng lớn chẳng kém đình, mặc dù dân số bây giờ gấp hơn ba
lần dân số thế kỷ 17. Nhân tiện nêu thêm chùa Hà (Từ Liêm
- Hà Nội) xây đời vua Lê Hy Tông (1680-1705) do người Thổ Hà
đến Thăng Long bán đồ gốm đã góp phần lớn để xây.
Tôi mạnh dạn gọi đó là những tài sản của dân quyền,
trong chừng mực nào đó phân biệt với các loại di sản thần
quyền, hay vương quyền.
<b>Kế thừa di sản thiết chế </b>
Mấy chục năm qua, hiện tượng các làng "chạy" để
được nhà nước "công nhận di tích quốc gia" cho đình làng
mình khá phổ biến (chùa ở tình trạng khác, sẽ bàn lúc
khác), ngoài việc có được các công cụ pháp lý để lấy
lại đất đai, không gian của di tích đã bị lấn chiếm, hoặc
ngăn ngừa lấn chiếm… thì, hy vọng xin được chính quyền
kinh phí trùng tu là mục đích quan trọng.
Thường có mấy kết cục cho các "cuộc chạy di sản cho
đình": 1- Tốn kha khá tiền làm hồ sơ, tiếp khách…, ngóng
vài năm không thấy bằng di tích đâu, hỏi thì, thấy bảo
phải bổ sung hồ sơ, hoặc cấp trên đang nghiên cứu, kiên
nhẫn đợi nữa. 2- Được bằng rồi, giờ "chạy tiếp" xin
tiền trùng tu, có thể mất thêm tiền, mất thêm vài năm. 3-
Được bằng, được tiền trùng tu, trùng tu xong, đình khóa
cửa, vắng tanh, thỉnh thoảng có khách phương xa thẳm, chạy
hết hơi mới tìm được ông "văn hóa" đến mở khóa.
Như thế, với trường hợp may mắn nhất cũng có thể chỉ
bảo tồn được kiến trúc của cái đình (nếu việc trùng tu
đúng phương pháp). Hiểu theo cách nào đó, bảo tồn được
"cái xác" của đình – còn "cái hồn" là những hoạt
động của con người làm nên sự gắn bó với nhau diễn ra ở
đình, với đình, hầu như không còn nữa. Chính sách "sở
hữu nhà nước hay còn gọi sở hữu toàn dân" đã tạo tình
trạng từ trước khi đình "có bằng" dân làng đã gần như
quên nó, đến lúc đình được nhà nước công nhận là di tích
quốc gia, dường như càng có lý do để họ tin rằng đình làng
ta đã thuộc về "ông nhà nước" rồi. Tức là (dân làng)
từ vai trò của người sáng tạo, chủ nhân của di sản,
chuyển sang địa vị của "kẻ chầu rìa" nhìn di sản xuống
cấp, ngay trên mảnh đất quê hương mình.
Nói thật thà, tài sản dân quyền, trong trường hợp đó, đã
bị nhà nước hóa.
Trở lại cách hình thành các loại tài sản chung của làng
Việt xưa (trong đó có những công trình tôn giáo, tín ngưỡng)
là câu chuyện dài, tất nhiên sẽ bao gồm cả cách gìn giữ,
sửa chữa, vận hành hoạt động (nếu không, ngày nay còn gì
để ta làm kinh tế du lịch?)…, nhưng đại thể đều trông
vào sức cả làng, chịu sự kiểm soát của "nền dân chủ
làng xã". Nhà nước không có vai trò tài chính, quản trị ở
đấy, vì thế hầu như không cũng có đất tham nhũng cho các
ông quan nhà nước kiếm chác bằng các dự án trùng tu hay tôn
tạo đình, chùa. Lưu ý rằng, sau khi đã xây dựng được bộ
máy cai trị tại Việt Nam, chính quyền Pháp mặc dù đã coi
Việt Nam thuộc Pháp (xứ Đông Pháp) nhưng vẫn sử dụng (hay
thừa nhận) mô hình tự quản của làng xã như một công cụ
tốt để quản trị xã hội nông thôn Việt Nam (có thể giả
định người Pháp không thiếu các mô hình quản lý nông thôn
hữu dụng ở các thuộc địa của nó). Chí ít cũng do cách
hình thành các tài sản này không cần đến tiền bạc chính
phủ, chính phủ cũng chẳng cần bỏ tiền nuôi bộ máy cán bộ
quản lý đống tài sản ấy (mà, ăn hại và phá hoại là khó
tránh). Mặt khác, chính thiết chế xã hội độc đáo đó đã
gắn kết các thành viên của làng với nhau. "Tình làng nghĩa
xóm" sâu bền của người Việt có căn nguyên từ những đóng
góp của mỗi hộ nông dân, đời này qua đời khác làm nên
khối tài sản chung của cả cộng đồng, làm nên văn hóa của
họ.
Hiển nhiên người Việt đã từng có các thiết chế cổ
truyền đã tạo ra, bảo tồn được các di sản văn hóa rất
hữu hiệu trong suốt lịch sử định cư của mình.Vậy tại sao
người Việt hôm nay lại không muốn học hỏi, kế thừa, phát
huy (như khẩu hiệu)… di sản thiết chế dân quyền đẹp đẽ
đó trong cuộc bảo tồn di tích, di sản của tổ tiên mình? Xin
gửi câu hỏi này trước tiên đến các ông, bà làm quản lý
văn hóa.
<b>T. T. C.</b>
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20140323/tran-trung-chinh-than-quyen-vuong-quyen-dan-quyen),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét