Cù Huy Hà Vũ - Góp ý kiến về dự thảo sửa đổi Hiến Pháp năm 1992

<blockquote>Kính gửi Qúy Báo,

Ngày 4/10/2013, công dân Cù Huy Hà Vũ đã thông báo cho vợ là Ls
Nguyễn Thị Dương Hà biết: Thực hiện chủ trương của Quốc
Hội và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
hưởng ứng phong trào Lấy ý kiến cho Dự thảo sửa đổi
Hiến pháp 1992 của Trại giam số 5 Bộ Công an – Yên Định –
Thanh Hóa, ngày 30/9/2013, công dân Cù Huy Hà Vũ đã gửi bài góp
ý Sửa đổi Hiến pháp 1992 tới Quốc Hội nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam và Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến
pháp năm 1992 qua đường Bưu điện của Trại giam số 5 Bộ
Công an.

Trong điều kiện khó khăn của trại giam, công dân Cù Huy Hà Vũ
thực hiện nghĩa vụ của mình, đã viết Bản góp ý gồm 20
trang A4 viết tay chữ nhỏ, dày kín, nội dung gồm 7 phần lớn.
Vậy mà sáng nay, công dân Cù Huy Hà Vũ lại cho biết, ngày
15/11/2013, Trại giam số 5 đã thông báo chính thức là Trại
giam số 5 đã không gửi bài góp ý kiến sửa đổi Hiến pháp
1992 của TS Vũ cho Quốc Hội và Ủy Ban dự thảo sửa đổi
Hiến pháp!!!???

Vì sợ bài góp ý không đến được địa chỉ nên công dân Cù
Huy Hà Vũ đã nhờ vợ, con soạn, đánh máy giúp bài Góp ý sửa
đổi Hiến pháp 1992 theo đúng tinh thần của công dân Vũ. Ngày
22/10/2013, vợ công dân Vũ đã gửi tới Quốc Hội nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ủy ban dự thảo sửa đổi
Hiến pháp năm 1992 bài Góp ý kể trên (photocopy đính kèm).
Kính mong Quý Báo cho đăng để những ai quan tâm được biết.

Trân trọng cảm ơn Quý Báo,
Gia đình Công dân Cù Huy Hà Vũ</blockquote>

<center>CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
------------------------------------</center>
<div class="rightalign"><em>Hà Nội, ngày 22/10/2013</em></div>


<strong>Kính gửi:</strong>
- Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam;
- Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992.

Tôi, Nguyễn Thị Dương Hà, ở tại 24 Điện Biên Phủ, Ba
Đình, Hà Nội, CMND 010538534 do Công an Hà Nội cấp ngày
16/12/2010, là vợ cũng là luật sư của ông Cù Huy Hà Vũ – HKTT
tại 24 Điện Biên Phủ, Ba Đình, Hà Nội, bị Tòa án nhân dân
tối cao kết án 07 (bảy) năm tù, 03 (ba) năm quản chế kể từ
ngày bị bắt 05/11/2010 về "Tội tuyên truyền chống Nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" theo điểm c
khoản 1 Điều 88 Bộ Luật Hình sự - ông Vũ luôn khẳng định
ông Vũ hoàn toàn vô tội – hiện bị giam tại B11, K3, Trại
giam số 5 – Bộ Công an (Yên Định – Thanh Hóa).

Căn cứ Nghị Quyết số 38/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc
hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về Tổ chức
lấy ý kiến của nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp
1992 và theo yêu cầu của Ban Giám thị Trại giam số 5 – Bộ
Công an, ngày 30/9/2013, ông Vũ đã gửi Quốc hội và Ủy ban dự
thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 Bản "Góp ý kiến về dự
thảo sửa đổi Hiến pháp 1992" gồm 20 trang (viết tay) qua Ban
Giám thị Trại giam số 5 – Bộ Công an. Đề phòng trường
hợp văn Bản Góp ý kể trên mà ông Vũ đã gửi qua Ban Giám
thị Trại giam số 5 – Bộ Công an chưa đến được Quốc hội
và Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, ông Vũ ủy
quyền cho tôi đánh máy lại, gửi tới Quốc Hội và Ủy ban
Dự thảo Bản Góp ý kể trên. Toàn văn Bản "Góp ý kiến về
dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992" của ông Cù Huy Hà Vũ đã
được đánh máy lại có 19 trang được gửi cùng với thư này.

Trân trọng,

Người được ủy quyền

Nguyễn Thị Dương Hà

<center>____________________</center>

<center>CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc</center>

<div class="rightalign"><em>Thanh Hóa, ngày 30 tháng 9 năm
2013</em></div>

<center><h1>GÓP Ý KIẾN VỀ DỰ THẢO SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP NĂM
1992</h1></center>

<strong>Kính gửi:</strong>
- Quốc Hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992

Tôi là Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ, thường trú tại 24 Điện
Biên Phủ, Ba Đình, Hà Nội, bị Tòa án nhân dân tối cao kết
án 07 ( bảy ) năm tù giam, 03 (ba) năm quản chế kể từ ngày
bị bắt 05/11/2010, về "Tội tuyên truyền chống Nhà nước
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" theo điểm c khoản 1 Điều 88
Bộ luật hình sự - tôi luôn khẳng định tôi hoàn toàn vô
tội, hiện bị giam tại B11-K3 - trại giam số 5 – Bộ Công an (
Yên Định – Thanh Hóa), căn cứ Nghị quyết số 38/2012/QH 13
ngày 23/11/2012 của Quốc Hội Nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam về "Tổ chức lấy ý kiến của nhân dân về
Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, góp ý kiến về Dự
thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (gọi tắt là Dự thảo) như
trình bày sau đây.

<h2>I – BỎ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỐI
VỚI NHÀ NƯỚC VÀ XÃ HỘI, THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ ĐA ĐẢNG</h2>

Tôi đề nghị bỏ sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt
Nam đối với Nhà nước và xã hội quy định tại Điều 4
Hiến pháp và tại Điều 4 Dự thảo và thay vào đó là quy
định về thực hiện chế độ đa đảng với những lý do sau
đây.

1- Điều 2 Hiến pháp và Điều 2 Dự thảo đều quy định: "
Nhà nước của nhân dân, do nhân dân vì nhân dân. Tất cả
quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, " tức nhân dân là
chủ duy nhất của Nhà nước đồng nghĩa Nhà nước không phục
tùng, không chịu sự lãnh đạo của ai khác ngoài nhân dân. Nói
cách khác, Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước là
tiếm quyền làm chủ Nhà nước của nhân dân.

2- Theo Từ điển bách khoa Việt Nam (do Chính phủ Việt Nam tổ
chức biên soạn), " chế độ độc tài" là "chế độ
chính trị tập trung quyền hành vào tay một cá nhân, một nhóm
người hay một đảng phái cai trị độc đoán, không bị ràng
buộc bởi luật pháp hay một cơ quan quyền lực nào". Như
vậy với quy định "Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà
nước và xã hội" tại Điều 4 Hiến pháp và Điều 4 Dự
thảo trong khi đảng này không bị ràng buộc bởi bất cứ
luật nào hay bởi bất cứ cơ quan quyền lực Nhà nước nào
thì chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam dứt khoát là chế
độ độc tài! Do đó để thiết lập chế độ dân chủ thì
không có cách nào khác là bỏ quy định nói trên.

3- Quan điểm "đấu tranh giai cấp" hay thiết lập sự thống
trị của giai cấp vô sản – công nhân với chế độ xã hội
chủ nghĩa của Đảng cộng sản Việt Nam là hoàn toàn đối
lập với Dân chủ. Thực vậy, Dân chủ đồng nhất với xóa
bỏ phân biệt giai cấp tầng lớp xã hội trong quyết định
các vấn đề của đất nước, không kích động giai cấp,
tầng lớp xã hội này chống lại giai cấp, tầng lớp xã hội
khác. Nói cách khác, Dân chủ là tiếng nói của mỗi người
dân về các vấn đề của đất nước được thể hiện rõ
nhất và tập trung nhất qua lá phiếu trong các cuộc bầu cử
Quốc Hội, Hội đồng nhân dân hay trưng cầu ý dân, chứ
tuyệt nhiên không phải là áp đặt ý chí nhân danh giai cấp,
tầng lớp xã hội. Vả lại, quan điểm "giai cấp công nhân
thống trị" của Đảng cộng sản Việt Nam là trái ngược
với quyền bình đẳng của mọi người được Tuyên ngôn Độc
lập 2-9-1945 trân trọng tuyên bố và trái ngược ngay với
nguyên tắc "Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống
chính trị,dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội" được Dự
thảo nêu tại Khoản 2 Điều 17.

4- Khái niệm "lãnh đạo" có thể áp dụng cho đảng chính
trị mà trong trường hợp này là Đảng cộng sản Việt Nam
nhưng chỉ trong trường hợp Đảng tổ chức giành chính quyền
về tay nhân dân chủ yếu bằng vũ lực, điều này có nghĩa
một khi chính quyền đã về tay nhân dân thì chính nhân dân
chứ không phải đảng chính trị, quyết định đường lối
quốc gia cũng như cách thức hoạt động của Nhà nước, cụ
thể là nhân dân thực hiện các quyết định tối cao này của
mình hoặc trực tiếp bằng lá phiếu trong các cuộc bầu cử
Quốc Hội, Hội đồng nhân dân hay trưng cầu ý dân hoặc gián
tiếp thông qua các đại diện của mình tại các cơ quan quyền
lực Nhà nước nói trên. Tóm lại Dân chủ là nhân dân tự
quyết định vận mệnh của đất nước và của bản thân mà
không có sự can thiệp từ bên ngoài, không cần ai dẫn dắt,
không cần ai lãnh đạo. Các đảng viên Đảng cộng sản Việt
Nam hay bất cứ ai khác được nhân dân trực tiếp bầu vào các
cơ quan quyền lực Nhà nước chỉ là để thực hiện ý chí
của nhân dân hay chỉ là đầy tớ của nhân dân như chính Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã nói chứ không thể làm điều ngược
lại là áp đặt ý chí của bản thân hoặc của Đảng cộng
sản Việt Nam cho nhân dân. Nghĩa là không thể có chuyện đầy
tớ "lãnh đạo", bắt ông chủ, bà chủ phục tùng mình
được!

Ngoài ra, quy định "Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà
nước" là trái với nhiều quy định khác ngay trong Dự thảo.
Điều 2 Hiến pháp và Dự thảo quy định Nhà nước Việt Nam
là "Nhà nước pháp quyền". tức Nhà nước chỉ tuân theo
Hiến pháp và pháp luật. Do đảng Cộng sản Việt Nam, cũng như
đảng chính trị nào khác không phải là Hiến pháp và pháp
luật nên dĩ nhiên Nhà nước không thể chịu sự lãnh đạo
của đảng này. Điều 83 Hiến pháp và Điều 74 Dự thảo quy
định " Quốc Hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao
nhất" đồng nghĩa không có thế lực nào đứng trên Quốc
Hội để có thể " lãnh đạo" hay áp đặt ý chí của mình
cho Quốc Hội ngoài chính người đã đẻ ra thiết chế này là
nhân dân!

5- Đảng cộng sản Việt Nam lấy câu nói "Đảng ta là đảng
cầm quyền" của Hồ Chí Minh để biện minh cho chế độ
độc tài của mình được thiết lập thông qua việc áp đặt
Điều 4 Hiến pháp. Thế nhưng chính câu nói này của người
sáng lập Đảng cộng sản Việt Nam lại khẳng định chế độ
dân chủ - đa đảng. Thực vậy, "đảng cầm quyền" là để
so sánh với "đảng không cầm quyền" bởi dưới thời Hồ
Chí Minh làm Chủ tịch Nước đã có nhiều đảng hoạt động
song song với Đảng cộng sản Việt Nam nhưng không chiếm đa
số ghế trong Quốc Hội nên không thể đứng ra thành lập
Chính phủ như Đảng Dân chủ, Đảng Xã hội. Chế độ đa
đảng này tồn tại cả sau khi Hồ Chí Minh mất, cho đến 1988
khi Đảng Dân chủ, Đảng Xã hội tự giải thể. Thực tế đa
nguyên chính trị này được phản ánh tại Điều 9 Hiến pháp
1980: "Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam – bao gồm các chính
đảng…"

Vẫn chưa hết, Đảng cộng sản Việt Nam luôn khẳng định
đảng này cầm quyền mà không cần cạnh tranh với ai là do
được nhân dân tín nhiệm. Thế nhưng lập luận này của
Đảng cộng sản Việt Nam một lần nữa khẳng định chế độ
đa đảng. Thực vậy, tín nhiệm của nhân dân là niềm tin mà
người dân đặt vào người này, đảng này mà không áp đặt
vào người khác, đảng khác, đặc biệt trong bối cảnh bầu
cử Quốc Hội. Nói cách khác, không có sự cạnh tranh giữa các
đảng chính trị thì không tồn tại sự tín nhiệm của nhân
dân. Vậy để "sự tín nhiệm của nhân dân" nguồn gốc
của quyền lực Nhà nước – thực sự tồn tại thì không có
cách nào khác là phải thực hiện chế độ đa đảng!

Cũng cần khẳng định ngay rằng thiết lập chế độ đa đảng
tuyệt nhiên không nhằm ngăn cản Đảng cộng sản Việt Nam
cầm quyền, thậm chí lâu dài, càng không nhằm loại bỏ đảng
này ra khỏi đời sống chính trị của đất nước. Thực tế
cho thấy mặc dù ở Singapore có nhiều đảng nhưng chỉ có
Đảng nhân dân hành động là cầm quyền vì luôn chiếm đa số
ghế trong các kỳ Quốc Hội. Ở Mỹ cũng có hơn 100 đảng
nhưng chỉ có Đảng Dân chủ và Đảng cộng hòa là thay nhau có
ứng cử viên được bầu làm tổng thống và ngược lại, vẫn
ở đất nước mà Đảng Cộng sản Việt Nam coi là đế quốc
và chống cộng số 1 này Đảng cộng sản vẫn tồn tại. Tóm
lại, chế độ đa đảng là quyền của nhân dân được tự do
lựa chọn giữa các quan điểm chính trị khác nhau và về phía
các chính đảng là làm sao giành được sự tín nhiệm cao nhất
của nhân dân để có thể cầm quyền. Để nói, Đảng cộng
sản Việt Nam luôn khẳng định bản thân có nhiều công trạng
với dân, với nước thì không có lý do gì để đảng này
phải sợ sẽ không được nhân dân tín nhiệm trong cạnh tranh
với các đảng khác. Ngược lại, nếu Đảng cộng sản Việt
Nam không dám chấp nhận cạnh tranh chính trị một cách hòa
bình trong khuôn khổ chế độ đa đảng thì điều này chẳng
những chứng tỏ đảng này yếu kém và vụ lợi mà nghiêm
trọng hơn rất nhiều, sẽ dẫn đến cạnh tranh chính trị
bằng bạo lực đồng nhất với một cuộc chiến tranh huynh
đệ tương tàn kéo dài 2 thập kỷ từ 1955 đến 1975 giữa
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Việt Nam Cộng hòa (Điều này
có nghĩa chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam không phải là xâm
lược)

6- Chính chủ nghĩa Mác Lê Nin mà Đảng cộng sản Việt Nam lấy
làm nền tảng tư tưởng đã thừa nhận "nguồn gốc của sự
vận động và phát triển là sự đấu tranh giữa các mặt
đối lập ở ngay trong lòng sự vật". Vậy không có lý do gì
để Đảng cộng sản Việt Nam không chấp nhận song song với
mình sự tồn tại của các đảng khác trong đó có các đảng
đối lập với mình, trừ phi đảng này chống lại sự vận
động và phát triển của đất nước và xã hội Việt Nam.

Kết luận lại, việc bỏ sự lãnh đạo của Đảng cộng sản
Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội quy định tại Điều
4 Hiến pháp và Điều 4 Dự thảo đồng nhất với chế độ
độc tài và việc thực hiện chế độ đa đảng là tuyệt
đối cần thiết để đảm bảo Dân chủ, bảo đảm "Nhà
nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, tất cả quyền
lực Nhà nước thuộc về nhân dân".Tuy nhiên, để không xảy
ra tình trạng "tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa", bỏ được sự
cai trị độc đoán của Đảng cộng sản Việt Nam do đảng này
không bị ràng buộc bởi luật pháp thì lại vớ phải tình
trạng hỗn loạn "vô chính phủ" được tạo ra bởi sự
vắng bóng của luật pháp về các đảng chính trị thì cách duy
nhất là phải có luật về các đảng chính trị mà những nét
cơ bản phải được xác định trong Hiến pháp. Cụ thể là
Hiến pháp xác định vai trò của các đảng trong bảo đảm Dân
chủ, xác định cách thức thành lập, cách thức tổ chức,
cách thức hoạt động của các đảng. Ví dụ: "Các đảng
chính trị tham gia vào việc hình thành ý chí chính trị của
nhân dân", "việc đăng ký các đảng chính trị được thực
hiện tại Tòa án Hiến pháp"...

<h2>II – BỎ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI, LẤY "VIỆT NAM" LÀM QUỐC
HIỆU, THIẾT LẬP CHỨC VỤ TỔNG THỐNG</h2>

Tôi đề nghị bỏ chủ nghĩa xã hội – chế độ xã hội chủ
nghĩa khỏi Hiến pháp, Hiến pháp sửa đổi với những lý do
sau đây.

<h3>1- Chủ nghĩa xã hội phản dân chủ</h3>

Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, " chuyên chính" là " trực
tiếp dùng bạo lực (đối lập với dân chủ) để áp đặt ý
chí của giai cấp thống trị đối với giai cấp bị trị".
Vậy chủ nghĩa xã hội – chế độ xã hội chủ nghĩa mà chủ
trương "chuyên chính vô sản", tức dùng bạo lực để áp
đặt cho xã hội sự thống trị của giai cấp công nhân, cụ
thể là áp đặt sự lãnh đạo đối với Nhà nước và xã
hội của Đảng cộng sản là "đội tiên phong" của giai
cấp công nhân, dứt khoát là một chế độ chính trị phản
dân chủ. Bản chất phản dân chủ này của chủ nghĩa xã hội,
chế độ xã hội chủ nghĩa đã được tôi phân tích ở trên
trong mục " Bỏ sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam
đối với Nhà nước và xã hội, thực hiện chế độ đa
đảng".

<h3>2 – Chủ nghĩa xã hội phản dân tộc</h3>

Đối với chủ nghĩa xã hội thì không có "dân tộc" mà
chỉ có "giai cấp" không có "con người dân tộc" mà chỉ
có "con người giai cấp" bất cứ ai không tán thành sự
thống trị của giai cấp vô sản – công nhân đều là kẻ thù
của chủ nghĩa xã hội và vì vậy là đối tượng đàn áp
của "chuyên chính vô sản" mà hiện thân là chính quyền do
đảng Cộng sản lãnh đạo. Điều này lý giải vì sao sau
30/4/1975, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và tiếp đó là
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã đưa cả
trăm nghìn nhân viên của chính quyền Việt Nam Cộng hòa vào
các trại tập trung cải tạo – các nhà tù thực sự - với lý
do duy nhất là họ đã phục vụ trong chính quyền chống cộng.
Lẽ dĩ nhiên, việc bỏ tù các "kẻ thù giai cấp" này của
Nhà nước Cộng sản Việt Nam chỉ càng đào sâu hận thù dân
tộc thay vì xóa bỏ nó. Chính sách gây hận thù dân tộc này
còn được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đẩy lên cao độ khi bỏ tù luôn cả người yêu cầu Nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện hòa
giải dân tộc, cụ thể là bỏ tù tôi – Tiến sĩ Luật Cù Huy
Hà Vũ – do đã gửi Quốc hội " Kiến nghị trả tự do cho
tất cả tù nhân cựu quân nhân và viên chức chính quyền Việt
Nam Cộng hòa, lấy "Việt Nam" làm quốc hiệu để hòa giải
dân tộc"!

Chủ nghĩa xã hội không chỉ phản dân tộc ở chỗ xóa bỏ
"con người dân tộc" bằng cách luôn duy trì người Việt Nam
trong tình trạng thù hận lẫn nhau như trên vừa chứng minh mà
tày giời hơn, ở chỗ muốn xóa bỏ Tổ Quốc của người
Việt Nam với định danh " Tổ quốc xã hội chủ nghĩa" ghi
trong Hiến pháp và Dự thảo. Thực vậy, "Tổ quốc" trong
tiếng Việt có nghĩa "quốc gia do Tổ tiên tạo lập" đồng
nghĩa Tổ Quốc của người Việt Nam chỉ có một, là quốc gia
do Tổ tiên của người Việt Nam là Vua Hùng tạo lập. Do đó
"Tổ Quốc xã hội chủ nghĩa" không gì khác hơn là phủ
nhận Vua Hùng, phủ nhận quốc gia của người Việt Nam đã có
từ 4000 năm nay hay phủ định chính Tổ Quốc của người Việt
Nam!

Cũng như vậy, "Độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội" mà Đảng cộng sản Việt Nam luôn tuyên truyền
là hoàn toàn trái với lich sử của dân tộc Việt Nam. Thực
vậy, Độc lập dân tộc mà nhân dân Việt Nam đã giành được
cách đây 68 năm hoàn toàn không dính dáng đến chủ nghĩa xã
hội, điều này có thể thấy rõ trong Tuyên ngôn Độc lập
ngày 2-9-1945. Không những thế, việc Đảng cộng sản Việt Nam
– lúc bấy giờ có tên là Đảng cộng sản Đông Dương –
tự giải thể vào ngày 11/11/1945, chỉ 2 tháng sau khi nền Cộng
hòa ra đời, càng chứng tỏ nhân dân Việt Nam giành độc lập
là để thực hiện quyền dân tộc tự quyết chứ tuyệt nhiên
không phải để xây dựng chủ nghĩa xã hội là mục đích tự
thân của Đảng cộng sản Việt Nam cũng như chứng tỏ sự
tồn tại của Đảng cộng sản Việt Nam chỉ gây hại cho việc
bảo vệ và củng cố nền Độc lập dân tộc còn trứng
nước. Ngoài ra, "Độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội" không gì khác hơn là phủ định sạch trơn
Độc lập dân tộc mà người Việt Nam đã giành được dưới
sự lãnh đạo của Hai Bà Trưng, Lý Bí, Ngô Quyền, Lê Lợi
trước phong kiến Trung Hoa hay nói ngắn gọn, xóa bỏ toàn bộ
lịch sử đấu tranh của dân tộc Việt Nam!

Không dừng lại ở phủ nhận, xuyên tạc Tổ Quốc và Độc
lập dân tộc của người Việt Nam, chủ nghĩa xã hội xâm hại
ngay chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Năm 1958,
vì "đại cục xã hội chủ nghĩa", Thủ tướng Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng đã gửi Thủ tướng Trung Quốc
Chu Ân Lai công hàm gián tiếp công nhận chủ quyền của Trung
Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa
của Việt Nam, điều này giải thích vì sao Chính phủ Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa đã không hề phản ứng dù chỉ là tý chút
trước việc Trung Quốc đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng
Sa đang do Việt Nam Cộng hòa quản lý vào năm 1974. Năm 1988,
Trung Quốc đã ngang nhiên tấn công quần đảo Trường Sa, giết
chết 64 sĩ quan, chiến sĩ Việt Nam đồn trú và chiếm đảo
Gạc Ma thuộc quần đảo này của Việt Nam. Thế nhưng một
lần nữa, vì "đại cục xã hội chủ nghĩa" Nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã không hề lên án hành
vi xâm lược này của Trung Quốc. Bộ mặt phản dân tộc này
của chế độ xã hội càng lộ rõ khi cách đây một số năm
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã bắt giam
một số công dân Việt Nam vì họ đã lên tiếng khẳng định
"Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam" với lý do không
thể ngược đời hơn là những công dân này đã "xâm phạm an
ninh quốc gia" cũng như cho đến bây giờ đã không chịu công
nhận liệt sĩ cho các quân nhân Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh
trong chiến đấu chống Trung Quốc xâm lược quần đảo Hoàng
Sa như tôi đã yêu cầu trong một Kiến nghị gửi Quốc Hội.

Điều nghiêm trọng là hành vi " bán nước" hay phản dân
tộc của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam vẫn chưa
dừng lại. Thực vậy, trước âm mưu dùng vũ lực thôn tính
nốt quần đảo Trường Sa và độc chiếm biển Đông đã quá
rõ ràng của Trung Quốc, nước đang sở hữu các phương tiện
chiến tranh nói chung, phương tiện chiến tranh trên biển nói
riêng gấp bội lần Việt Nam, tôi – Tiến sĩ luật Cù Huy Hà
Vũ – đã nhiều lần kều gọi Nhà nước Việt Nam khẩn
trương liên minh quân sự với Mỹ để bảo vệ thành công
quần đảo Trường Sa và tiến tới thu hồi quần đảo Hoàng Sa
nói riêng, bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông
nói chung vì Mỹ không chỉ là siêu cường quân sự duy nhất
trên thế giới mà còn là nước duy nhất trên thế giới có
chiến lược ngăn chặn Trung Quốc bành trướng bằng vũ lực
ở Châu Á – Thái Bình Dương, đặc biệt ở Đông Á. Thế
nhưng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã bác
bỏ liên minh quân sự với Mỹ vì cho rằng cái giá phải trả
cho liên mình này là mất chế độ xã hội chủ nghĩa!

<h3>3 – Chủ nghĩa xã hội chống lại con người</h3>

Trước hết cần ghi nhận rằng nhiều quyền con người đã
được quy định trong Hiến pháp Việt Nam mà sau đây là một
số cơ bản nhất.

Điều 69 Hiến pháp quy định: "Công dân có quyền tự do ngôn
luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin; có quyền hội
họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật".

Điều 70 Hiến pháp quy định: "Công dân có quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo tôn giáo nào… Những
nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật
bảo hộ".

Ngoài ra, Nhà nước Việt Nam đã tham gia một số điều ước
quốc tế về nhân quyền trong đó có Công ước quốc tế về
các quyền chính trị, dân sự. Điều 19 Công ước này quy
định:

1) Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà
không bị ai can thiệp.

2) Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao
gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông
tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền
bằng miệng, bằng bản viết, in hoặc dưới hình thức nghệ
thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào
tùy theo sự lựa chọn của họ!

3) Việc thực hiện những quyền quy định tại Khoản 2 Điều
này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó,
việc này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định,
tuy nhiên những hạn chế này phải được quy định trong luật
và là cần thiết để:

a. Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác.

b. Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức
khỏe hoặc đạo đức của xã hội.

Thế nhưng chế độ xã hội chủ nghĩa là "nói một đằng,
làm một nẻo" những quyền con người nói trên đều bị Nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chà đạp trên
thực tế.

Để triệt tiêu quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí,
quyền được thông tin của công dân, Nhà nước đã đặt ra
"Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam" – Điều 88 Bộ luật hình sự bất chấp quy
định "Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình
mà không bị ai can thiệp tại Khoản 1 Điều 19 Công ước quốc
tế về các quyền chính trị dân sự. Cụ thể là Nhà nước
đã vịn vào tội danh được đặt ra trái pháp luật này để
bỏ tù tất cả những ai bày tỏ quan điểm chính trị trái
ngược với quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam mà tôi
– Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ là một trong số các nạn nhân.

Cũng cần nói thêm rằng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam cấm báo chí tư nhân trong khi thực chất của quyền
tự do báo chí là cá nhân hay tư nhân được quyền ra báo chí.
Bản thân khái niệm "tự do" xuất phát và gắn liền với
khái niệm "cá nhân" hay nói cách khác, "cá nhân" không
tồn tại thì "tự do" không tồn tại!

Về quyền lập hội, quyền biểu tình của công dân, các quyền
này chỉ có thể được pháp luật bảo hộ sau khi các quyền
này được luật hóa như quy định tại Điều 69 Hiến pháp
1992. Thế nhưng cho đến nay, đã 21 năm trôi qua, Luật về Hội
và Luật biểu tình vẫn chưa được ban hành đồng nghĩa quyền
lập hội, quyền biểu tình vẫn chưa được ban hành đồng
nghĩa quyền lập hội, quyền biểu tình "có cũng như không"
hay nói đúng hơn, các hội, các cuộc biểu tình ở Việt Nam
luôn ở trong tình trạng bất hợp pháp và vì vậy có thể bị
Nhà nước dẹp bỏ bất cứ lúc nào và những người tổ chức
luôn có thể bị Nhà nước khép vào "Tội lợi dụng các
quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước,
quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân" quy định
tại Điều 258 Bộ luật hình sự hay vào "Tôi lợi dụng các
quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước,
quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân" quy định
tại Điều 245 Bộ luật hình sự hay vào "Tội gây rối trật
tự công cộng" quy định tại Điều 258 Bộ luật hình sự hay
vào " Tội gây rối trật tự công công" quy định tại
Điều 245 Bộ luật hình sự. Nhân đây cần khẳng định rằng
"Tội lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích
của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức công
dân " là trái nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền là
"Mọi người có thể làm những gì mà Luật không cấm" (Từ
điển bách khoa Việt Nam), tức không vi phạm điều mà luật
cấm thì không thể là tội phạm! Nói cách khác, Điều 258 và
Điều 88 Bộ luật hình sự được Nhà nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam đặt ra là để loại bỏ các quyền tự do,
dân chủ của công dân!

Cũng như vậy, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo quy định
tại Điều 70 Hiến pháp là không tồn tại chừng nào còn
Điều 4 Hiến pháp quy định Đảng cộng sản Việt Nam theo chủ
nghĩa Mác – Lê-nin lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Thực
vậy, tín ngưỡng, tôn giáo, suy cho cùng đều là hệ tư tưởng
trong khi chủ nghĩa Mác Lê-nin cũng là hệ tư tưởng. Do đó,
một khi đã khẳng định tự do tín ngưỡng, tư do tôn giáo thì
đương nhiên tín ngưỡng tôn giáo không thể bị "lãnh
đạo" hay định hướng, điều khiển bởi hệ tư tưởng nào
khác mà ở đây là chủ nghĩa Mác Lê-nin. Đó là chưa nói đến
quan điểm "tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân" của
chủ nghĩa Mác-Lê-nin theo đó những người cộng sản phải
giải thoát nhân dân khỏi sự đầu độc của tôn giáo, tức
coi tôn giáo là địch thủ, là đối tượng mà những người
cộng sản phải trừ bỏ!
Về quy định "những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn
giáo được pháp luật bảo hộ" cũng tại Điều 70 Hiến pháp
thì quy định này đồng nghĩa tín ngưỡng, tôn giáo bị hủy
diệt khi nơi thờ tự của tín ngưỡng, tôn giáo bị Nhà nước
xóa bỏ và chiếm lấy. Cần khẳng định rằng nghĩa trang của
giáo xứ là một nơi thờ tự của đạo Thiên chúa (Kito giáo).
Do đó việc chính quyền Đà Nẵng năm 2009 đã chiếm lấy nghĩa
trang của giáo xứ Cồn Dầu và bỏ tù một số giáo dân do
những người này đã đưa một giáo dân khác vừa qua đời
đến chôn ở nghĩa trang này là hành vi đàn áp, hủy diệt tôn
giáo không hơn không kém!
Lẽ dĩ nhiên, còn rất nhiều quyền con người – công dân khác
như quyền khiếu nại, tố cáo, quyền tài sản đối với đất
đai… bị Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xâm
hại nghiêm trọng. Tuy nhiên một số dẫn chứng đã nêu ở
trên cũng đã đủ cho thấy chủ nghĩa xã hội hay chế độ xã
hội chủ nghĩa là điển hình của đàn áp con người.

<h3>4 – Chủ nghĩa xã hội mang lại đói nghèo và tham nhũng</h3>

Trước hết phải khẳng định rằng chủ nghĩa tư bản không
gì khác hơn là kinh tế tư nhân đồng nhất với kinh tế thị
trường, còn chủ nghĩa xã hội lại chủ trương xóa bỏ chủ
nghĩa tư bản, tức xóa bỏ kinh tế tư nhân, xóa bỏ kinh tế
thị trường thông qua "công hữu hóa tư liệu sản xuất"mà
sản phẩm là các doanh nghiệp Nhà nước. Thực tế ở Việt Nam
cho thấy chủ nghĩa xã hội chỉ mang lại đói nghèo cho tuyệt
đại đa số người dân, đẩy Việt Nam đến bờ vực phá sản
với lạm phát 900% vào năm 1985 dẫn tới ăn mày đầy đường.

Để sống sót, từ 1986, Đảng cộng sản Việt Nam phải tiến
hành "Đổi mới" bước đầu đi theo chủ nghĩa tư bản
bằng cách thừa nhận kinh tế tư nhân đồng nhất với kinh tế
thị trường và tự diễn biến hòa bình từ chủ nghĩa xã hội
sang chủ nghĩa tư bản đã cơ bản hoàn tất với việc 20 năm
sau vào năm 2006 Đại hội X của Đảng cộng sản Việt Nam đã
chính thức cho đảng viên làm kinh tế tư nhân vốn bị đảng
này coi là "bóc lột". Mặc dầu vậy, Đảng cộng sản Việt
Nam vẫn không chịu công khai thừa nhận sự phá sản của chủ
nghĩa xã hội và để bao biện cho việc rốt cuộc đã phải
thực hiện kinh tế thị trường hiện thân của chủ nghĩa tư
bản – đảng này đã biến báo kinh tế thị trường bằng
cách gắn cho nó cái đuôi "định hướng xã hội chủ
nghĩa": "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa". Tuy nhiên, sự bao biện này của Đảng cộng sản Việt
Nam đã thất bại hoàn toàn. Thực vậy, như trên đã nêu, "
chủ nghĩa xã hội" hay "xã hội chủ nghĩa" đồng nhất
với "xóa bỏ kinh tế thị trường". Vậy khi thay "xã hội
chủ nghĩa" trong "kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa" thì ta có "kinh tế thị trường định hướng
xóa bỏ kinh tế thị trường" vô nghĩa hoàn toàn! Ngoài ra,
chỉ việc Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú
Trọng trong chuyến đi thăm các nước thuộc Liên hiệp Châu Âu
( EU) đầu năm nay, 2013, luôn khẩn khoản đề nghị các nước
này công nhận Việt Nam có "nền kinh tế thị trường" chứ
không phải "nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa" cũng đã đủ cho thấy để tồn tại và hội
nhập thế giới ngày nay, Việt Nam không thể không từ bỏ chủ
nghĩa xã hội!

Chủ nghĩa xã hội cũng đồng nhất với tham nhũng. Như trên
đã đề cập, chủ nghĩa xã hội chủ trương quốc hữu hóa
toàn bộ nền kinh tế, Nhà nước trực tiếp kinh doanh dưới
hình thức doanh nghiệp Nhà nước, nghĩa là Nhà nước vừa là
người quản lý đồng nhất với giám sát, kiểm soát tài sản
quốc gia vừa là người sử dụng tài sản ấy, tức làm cái
chuyện "vừa đá bóng vừa thổi còi" theo cách nói dân gian.
Nói cách khác, Nhà nước không phải chịu bất cứ giám sát
kiểm soát nào trong việc sử dụng tài sản quốc gia và chính
lỗ hổng thể chế này đã tạo ra tham nhũng – tham nhũng thể
chế!

Tóm lại, doanh nghiệp Nhà nước là kênh chủ yếu để những
người nắm giữ quyền lực Nhà nước mà ở đây là các
đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam bòn rút tiền, của Nhân
dân mà các vụ VINASHIN, VINALINES là những bằng chứng điển
hình. Điều này lý giải vì sao Hiến pháp 1992 hiện hành vẫn
khẳng định vai trò chủ đạo của doanh nghiệp Nhà nước trong
nền kinh tế quốc gia cho dù tuyệt đại đa số doanh nghiệp
Nhà nước kinh doanh kém hiệu quả, cơ bản là lỗ. Trong các
lĩnh vực phi kinh doanh cũng vậy, tham nhũng tràn lan và trầm
trọng bởi sự độc quyền cầm quyền của Đảng cộng sản
Việt Nam đã loại trừ tính minh bạch trong sử dụng ngân sách
Nhà nước. Tình hình nghiêm trọng đến mức mà ngay Đảng
cộng sản Việt Nam cũng đã phải thừa nhận tham nhũng là
quốc nạn!

Trên cơ sở bộ chủ nghĩa xã hội – chế độ xã hội chủ
nghĩa vì những lý do đã rõ, tôi đề nghị lấy "Việt Nam"
làm quốc hiệu thay cho "Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam".

Cũng trên tinh thần bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa để thiết
lập chế độ dân chủ - đa đảng, tôi đề nghị bỏ chức
vụ "Chủ tịch Nước" và thay vào đó thiết lập chức vụ
"Tổng thống". Thực tiễn trên thế giới cho thấy Tổng
thống hoặc do Quốc Hội (Nghị viện) bầu hoặc do toàn dân
bầu thông qua phổ thông đầu phiếu. Tôi đề nghị Tổng
thống do toàn dân bầu nhằm tăng cường hơn nữa sức mạnh
của Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

<h2>III QUYỀN LẬP HIẾN THUỘC VỀ TOÀN DÂN, TRƯNG CẦU Ý DÂN
VỀ HIẾN PHÁP, HIẾN PHÁP SỬA ĐỔI</h2>

Điều 83 Hiến pháp quy định: "Quốc Hội là cơ quan duy nhất
có quyền lập Hiến và lập pháp".

Điều 84 Hiến pháp quy định: "Quốc Hội làm Hiến pháp và
sửa đổi Hiến pháp, làm luật và sửa đổi luật".

Điều 74 Dự thảo quy định: "Quốc Hội thực hiện quyền
lập Hiến, quyền lập pháp".

Như vậy, "lập Hiến" và " lập pháp" là hai vấn đề
khác nhau hay "lập pháp" không bao gôm "lập Hiến".

Tôi đề nghị Hiến pháp sửa đổi quy định quyền lập Hiến
thuộc về toàn dân, Quốc Hội chỉ thực hiện quyền lập pháp
với các lý do sau đây.

1 – Chính thể Việt Nam là Cộng hòa đồng nghĩa nhân dân là
chủ của đất nước. Do đó, chỉ nhân dân mới có quyền
quyết định các vấn đề của đất nước và nhân dân thực
hiện chủ quyền này của mình hoặc trực tiếp bằng lá phiếu
trong khuôn khổ bầu cử Quốc Hội, Hội đồng nhân dân và
trưng cầu ý dân hoặc gián tiếp thông qua các đại diện của
mình ở Quốc Hội, Hội đồng nhân dân và cac cơ quan do các cơ
quan dân cử bầu ra.

Trên tinh thần đó, những vấn đề quan trọng nhất của đất
nước, quan hệ đến vận mệnh quốc gia, mà đứng đầu là
Hiến pháp phải được nhân dân trực tiếp quyết định bằng
lá phiếu trong khuôn khổ trưng cầu ý dân hình thức dân chủ
trực tiếp cao nhất mà Hiến pháp 1946 – Hiến pháp đầu tiên
của nền Cộng hòa mà Bộ trưởng Cù Huy Cận phụ thân tôi là
Tổng thư ký Ban Dự thảo – gọi là quyền phúc quyết của
nhân dân (Điều 21: Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến
pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh của quốc gia theo
điều 32 và 70"; Điều 32: "Những việc quan hệ đến vận
mệnh quốc gia sẽ được nhân dân phúc quyết nếu hai phần ba
tổng số nghị viên đồng ý". Điều 70: "Sửa đổi Hiến
pháp phải theo cách thức sau đây: a) Do hai phần ba tổng số
nghị viên yêu cầu; b) Nghị viện bầu ra một ban dự thảo
những điều thay đổi; c) Những điều thay đổi khi đã được
Nghị viên ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết. Nói
cách khác, chừng nào Hiến pháp chưa được nhân dân trực
tiếp làm ra dưới hình thức phúc quyết về Hiến pháp thì
không thể nói nhân dân đã làm chủ đất nước hay Việt Nam
đã có Dân chủ.

Tuy nhiên, có một thực tế là trong điều kiện chiến tranh thì
quyền phúc quyết của toàn dân về Hiến pháp và các vấn đề
khác quan hệ đến vận mệnh quốc gia là không thể thực hiện
được như trường hợp của Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959,
điều này có nghĩa trong thời bình thì chủ quyền tối cao ấy
của nhân dân quyết không thể bị từ chối bất kể vì lý do
gì. Để nói việc Quốc Hội đã không đưa vào Hiến pháp 1980
và Hiến pháp 1992 quy định toàn dân phúc quyết về Hiến pháp
để rồi vin vào đó không đưa hai đạo luật cơ bản này của
nền Cộng hòa ra trưng cầu ý dân chỉ có thể là hành vi cố
ý xâm phạm Dân chủ một cách nghiêm trọng nhất. Do đó, để
vãn hồi nền Dân chủ thì không có cách nào khác là Hiến
pháp, Hiến pháp sửa đổi quy định quyền lập Hiến thuộc
về toàn dân.

2 – Điều 2 Hiến pháp quy định: "Có sự phân công và phối
hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các
quyền lập pháp hàm thức, tư pháp". Điều 2 Dự thảo quy
định: "có sự phân công, phối hợp kiểm soát giữa các cơ
quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành
pháp, tư pháp". Như vậy, cơ quan Nhà nước (Được hiểu ở
đây là Quốc Hội) chỉ có quyền lập pháp chứ không có
quyền lập Hiến.

Cụ thể, tôi đề nghị ghi vào Hiến pháp, Hiến pháp sửa
đổi quyền lập Hiến của nhân dân như sau:

1) Chỉ nhân dân mới có quyền lập Hiến dưới hình thức phúc
quyết về Hiến pháp, Hiến pháp sửa đổi trong khuôn khổ
trưng cầu ý dân.

2) Quy trình lập Hiến như sau:

a) Mọi công dân, cơ quan, tổ chức có quyền đề xuất Hiến
pháp, đề xuất sửa đổi Hiến pháp với Quốc Hội, Ủy ban
thường vụ Quốc Hội vào bất cứ lúc nào.

b) Căn cứ đề xuất Hiến pháp, đề xuất sửa đổi Hiến
pháp của công dân, cơ quan, tổ chức Quốc Hội quyết định
về làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp khi có ít nhất hai
phần ba tổng số Đại biểu Quốc Hội biểu quyết tán thành.

c) Quốc Hội thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp, Ủy ban Dự
thảo sửa đổi Hiến pháp.

d) Dự thảo Hiến pháp, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp sau khi
được ít nhất hai phần ba tổng số Đại biểu Quốc Hội
biểu quyết tán thành được đưa ra trưng cầu ý dân.

e) Trưng cầu ý dân chỉ hợp lệ khi có sự tham gia của quá
nửa tổng số cử tri. Dự thảo Hiến pháp, Dự thảo sửa
đổi Hiến pháp được thông qua sau khi được quá nửa tổng
số cử tri tham gia trưng cầu ý dân biểu quyết tán thành.

<h2>IV – THỰC HIỆN " TAM QUYỀN PHÂN LẬP"</h2>

Điều 2 Hiến pháp quy định: "Quyền lực Nhà nước là thống
nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan Nhà
nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư
pháp". Trong Điều 2 Dự thảo có thêm từ "kiểm soát":
"Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công,
phối hợp kiêm soát giữa các cơ quan Nhà nước trong việc
thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp".

Nếu như Hiến pháp tại Điều 83 xác định Quốc Hội thực
hiện quyền lập pháp thì cơ quan Nhà nước nào thực hiện
quyền hành pháp, cơ quan Nhà nước nào thực hiện quyền tư
pháp vẫn chưa được làm rõ, điều này đương nhiên tác
động tiêu cực đến việc xây dựng Nhà nước pháp quyền. Do
đó việc Dự thảo quy định Chính phủ thực hiện quyền hành
pháp tại Điều 99, Tòa án thực hiện quyền tư pháp tại
Điều 107 bên cạnh việc tái khẳng định Quốc Hội thực
hiện quyền lập pháp tại Điều 74 là hoàn toàn đúng đắn.
Hơn thế nữa, với việc xác định quyền lập pháp, quyền
hành pháp và quyền tư pháp, mỗi quyền có một chủ thể riêng
biệt, tức ba quyền này được thực hiện độc lập với nhau,
Dự thảo đã hoàn tất thiết lập thể chế "Tam quyền phân
lập" đồng nghĩa quyền lực Nhà nước không phải là một
thể thống nhất hay quyền lực Nhà nước không phải là thống
nhất.

Thực ra, khái niệm "quyền lực Nhà nước là thống nhất"
có nguồn gốc từ chế độ quân chủ chuyên chế trong đó mọi
quyền lực Nhà nước như quyền đặt ra luật, quyền bổ
nhiệm , bãi nhiệm các chức vụ trong bộ máy Nhà nước, quyền
tối hậu trong điều hành công việc Nhà nước và trong xét xử
điều nằm trong tay một người là vua. Nói cách khác, trong chế
độ quân chủ chuyên chế Nhà nước là của vua hay bản thân
vua là Nhà nước mà tuyên bố "Nhà nước là Ta" (L'Etat,
c'est moi) của vua Pháp Louis XIV (trị vì từ 1643 đến 1715) đã
thể hiện không gì rõ hơn. Do đó, để Nhà nước là của dân,
vì dân thì không có cách nào khác là phải lật đổ chế độ
quân chủ chuyên chế đồng nhất với việc phân chia quyền
lực Nhà nước thành 3 quyền riêng biệt là lập pháp, hành
pháp, tư pháp và mỗi quyền này được giao cho một cơ quan
độc lập thực hiện đồng nghĩa thành viên của cơ quan thực
hành quyền này không được là thành viên của cơ quan thực
hành quyền kia, cụ thể là Nghị viện (Quốc Hội) thực hiện
quyền lập pháp, Chính phủ thực hiện quyền hành pháp, Tòa án
thực hiện quyền tư pháp. Điêu đáng chú ý là một sự phân
công quyền lực Nhà nước như vậy không chỉ nhằm tránh cai
trị độc đoán khi các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp
chỉ do một cơ quan thực hiện theo kiểu "quân chủ chuyên
chế không vua" mà còn nhằm tránh lạm dụng quyền lực Nhà
nước khi mỗi quyền được đặt trong sự kiểm soát của hai
quyền kia. Học thuyết chính trị này được gọi là "Tam
quyền phân lập" và đã được các nhà cách mạng tư sản
dân quyền thực hiện thành công ở Châu Âu từ thế kỷ 16.
Tóm lại, sự ra đời của các quyền lập pháp, hành pháp và
tư pháp với mỗi quyền có chủ thể riêng biệt chính là sự
phủ nhận tuyệt đối "quyền lực Nhà nước là thống
nhất". Ví như cái bánh một khi được cắt thành miếng thì
không thể gọi đó là bánh nguyên cái nữa!

Do đó, việc Hiến pháp và Dự thảo một mặt đề ra các
quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp nhưng mặt khác khẳng
định "quyền lực Nhà nước là thống nhất rõ ràng là phủ
nhận "Tam quyền phân lập" hay khẳng định "Tam quyền
nhất lập" theo đó 3 quyền này kết làm một bởi đều nằm
trong tay của Đảng cộng sản Việt Nam. Nói cách khác, hành xử
của Đảng cộng sản Việt Nam là hành xử của "vua không
ngai", lẽ dĩ nhiên điều này chi gây hại cho Dân chủ, cho
quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Bài "Tam quyền
nhất lập đồng lòng hại dân" mà tôi đã viết và công bố
chính là nhắm tới xóa bỏ thể chế bê bối và phản pháp
quyền này.

<h2>V - BỎ "LỰC LƯỢNG VŨ TRANG PHẢI TUYỆT ĐỐI TRUNG THÀNH
VỚI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM, BẢO VỆ ĐẢNG, CHẾ ĐỘ XÃ
HÔI CHỦ NGHĨA"</h2>

Điều 70 Dự thảo quy định: "Lực lượng vũ trang phải
tuyệt đối trung thành với Đảng cộng sản Việt Nam, Tổ
Quốc và nhân dân, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ
quyền , thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc, an ninh
quốc gia và trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, Nhà
nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, cùng toàn dân
xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế".

Tôi đề nghị bỏ "Lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt
đối với Đảng cộng sản Việt Nam bảo vệ Đảng, chế độ
xã hội chủ nghĩa" ra khỏi Hiến pháp sửa đổi với những
lý do sau:

1 - Ở Việt Nam cũng như ở bất cứ quốc gia nào, việc Hiến
định lực lượng vũ trang có tầm quan trọng vô cùng đặc
biệt vì nó liên quan đến vận mệnh của quốc gia, của toàn
thể người dân và vì thế việc Hiến định này, bao gồm cả
sửa đổi, cần phải được lý giải một cách rõ ràng,
ngược lại là áp đặt, mà áp đặt tất sẽ gây động loạn
trong xã hội.

Như chúng ta đa biết, không có bất cứ Hiến pháp Việt Nam nào
kể cả Hiến pháp hiện hành, quy định " lực lượng vũ trang
phải tuyệt đối trung thành với Đảng cộng sản Việt Nam,
bảo vệ Đảng" cả. Do đó, nhất thiết phải có giải thích
vì sao các Hiến pháp không có quy định này cũng như vì sao Dự
thảo lại có quy định này. Thế nhưng trong "Thuyết minh về
Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992" ngày 05/01/2013 của
Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp chỉ thấy ghi: "Dự
thảo khẳng định lực lượng vũ trang có nhiệm vụ tuyệt
đối trung thành với Đảng và bảo vệ Đảng:! Nghĩa là áp
đặt với hậu quả đã rõ!

2 – Điều 2 Hiến pháp và Điều 2 Dự thảo đều quy định:
"Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả
quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân". Như vậy, lực
lượng vũ trang nhân dân với tư cách là một công cụ để
thực hiện quyền lực Nhà nước đương nhiên là của nhân
dân, thuộc về nhân dân như chính cái tên của lực lượng vũ
trang này đã chỉ rõ, điều này đồng nghĩa lực lượng vũ
trang nhân dân không thể trung thành với ai khác bảo vệ ai khác
ngoài nhân dân và Tổ quốc! Nói cách khác, muốn quy định lực
lượng vũ trang phải tuyệt đối trung thành với Đảng cộng
sản Việt Nam, bảo vệ Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa
(mục đích của Đảng cộng sản Việt Nam) thì Điều 2 Hiến
pháp và Điều 2 Dự thảo phải được sửa thành "Nhà nước
của Đảng cộng sản Việt Nam, do Đảng cộng sản Việt Nam,
vì Đảng cộng sản Việt Nam. Tất cả quyền lực Nhà nước
thuộc về Đảng cộng sản Việt Nam" cũng như phải loại bỏ
"nhân dân" khỏi "lực lượng vũ trang nhân dân" cái đã!
Tất nhiên khi tiến hành những thay đổi này thì đồng thời
phải xóa bỏ nền Cộng hòa vì Cộng hòa đồng nhất với
"Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả
quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân". Mà đã xóa bỏ
nền Cộng hòa thì hoặc phải tái lập chế độ quân chủ
hoặc phải thiết lập một chính thể hoàn toàn mới mà "
Đảng chủ" chắc chắn là tên gọi thích hợp nhất! còn nếu
những thay đổi chính trị nói trên là không thể thì lực
lượng vũ trang nhân dân chỉ có thể trung thành với Tổ Quốc
và nhân dân mà thôi!

3 – Nói một cách thực tế, ai nuôi lực lượng vũ trang thì
nhận được sự trung thành và sự bảo vệ của lực lượng
vũ trang. Do đó, việc lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam
đang được nuôi bằng ngân sách Nhà nước, tức bằng tiền
của nhân dân chứ không phải bằng đảng phí của Đảng cộng
sản Việt Nam, huống hồ đảng này cũng đang hoạt động chủ
yếu bằng ngân sách Nhà nước, thì lực lượng vũ trang nhân
dân Việt Nam chỉ có thể trung thành với nhân dân, bảo vệ
nhân dân chứ tuyệt nhiên không thể trung thành và bảo vệ
Đảng cộng sản Việt Nam.

Nhân đây cũng cần khẳng định rằng lực lượng vũ trang
không được "ăn hai mang" không được cùng lúc nhận tiền
từ ngân sách Nhà nước và từ đảng chính trị hoặc đối
tượng khác. Còn một khi đã nhận tiền của đảng chính trị
hoặc của đối tượng khác thì lực lượng vũ trang không thể
là lực lượng vũ trang nhân dân hay lực lượng vũ trang quốc
gia mà nhận tiền của đảng chính trị hoặc đối tượng khác
thì là Nhà nước nhân dân đang "nuôi ong tay áo" bởi lực
lượng vũ trang "ăn hai mang" này thủ tiêu chính quyền nhân
dân vì lợi ích của đảng chính trị hay đối tượng khác
chỉ còn là vấn đề thời gian!

4 – Tại lễ khai giảng khóa đầu tiên của Trường Võ bị
Trần Quốc Tuấn ngày 26/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao
cho cán bộ, học viên lá cờ thêu dòng chữ "Trung với Nước,
Hiếu với Dân" và có nói: "Anh em có nhiều giai cấp, tư
tưởng khác nhau … Mong rằng anh em ở đây bao giờ cũng phải
làm theo hai khẩu hiệu mà nó là cái mục đích của anh em
"Trung với Nước, Hiếu với Dân". Mà trong chính thể Cộng
hòa thì Nước với Dân là một, "Trung với Nước" cũng là
"Trung với Dân". Lời căn dặn này của Chủ tịch Hồ Chí
Minh là nhằm khẳng định lực lượng vũ trang nói chung, quân
đội nói riêng phải "phi đảng hóa" hay "phi chính trị
hóa" để có thể toàn tâm chiến đấu vì Nước vì Dân. Do
đó việc Dự thảo quy định "lực lượng vũ trang nhân dân
phải tuyệt đối trung thành với Đảng cộng sản Việt Nam,
bảo vệ Đảng, chủ nghĩa xã hội (mục đích của Đảng cộng
sản Việt Nam) rõ ràng là chống lại chính Chủ tịch Hồ Chí
Minh!

<h2>VI – THIẾT LẬP TÒA ÁN HIẾN PHÁP</h2>

Khoảng 6 năm trước, tôi đã tuyên bố trên phương tiện thông
tin đại chúng là ở Việt Nam phải có cơ quan chuyên trách bảo
vệ Hiến pháp, cụ thể là Tòa bảo Hiến hay Tòa án Hiến pháp
không chỉ vì có quá nhiều xâm phạm Hiến pháp gây thiệt hại
nghiêm trọng cho quốc gia và công dân từ các cơ quan Nhà nước
mà còn vì Nhà nước Việt Nam là Nhà nước pháp quyền đồng
nghĩa Hiến pháp – đạo luật cơ bản của quốc gia được
bảo vệ nghiêm cẩn bằng thiết chế, chứ không chỉ bằng ý
chí, thì mới loại trừ và răn đe được sự cố ý làm trái
Hiến pháp hay chí ít sự tùy tiện của các cơ quan Nhà nước
trong làm luật và ban hành các văn bản dưới luật và các văn
bản khác. Do đó tôi hoanh nghênh việc thiết lập cơ quan chuyên
trách bảo vệ Hiến pháp mà Dự thảo đề xuất dưới hình
thức Hội đồng Hiến pháp.

Tuy nhiên, tôi vẫn khẳng định rằng cần thiết lập Tòa án
Hiến pháp với những lý do sau:

Dự thảo quy định Hội đồng Hiến pháp kiến nghị Quốc Hội
và các cơ quan Nhà nước khác xem xét lại, sửa đổi, bổ sung
văn bản quy phạm pháp luật của mình vi phạm Hiến pháp, kiểm
tra tính hợp Hiến của điều ước quốc tế được ký kết.
Như vậy, Hội đồng Hiến pháp chỉ có chức năng tư vấn,
không có chức năng phán quyết về tính hợp Hiến của các văn
bản do các cơ quan Nhà nước ban hành đồng nhất với quyền
hủy bỏ các văn bản vi phạm Hiến pháp và do đó Hội đồng
Hiến pháp không thực hiện được nhiệm vụ bảo vệ Hiến
pháp trong trường hợp các cơ quan Nhà nước có liên quan không
thu hồi, hủy bỏ các văn bản vi phạm Hiến pháp. Còn với
chức năng phán quyết của mình, Tòa án Hiến pháp hủy bỏ các
văn bản vi Hiến là không phải bàn cãi.

Trên thực tế, không chỉ các văn bản quy phạm pháp luật,
tức có tính bắt buộc chung mà cả các văn bản chuyên biệt
của các cơ quan Nhà nước từ Trung ương đến địa phương có
tính bắt buộc đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức nhất
định vi phạm Hiến pháp. Do đó, phạm vi điều chỉnh của Tòa
án Hiến pháp là tất cả các văn bản có dấu hiệu vi phạm
Hiến pháp do các cơ quan Nhà nước ban hanh, bất luận quy phạm
pháp luật hay không.

Ngoài ra, Tòa án Hiến pháp có quyền phán quyết về các tranh
chấp liên quan đến bầu cử Quốc Hội, bầu cử Tổng thống,
Hội đồng nhân dân, kết quả trưng cầu ý dân, thực hiện
chức năng đăng ký các đảng chính trị.

Mặc dầu vậy, "Hội đồng Hiến pháp" vẫn có thể được
chấp nhận nếu cơ quan này có mọi chức năng của Tòa án
Hiến pháp như tôi vừa nêu trên.
Bởi lẽ trên tôi đề nghị quy định về tòa án Hiến pháp
(Hội dồng Hiến pháp) trong Hiến pháp sửa đổi như sau:

1 – Tòa án Hiến pháp (Hội đồng Hiến pháp) là cơ quan
chuyên trách bảo vệ Hiến pháp do Quốc Hội thành lập, các
thành viên do Quốc Hội bầu trên cơ sở đề nghị của Chủ
tịch Quốc Hội. Nhiệm kỳ của Tòa án Hiến pháp (Hội đồng
Hiến pháp) kéo dài cho đến khi Quốc Hội khóa mới bầu ra các
thành viên mới của Tòa án Hiến pháp.

2 - Tòa án Hiến pháp có chức năng:

a) Phán quyết về tính hợp Hiến của các văn bản do các cơ
quan Nhà nước ban hành, hủy bỏ các văn bản vi phạm Hiến
pháp.

b) Phán quyết về các tranh chấp liên quan đến bầu cử Quốc
Hội, bầu cử Tổng thống, bầu cử Hội đồng nhân dân, trưng
cầu ý dân.

c) Đăng ký các đảng chính trị.

<h2>VII- NGĂN CHẶN CƠ QUAN NHÀ NƯỚC XÂM PHẠM QUYỀN CON NGƯỜI,
QUYỀN CÔNG DÂN</h2>

Tôi đề nghị như sau:

1 - Dự thảo quy định "Quyền con người, quyền công dân
chỉ có thể bị giới hạn trong trường hợp cần thiết vì lý
do quốc phòng an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo
đức, sức khỏe của cộng đồng tại khoản 2 Điều 15 mà
không quy định các giới hạn quyền con người, quyền công dân
phải được quy định trong luật tất dẫn đến việc các cơ
quan Nhà nước ngoài Quốc Hội hay cơ quan lập pháp tùy tiện
định ra các giới hạn quyền con người, quyền công dân để
triệt tiêu chính các quyền này. Do đó, cần sửa lại quy
định này của Dự thảo như sau "Quyền con người, quyền
công dân chỉ có thể bị giới hạn trong trường hợp cần
thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn
xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng. Nhưng giới
hạn quyền con người, quyền công dân phải được quy định
trong luật".

2 - Bỏ quy định "Không được lợi dụng quyền con người,
quyền công dân để xâm phạm lợi ích quốc gia, lợi ích dân
tộc, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác tại khoản 2
Điều 16 Dự thảo vì quy định này trái với nguyên tắc của
Nhà nước pháp quyền là "Mọi người có thể làm những gì
mà luật không cấm" (Ngược lại, cơ quan công quyền và công
chức phải tuân theo nguyên tắc "chỉ được làm những gi mà
luật cho phép" – Từ điển Bách Khoa Việt Nam).

Trên đây là những tâm huyết và cũng là trách nhiệm công dân
của tôi trong việc xây dựng một Nhà nước pháp quyền thực
sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Nếu có vấn đề gì cần trao đổi, Quý Quốc Hội và Quý ủy
ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 liên hệ sớm với
tôi và tôi sẵn sàng phục vụ quý vị.

Tôi mong sớm nhận được hồi âm từ quý vị.
Người
yêu nước
Đã ký
Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ

Nơi nhận:
- Như trên;
- Gia đình ông Cù Huy Hà Vũ; Bà Nguyễn Thị Dương Hà (vợ)
- Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà và các luật sư khác;
- Lưu.

<center><img src="https://danluan.org/files/u1/sub03/image004_5.jpg"
width="600" height="330" alt="image004_5.jpg" /></center>

<center><img src="https://danluan.org/files/u1/sub03/image003_19.jpg"
width="588" height="388" alt="image003_19.jpg" /></center>




***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20131117/cu-huy-ha-vu-gop-y-kien-ve-du-thao-sua-doi-hien-phap-nam-1992),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét