Bản đồ sẽ nói lên nhiều thông tin hữu ích nếu người xem
biết đọc nó. Việc so sánh bản đồ cũng vậy, nó cũng nói
lên được nhiều điều. Nhưng kết quả còn tùy thuộc vào
kiến thức và mục đích chính trị của người thực hiện.
Bộ bản đồ biên giới Việt-Trung, nhiều người quan tâm đến
tình hình đất nước mong mõi từ bấy lâu nay, tình cờ được
tiết lộ qua một nguồn tin không chính thức. Một số chi tiết
kỹ thuật quan sát được như sau:
Bộ bản đồ bao gồm 35 tấm, tấm số 1 vẽ khu vực biên giới
Việt-Trung-Lào, với cột mốc số 1 cắm trên ngọn Khoan La San
là giao điểm của ba đường biên giới. Tấm cuối cùng số 35
vẽ khu vực biên giới thuộc cửa sông Bắc Luân, mốc chót mang
số 1378 cắm trên bãi Dậu Gót. Tức vẽ theo số thứ tự của
cột mốc từ tây sang đông. Bộ bản đồ này được vẽ theo
hệ thống tọa độ WGS 84 (World Geodetic System 1984), theo phép
chiếu Gauss-Kruger, lấy kinh tuyến trung tâm 105° và múi chiếu
6°, có tỉ lệ 1/50.000. Trên mỗi bản đồ chia theo từng múi
kinh tuyến và vĩ tuyến biên độ 1'. Như vậy chiều dài một
ô trên bản đồ, chiều ngang 1717m, dọc 1851m.
Như vậy bộ bản đồ này đúng theo tiêu chuẩn của quốc tế
về đường biên giới. Tuy vậy, không biết do vô tình hay hữu
ý, phẩm chất của các bản chụp rất tệ hại, các chi tiết
trên bản đồ lem nhem, không rõ rệt. Thậm chí số các cột
mốc còn không đọc được, các địa danh cũng vậy. Đọc và
hiểu nó đã khó, so sánh nó với các bản đồ khác là cả
một vấn đề!
Việc so sánh bản đồ là một vấn đề thuộc về kỹ thuật.
Phép so sánh theo lối <em>"chồng bản đồ"</em> là việc
thường thấy. Tuy nhiên việc so sánh này chỉ có thể đem lại
kết quả chính xác nếu hai bản đồ có cùng tỉ lệ, cùng vẽ
trên một hệ thống tọa độ, cùng một phép chiếu và cùng
múi chiếu. Hiện nay, với các bộ bản đồ được số hóa,
người ta có thể so sánh một cách dễ dàng hai bộ bản đồ,
bằng phương pháp toán học để biết kết quả, với các nhu
liệu thích hợp.
Bộ bản đồ biên giới Việt-Trung vừa công bố có hệ thống
tọa độ đính kèm. Nếu muốn so sánh nó với một bộ bản
đồ khác để xem kết quả được mất như thế nào, ta có hai
phương pháp:
1/ so sánh với một tập hợp tọa độ của đường biên giới
cho sẵn,
2/ so sánh với một bộ bản đồ làm chuẩn.
Theo tinh thần Hiệp ước Biên giới 1999, đường biên giới vẽ
theo công ước Pháp-Thanh 1887-1895 được hai bên Việt-Trung công
nhận có giá trị làm chuẩn. Đường biên giới này là đường
biên giới đầu tiên của VN có tính <em>"quốc tế"</em>, có giá
trị công pháp quốc tế. Bộ bản đồ này được Sở Địa Dư
Đông Dương ấn hành, gồm một bộ bản đồ 1/100.000 và một
số tấm 1/50.000, vào các năm 1928 và các năm thuộc thập niên
40, 50. Công tác trắc địa cho bộ bản đồ này được thực
hiện từ năm 1887 đến năm 1897, tức những năm phân định và
phân giới, cắm mốc.
Kỹ thuật cắm mốc thời kỳ này còn thô sơ. Vị trí các cột
mốc được mô tả theo vị trí tương đối của nó chứ không
theo tọa độ như ngày nay. Một số thí dụ, cột mốc được
cắm <em>"trên đỉnh ngọn núi", "trên đỉnh đèo", "bên lề con
đường, cách cổng biên giới xxx mét", "cắm trên đường từ A
đến B", "tại giao điểm hai con đường từ A đến B và từ C
đến D"</em> v.v… Một số mốc đo theo cách thức <em>"tam giác
đạc"</em>, tức cột mốc cách điểm cố định A bao nhiêu mét
(hay dưới một góc β) và B bao nhiêu mét…
Các bản đồ được vẽ thời kỳ này, nhiều tấm không để
ý độ sai do độ cong của quả đất, do đó thiếu chính xác.
Việc này chỉ được sửa chữa lại theo bộ bản đồ 1948.
Dầu vậy, chưa có công tác nào, cho đến khi Pháp rút khỏi
Việt Nam, bộ bản đồ biên giới này được hệ thống hóa
theo hệ thống tọa độ.
Như thế, về kỹ thuật, người ta khó có thể so sánh theo lối
chồng bản đồ, hay so sánh hệ thống tọa độ với tọa độ
một bản đồ khác, thí dụ, bản đồ biên giới 1999.
Người ta chỉ có thể so sánh hai bộ bản đồ này với một
kết quả tương đối chấp nhận được, là so sánh cùng lúc
bản đồ và văn bản mô tả đường biên giới. Muốn chính
xác hơn, phải ra thực địa để kiểm chứng lại.
Một vài kết quả sơ khởi của tác giả công bố sau đây, sau
khi so sánh các tấm bản đồ từ số 35 đến số 30, tức khảo
sát từ đông sang tây. Do hạn chế về thời gian và một số
khó khăn về kỹ thuật, có thể tác giả còn sót ở một số
điểm trên các tấm bản đồ này.
<h2>1/ Các bãi bồi ở cửa sông Bắc Luân: Khảo sát tấm bản
đồ số 35.</h2>
Khu vực này tác giả đã từng viết qua, trong bài <a
href="http://nhantuantruong.blogspot.fr/2013/02/su-khong-cong-bang-trong-viec-phan-inh.html">ở
đây</a>.
Theo tài liệu phân định biên giới, khu vực cửa sông Bắc
Luân được xác định có độ dài khoảng 14 km, bắt đầu từ
thượng lưu bãi Tục Lãm đến điểm đầu của đường phân
định Vịnh Bắc Bộ. Trong vùng này có các cồn đất là bãi
Tục Lãm, bãi Tài Xẹt và bãi Dậu Gót. Các bãi đất này chỉ
mới được đất phù sa sông Bắc Luân bồi đắp sau khi phân
định biên giới (1885-1897). Các bãi này chưa được xác định
chủ quyền.
Đường biên giới khu vực cửa sông Bắc Luân được xác
định vào ngày 31-12-2008. Số phận của các bãi này được xác
định như sau:
Bãi Tục Lãm: Việt Nam được ¾, Trung Quốc được 1/4 bãi Tục
Lãm
Bãi Dậu Gót: Việt Nam được 1/3 và TQ được 2/3 bãi.
Bãi Tài Xẹc: hoàn toàn thuộc về Trung Quốc.
<a href="http://www.flickr.com/photos/22851651@N03/3353571851/" title="bai
tuc lam de truongnhantuan, sur Flickr"><img
src="http://farm4.staticflickr.com/3467/3353571851_19db683990.jpg"
width="400" height="300" alt="bai tuc lam"></a>
<em><center>Bãi Tục Lãm, nguồn: báo chí trong nước.</center></em>
Tuy nhiên, nếu xét lại các nguyên tắc phân chia các cồn, bãi
bồi, cù lao… mới thành hình trên sông, hay trên biển của
công ước 1887, ta thấy các bãi này thuộc về Việt Nam.
Thật vậy, nội dung công ước qui định, đường biên giới
trên sông luôn là dòng chảy chính tàu bè qua lại, hoặc là
dòng chảy sâu nhất. Nếu mưa lũ làm đổi dòng, thì cứ theo
nguyên tắc này mà áp dụng. Các cồn, bãi… trên sông, ở về
phía bên nào thì thuộc về bên đó. Các cù lao trên biển, thì
đường kinh tuyến đi qua điểm cực đông đảo Trà Cổ làm
tiêu chuẩn. Các cù lao, đảo ở phía đông đường này thuộc
Trung Quốc, phía tây thuộc Việt Nam.
Cả hai trường hợp, các bãi bồi nói trên, qui định trên sông
hay thuộc về biển, chúng cũng thuộc về Việt Nam.
Nhìn bản đồ vệ tinh ta thấy đường nước sâu nhất là
đường nước màu xanh đậm, là đường tàu bè qua lại, tức
là đường biên giới. Các bãi Tục Lãm, Tài Xẹc và bãi Dậu
Gót đều ở phía hữu ngạn của dòng chảy sâu nhất (là
đường biên giới), tức ở về phía Việt Nam. Các bãi này
cũng nằm về phía tây đường kinh tuyến đi qua đông điểm
đảo Trà Cổ.
<h2>2/ Khu vực Trình Tường (văn bản phân giới 1887 gọi là
Trịnh Tường): </h2>
Quan sát bản đồ Việt Nam vừa công bố, tấm số 32.
Làng Trình Tường không còn tên trên bản đồ. Hình dưới đây
là một góc của tấm bản đồ số 32. Đường đỏ là đường
biên giới cũ (1887). Đường hồng là đường biên giới mới
(1999).
<a href="http://www.flickr.com/photos/22851651@N03/9977800986/" title="Trình
tường 2 de truongnhantuan, sur Flickr"><img
src="http://farm8.staticflickr.com/7457/9977800986_630c62d238.jpg"
width="279" height="500" alt="Trình tường 2"></a>
Quan sát mảnh bản đồ dưới đây, cắt ra từ bản đồ phân
giới của Pháp-Thanh :
<a href="http://www.flickr.com/photos/22851651@N03/9977868753/" title="Trình
tường de truongnhantuan, sur Flickr"><img
src="http://farm8.staticflickr.com/7430/9977868753_7478e32892.jpg"
width="354" height="500" alt="Trình tường"></a>
Đường biên giới cũ là đường đỏ (1887), biên giới mới là
đường hồng (1999).
So sánh hai bản đồ, khu vực đất gạch chéo là đất của
Việt Nam mất cho Trung Quốc.
Phần văn từ pháp lý: Biên bản phân giới ngày 11-3-1893, đoạn
3, biên giới khu vực liên quan được mô tả:
Đường trung tuyến của sông Đông Mô 洞謨 (Toung Mou), tức
sông Tiên Yên, là đường biên giới cho tới phía bắc làng
Đông Mô.
Những làng Bồ Nam 蒲楠 (Bou Nam), Khôn Văn 坤文 (Kw'an Ouen),
Động Trung 峝中 (Toung Tchoung) thuộc về Trung Hoa ; những làng
Na Bô 那簿 (Na Pou), Dinh Kiều 營叫 (Yng Kiao), Bản Sầm 本岑
(Penn Chin), Đông Phê 洞批 (Toung Pi) và Đông Mô 洞謨 (Toung Mou)
thuộc về Việt Nam.
Đường biên giới sau đó là sông Na Sa 那沙 (Na-Cha), phụ lưu
hữu ngạn sông Tiên Yên, chảy qua phía Đông làng Na Sa và phía
Tây làng Đông Xã 洞舍 (Toung-Sié).
Na Sa thuộc về Việt Nam và Đông Xã thuộc về Trung Hoa.
Đường biên giới, cũng là phụ lưu nói trên, sau đó đi đến
giao điểm của sông này với con suối mà nguồn của nó cách
Trịnh Tường 呈祥 (Tcheng Siang) 500 m; đường biên giới theo
dòng suối này từ giao điểm này cho tới nguồn của nó. Tại
đây đường biên giới theo đường thẳng cho tới Bắc Cương
Ải 北崗, đi ngang qua các đỉnh 675, 812 và 746 về phía Tây
Bắc Trịnh Tường.
Làng Trịnh Tường thuộc về Việt Nam; các làng Vệ Tàm 衞慙
(Shu-Tan) và Kiểu Tào 矯曹(Kiao Tsao) thì thuộc về Trung Hoa.
<h2>Kết luận:</h2>
Toàn bộ khu vực giữa hai nhánh sông (sông Na Sa và suối Trịnh
Tường), cũng như làng Trịnh Tường thuộc về Việt Nam nay đã
thuộc về Trung Quốc. Ngả ba sông, cột mốc 32 cũ vẫn còn
đúng vị trí, tương ứng mốc mới 1312. Từ ngả ba sông này,
đường biên giới lý ra phải theo nhánh đông-bắc, nay theo
nhánh tây-bắc.
Diện tích đất bị mất khoảng 1' vuông trên bản đồ. Tạm
xem là ô vuông, diện tích bị mất là khoảng 3km².
Điều đáng ghi nhận, đây là lần đầu tiên Việt Nam mất
trọn một làng cùng với dân số trong làng. Trong dịp phân
định, phân giới và cắm mốc biên giới 1887-1897, một số
làng thuộc Việt Nam cũng bị mất cho TQ với trường hợp
tương tự. Do căm thù người Pháp, một số dân làng ở khu
vực Hoành Mô (Hải Ninh) không nhìn nhận mình là Việt Nam
(thực ra là dân Nùng, có cùng nguồn gốc với người Choang bên
TQ), do đó những vùng đất này thuộc TQ. Điều này cho thấy,
với lối đối xử bạo ngược, mất lòng dân của người cầm
quyền, trong khi phía láng giềng giàu mạnh hơn, ưu ái hơn,
những người này sẵn sàng bỏ quốc tịch Việt Nam để nhập
tịch TQ. Đây cũng là một đe dọa, không chỉ vùng biên giới
phía bắc, mà còn vùng biên giới tây nam, vùng cao nguyên v.v…
nếu lãnh đạo Việt Nam vẫn lấy sức mạnh là đường lối
cai trị, không có các chính sách hòa giải và khoan dung, việc
tương tự như mất đất Trình Tường sẽ còn xảy ra.
<h2>3/ Khu vực Chi Ma - Ải điếm Ải khẩu: Tấm 29 và 30.</h2>
Đường biên giới 1887 đi qua trước mặt cửa ải Chi Ma, đi
theo sống núi và các đỉnh cao, để lại cho VN toàn bộ khu
vực núi Công Mẫu Sơn (Mẫu Sơn).
Đường biên giới 1999 đi lên rặng Mẫu Sơn, sườn phía bắc,
theo hình sau đây.
<a href="http://www.flickr.com/photos/22851651@N03/9982921155/" title="Chi Ma
de truongnhantuan, sur Flickr"><img
src="http://farm3.staticflickr.com/2856/9982921155_b96c0925d6.jpg"
width="487" height="500" alt="Chi Ma"></a>
Tấm 30.
<a href="http://www.flickr.com/photos/22851651@N03/9982927744/" title="Mau
Son de truongnhantuan, sur Flickr"><img
src="http://farm3.staticflickr.com/2867/9982927744_a6fa79391c.jpg"
width="500" height="425" alt="Mau Son"></a>
Tấm 29.
<a href="http://www.flickr.com/photos/22851651@N03/9986254473/" title="Mau
son 2 de truongnhantuan, sur Flickr"><img
src="http://farm4.staticflickr.com/3754/9986254473_518185c7ca.jpg"
width="360" height="500" alt="Mau son 2"></a>
Bản đồ cắm mốc 1892.
Đường biên giới 1887 màu đỏ. Đường biên giới 1999 màu
hồng.
Các cột mốc, theo công ước 1887, cắm trên khu vực này gồm
các cột 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47.
Tại cửa ải Chí Mã (hiện nay gọi là Chi Ma thì phải) đường
biên giới đi trước của ải. Kế cận là mốc cắm trên con
đường từ Phai San đến Chí Mã, cách Chi Ma 1200m.
Tại các cửa ải Na Chi (Na Chi ngoại sách) hay Ải Điếm Ải
Khẩu (nay gọi là Ái Diễm thì phải), đường biên giới cũng
đi qua trước của ải.
Sau đó đường biên giới đi qua các đỉnh núi và đường
sống núi (Lộc Vinh Sơn, Công Mẫu Sơn, Đạo Nê Sơn, Bộ Môn
Sơn, Lễ Do Sơn, Thạch Bi Sơn, Ngạc Hầu sơn…..).
Việt Nam mất đất khu vực này khoảng vài cây số vuông.
<h2>4/ Khu vực Nam Quan, tấm 29.</h2>
Đường biên giới khu vực này đi qua cột mốc số số 16 tên
Lộng Diêu Ngoại sách (tức Lũng Nghiêu), cột 17 tên Khiêu giá
sơn, tức núi đá phía tay bắc Đồng Đăng. Cột 18, cách cổng
Nam Quan 100m về phía nam. Cột mốc 19 cắm trên đỉnh núi. Cột
số 20 cắm tại địa điểm tên <em>"Po Sie"</em> (!), Phổ Ta Lĩnh
溥些嶺, tức cũng trên đỉnh núi.
Như thế, đường biên giới khu vực này, cắm theo công ước
1887, và bản đồ dưới đây, là khá rõ rệt.
<a href="http://www.flickr.com/photos/22851651@N03/9978412624/" title="nam
quan 2 de truongnhantuan, sur Flickr"><img
src="http://farm4.staticflickr.com/3710/9978412624_9569ca1117.jpg"
width="500" height="375" alt="nam quan 2"></a>
Mảnh bản đồ tấm 29:
<a href="http://www.flickr.com/photos/22851651@N03/9978284715/" title="nam
quan de truongnhantuan, sur Flickr"><img
src="http://farm8.staticflickr.com/7361/9978284715_46a0553f24.jpg"
width="447" height="500" alt="nam quan"></a>
Trên hai bản đồ, đường đỏ là đường biên giới theo công
ước 1887, đường hồng theo hiệp ước 1999.
Việt Nam mất đất khu vực này khoảng vài cây số vuông.
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20130929/truong-nhan-tuan-khao-sat-so-luoc-bo-ban-do-bien-gioi-viet-trung-tu-cua-song-bac),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét