<em><strong>Trong khuôn khổ Chuỗi các sự kiện Cầu nối ASEAN
lần thứ tư do International Peace Foundation tổ chức, chiều 13/3
tại Hà Nội, GS Ngô Bảo Châu đã có buổi nói chuyện với sinh
viên ĐH Bách khoa về chủ đề "Học như thế nào?". Dưới đây
là nội dung bài nói chuyện.</strong></em>
<div class="boxleft320"><img
src="http://tiasang.com.vn/DesktopModules/VietTotal.Articles/ImageHandlerLarge.ashx?width=250&height=188&HomeDirectory=%2fPortals%2f0%2fVietTotal.Articles%2fGiaoduc%2f&fileName=ngo+bao+chau.jpg&portalid=0&i=6089&q=1"
/><div class="textholder">GS Ngô Bảo Châu ký tặng sinh viên trường
Đạo học Bách khoa Hà Nội ngày 13-3. Ảnh: TTXVN.</div></div>
Tôi rất hay được các em học sinh, sinh viên và các bậc phụ
huynh hỏi về "bí quyết học tập". Tôi thường trả lời
"Không có bí quyết gì cả. Quan trọng là niềm say mê." Trả
lời như vậy là một cách né tránh. Không sai nhưng cũng không
đầy đủ. Tôi bắt buộc phải trả lời như thế khi mình chưa
bao giờ suy nghĩ về vấn đề này một cách thấu đáo. Nhưng
không thể nào né tránh được mãi câu hỏi này. Cũng không
thể nào trút hết trách nhiệm lên đầu người khác bằng cách
nói: "đây là chuyện chuyên môn của những người làm công
tác nghiên cứu khoa học giáo dục".
Điểm lại cuộc đời mình, tôi thấy cho đến thời điểm này
mình không làm gì khác ngoài việc đi học, sau đó dạy học và
nghiên cứu khoa học. Trong quá trình ấy, chắc tôi cũng đã
từng có những suy nghĩ riêng. Chỉ có điều những suy nghĩ đó
chưa bao giờ được sắp xếp lại một cách hệ thống và
được diễn đạt một cách mạch lạc. Chuẩn bị cho buổi nói
chuyện này là cơ hội rất tốt để tôi làm việc này, cái
việc mà phải thú thật là rất vất vả nhưng hy vọng là có
ích.
Tôi xin cảm ơn International Peace Foundation và trường Đại học
Bách Khoa đã cùng tổ chức sự kiện này. Cảm ơn tất cả các
quí vị, các bạn sinh viên, học sinh đã đến dự buổi nói
chuyện ngày hôm nay. Sự quan tâm của quí vị là động cơ
mạnh để tôi hoàn thành bài trao đổi này.
Dàn bài của tôi dựa vào ba câu hỏi. Thứ nhất: <em>cái gì là
động cơ căn bản cho việc học tập.</em> Thứ hai: <em>học
chữ hay học làm người?</em> Thú thực là tôi không thích câu
hỏi này, vì nó rất mập mờ và đa nghĩa. Nhưng tôi sử dụng
chính tính đa nghĩa của nó để triển khai thành các câu hỏi
nhỏ xung quanh việc học cái gì? Câu hỏi cuối cùng làm thành
nhan đề của bài nói chuyện này: <em>học như thế nào?</em>
Tôi không có tham vọng đưa ra câu trả lời thấu đáo, đầy
đủ cho cả ba câu hỏi trên, mà chỉ có ý định sắp xếp
lại những suy nghĩ tản mạn của mình thành những câu trả
lời không cầu toàn. Tôi hy vọng rằng vào cuối buổi nói
chuyện, chúng ta sẽ còn thời gian để trao đổi thêm.
<h2>Về sự hướng thượng và hướng thiện</h2>
Sách Tam Tự Kinh mà các cụ học ngày xưa bắt đầu bằng câu
"Nhân chi sơ, tính bản thiện". Con người được sinh ra có
bản tính vốn là hiền lành. Liệu có đúng không nhỉ? Tin tức
hàng ngày dễ làm cho người ta nghi ngờ cái "tính bản
thiện" của "nhân chi sơ". Đầu tháng Một ở Ấn độ,
một cô gái 23 tuổi bị sáu người đàn ông hãm hiếp đến
chết trên một chiếc xe buýt. Cuối tháng Một, ở Bắc Ninh,
người ta nô nức, chen lấn nhau tham gia lễ hội chém lợn. Con
lợn bị nhát đao xẻ làm hai mảnh lăn quay trong vũng máu lênh
láng và trong tiếng hò reo của những người trảy hội. Đây
là những hiện tượng dị biệt, không tiêu biểu cho cuộc
sống của người dân Ấn độ và Việt nam. Tôi nêu chúng ra
như ví dụ vì chúng cùng phản ánh sự độc ác của con người
một cách vô cùng rõ nét. Xét cho cùng, giết lợn cũng chỉ là
việc giết động vật để ăn thịt, cái mà con người buộc
phải làm để duy trì cuộc sống của chính mình. Hãm hiếp
cũng nảy sinh từ một bản năng cơ bản của con người là
bản năng duy trì nòi giống. Phải chăng, con người được sinh
ra với hai bản năng cơ bản duy trì cuộc sống và duy trì nòi
giống, cái mà ở trong đó đã có sẵn mầm mống của cái ác,
của cái ác khủng khiếp. Nếu chỉ dừng lại đây thì quả
khó mà tin được vào cái "Nhân chi sơ tính bản thiện".
Nếu con người được sinh ra chỉ có hai bản năng nói trên thì
chắc rằng hai sự việc kể trên sẽ không phải là những
hiện tượng dị biệt, mà ngược lại, là phổ biến, đến
mức không làm chúng ta kinh ngạc hay xúc động nữa. Có thể
tôi còn là một người lạc quan, nhưng tôi tin rằng con người
được sinh ra còn có một bản năng khác nữa: đó là bản năng
hướng thượng, hướng thiện. Nhìn vào một đứa trẻ sơ sinh,
xinh xắn như một thiên thần ta có thể nghĩ rằng đó là hiện
thân của sự tốt đẹp. Nhưng cái kiểm soát mọi hành động
của đứa trẻ là chỉ đơn thuần bản năng sinh tồn của nó.
Tôi nghĩ rằng, trong đứa trẻ không có sẵn một tâm hồn cao
thượng, nhưng đã có sẵn tiềm năng để xây dựng nên từ
đó cái tâm hồn ấy. Theo tôi, nếu có "tính bản thiện"
của "nhân chi sơ", thì nó chính là cái tiềm năng ấy.
Cái tiềm năng ấy được triển khai trong học tập và là
động cơ chính cho việc học tập. Có thể có người không
đồng ý với quan điểm này và cho rằng học là để sau này
có một cuộc sống tử tế, để sau này có một vị trí tốt
trong xã hội. Tôi cho rằng cách suy nghĩ như vậy là phiến
diện. Thứ nhất, để có một cuộc sống tử tế, đó cũng
chính là biểu hiện của sự hướng thượng, hướng thiện -
tất nhiên một khi nó đã biến thái để nhắm tới cái đích
là hưởng thụ một cuộc sống an nhàn nhờ vào sức lao động
của người khác, thì cái động cơ hướng thượng hướng
thiện đó đã bị tha hoá nghiêm trọng. Thứ hai, tôi tin rằng
đa số người ta thực ra không có khả năng phấn đấu vì một
cái gì xảy ra trong một tương lai quá xa, phần lớn người ta
học chỉ vì đó là cách hoàn thiện bản thân mình, tức là
học với một động cơ hướng thượng thuần khiết nhất. Vì
vậy, nhiều khi chính quan niệm xã hội lại làm tha hoá một
động cơ mà bản chất là thuần khiết.
Cần lưu ý là quan niệm xã hội không phải là cái duy nhất
làm cho sự hướng thượng hướng thiện bị tha hoá. Tôn thờ
cá nhân, có thể là lãnh tụ, danh thủ bóng đá, hay là ca sĩ
Hàn quốc, là một hình thức tha hoá của sự hướng thượng.
Bản năng hướng thượng, hướng thiện luôn phải vật lộn
với hàng loạt bản năng xấu: tính lười biếng, tính đố
kỵ, tính gian dối, tính hiếu thắng, tự phụ. Bị tha hóa, nó
không còn mấy cơ hội để làm động cơ cho việc học tập.
<h2>Học chữ hay học làm người?</h2>
Gần đây, trên báo chí có khá nhiều người ở đặt ra câu
hỏi "<em>Cần học chữ hay học làm người?</em>" Hoặc giữa
hai cái, cần học cái nào trước. Câu hỏi này thực ra tối
nghĩa. Học chữ, là tiếp thu kiến thức. Còn học làm người
là như thế nào, hẳn có nhiều cách hiểu khác nhau. Có thể
hiểu theo nghĩa hẹp: học làm người như học kỹ năng sống,
học nghệ thuật sống, tóm lại là học những hành vi văn minh.
Cũng có thể hiểu học làm người theo nghĩa rộng tức là
học những gì làm nên cốt cách của một con người - như vậy
thì lại quá rộng, và bao hàm nốt cả học chữ rồi. Có lẽ
vì ý nghĩa của câu hỏi không được phân tích rạch ròi mà
nhiều cuộc thảo luận trên báo chí về đề tài có cái vẻ
gì đó hơi luẩn quẩn.
Trong cái nghĩa hẹp, có thể đặt lại câu hỏi trên khác đi,
và làm cho nó rõ nghĩa hơn: "<em>Trường học phải dạy chữ
hay dạy kỹ năng sống, nghệ thuật sống?</em>" Có vẻ như
càng ngày càng có nhiều người ngả về quan điểm hiện đại
"<em>Trường học phải dạy cho trẻ kỹ năng sống</em>".
Quan điểm cổ điển được nhà triết học Đức Hannah Arendt
phát biểu rành rọt trong bài viết "Khủng hoảng trong giáo
dục" như thế này: "<em>Chức năng của nhà trường là dạy
cho trẻ thế nào là thế giới, chứ không phải là rèn cho
chúng nghệ thuật sống</em>". Tôi đồng ý với quan điểm
này, và trong phần tiếp theo của bài viết quan điểm này sẽ
được làm rõ hơn lên.
Ẩn trong câu nói của bà Hannah Arendt, có cả câu trả lời cho
câu hỏi học làm người theo nghĩa rộng. Học làm người là
học về thế giới, trong đó có thế giới tự nhiên và thế
giới con người, để mỗi cá nhân nhận thức được vị trí
của mình ở trong đó, nhận thức hết các tương tác giữa cá
nhân mình với những người khác, để triển khai mọi tiềm
năng của mình, để hoàn thiện mình và đồng thời làm cho
thế giới xung quanh trở nên một nơi an toàn hơn, thân thiện
hơn cho cuộc sống.
<h2>Để trẻ có kỹ năng sống, người lớn phải là tấm
gương</h2>
Tôi từng nghe người ta kể chuyện một đứa bé sơ sinh bị
sói tha đi. Sau này người ta tìm lại được đứa bé. Tuy vẫn
còn hình hài của một con người, tính nết của nó là tính
nết của loài sói. Ở đây, chính cái "tiềm năng hướng
thượng, hướng thiện" đã biến nó thành người sói. Đối
với nó, cái đại diện cho sự tốt đẹp chính là mẹ sói
của nó. Mẹ sói cho nó bú, tha mồi về cho nó ăn. Đứa trẻ
lớn lên giữa bày sói tất trở thành một con sói, cái nó coi
là tốt là cái tốt của loài sói. Kể ra nếu nó tiếp tục
sống trong rừng cùng với bày sói thì như thế cũng không sao.
Bi kịch đến với nó vào cái ngày mà người ta buộc nó quay
lại sống với con người.
Ở Lào, ở Thái Lan có phong tục gửi trẻ nhỏ vào sống ở
trong chùa một thời gian, từ ba ngày, ba tuần, ba tháng cho đến
ba năm. Ở trong chùa, ngoài việc học kinh kệ, trẻ còn học
yêu quí cuộc sống thanh đạm, ngăn nắp của người tu hành.
Khi đi thăm Lào và Thái Lan, người ta luôn cảm thấy ngạc
nhiên về sự sạch sẽ, ngăn nắp của làng quê, kể cả ở
những nơi nghèo nhất.
Tôi xin phép dẫn thêm một ví dụ cá nhân, nhỏ nhặt và tầm
thường thôi. Vợ chồng tôi ít xem vô tuyến, hầu như không xem
bao giờ. Có lẽ vì thế mà mấy đứa con của chúng tôi hoàn
toàn không có sở thích xem truyền hình, bố mẹ không cần cấm
đoán hay hạn chế gì cả. Nếu có thời gian, chúng nó thích
đọc sách hơn. Nhiều khi tôi muốn xem phim cùng với đám trẻ
con, tôi lại phải mặc cả với chúng.
Những ví dụ này nhắc nhở chúng ta, những người có bổn
phận làm người lớn, đừng bao giờ quên rằng dù muốn hay
không muốn, chúng ta luôn là tấm gương để cho trẻ soi vào.
Ngoài trách nhiệm cho trẻ một mái nhà, cung cấp thức ăn cho
đủ no, quần áo cho đủ mặc, người làm cha mẹ luôn phải
tâm niệm rằng mình cư xử ngày hôm nay như thế nào, ngày mai
trẻ sẽ cư xử giống như thế. Đó là bài học của chuyện
cái máng gỗ mà chắc các bạn đều biết cả.
Cái tôi muốn nói là nếu người lớn biết cư xử đúng mực
thì trẻ con không cần đi học những lớp kỹ năng sống nữa.
Và người có trách nhiệm chính trong việc giáo dục hành vi cho
trẻ là cha mẹ, gia đình, chứ không phải nhà trường. Những
bài lên lớp của thầy cô giáo không có cùng tác dụng nhiều
lên hành vi của đứa trẻ như chính hành vi của cha mẹ nó.
Tất nhiên tôi không muốn nói rằng trường học hoàn toàn
không có chức năng giáo dục hành vi cho trẻ nhỏ. Trong tâm
hồn trẻ nhỏ, thầy cô giáo có một vị trí thiêng liêng, có
lẽ thiêng liêng hơn bố mẹ, vì thế nên cách ứng xử của
các thầy cô trong cuộc sống nhà trường sẽ ảnh hưởng trực
tiếp hành vi của học sinh. Nhưng không vì thế mà cha mẹ có
thể trút toàn bộ trách nhiệm giáo dục hành vi của trẻ lên
vai thầy cô giáo.
<h2>Vai trò của giáo dục nhân văn trong sự hình thành nhân
cách</h2>
Khi đứa bé mới ra đời, bản năng sinh tồn điều khiển mọi
hoạt động của nó. Đối với nó, toàn bộ thế giới là bầu
sữa mẹ. Khi lớn lên, nó có thêm nhận thức về thế giới
xung quanh, về những con người khác. Dần dần nó hiểu rằng
không chỉ có nó cần sinh tồn, mà cả những người khác cũng
cần sinh tồn như nó. Điều này thoạt nghe thật hiển nhiên,
nhưng đó là một bước chuyển hoá vĩ đại của tư duy, đứa
trẻ đã chấp nhận sự tồn tại của khách thể, của người
khác, như một lực lượng đối lập với bản thân nó.
Chấp nhận sự tồn tại của khách thể là điều kiện để
phân biệt giữa cái thiện và cái ác. Cái thiện là sung sướng
trong sự hạnh phúc của người khác, đau khổ trong sự bất
hạnh của người khác, còn ngược lại cái ác là sung sướng
trong sự bất hạnh của người khác, đau khổ với sự hạnh
phúc của người khác. Như vậy, khi đứa trẻ còn chưa nhận
thức về người khác, theo nghĩa ở trên, các khái niệm thiện
và ác chưa thể áp dụng vào nó. Thêm nữa, khái niệm
"người khác" không nhất thiết phải là người. Đó có
thể là con ong, cái kiến. Đó cũng có thể là con lợn ở Bắc
Ninh. Cái cảm giác phấn khích, hân hoan của con người trong cái
chết tức tưởi của con lợn biểu đạt cái ác ở trạng thái
thuần tuý nhất của nó.
Việc học, theo Hannah Arendt, đó là cố gắng để hiểu thế
giới xung quang, trong đó có thế giới tự nhiên và thế giới
con người. Nó bắt người ta phải nhận thức về sự tồn
tại của người khác, cái là điều kiện để phân biệt giữa
thiện và ác. Chỉ biết phân biệt thiện và ác thôi không
đủ. Có một câu ngạn ngữ nói rằng "<em>Đường đến địa
ngục lát bằng thiện tâm</em>". Biết phân biệt rành rọt
giữa thiện và ác là cần thiết nhưng sẽ thật thiếu sót,
thậm chí nguy hiểm, nếu coi việc hình thành nhân cách chỉ
đơn giản là phân biệt giữa thiện và ác. Trong phần lớn các
trường hợp, vấn đề không phải là ở chỗ phân biện giữa
thiện và ác.
Để nhận thức được vị trí của mình trong thế giới, mỗi
người phải tự đặt ra cho mình những câu hỏi căn bản nhất
về thân phận con người, phải tự tìm ra câu trả lời của
mình cho những câu hỏi đó, hoặc ít ra cũng biết về những
câu trả lời mà tiền bối đã từng đưa ra. Việc phân biệt
giữa cái thiện và cái ác là một trong những câu hỏi như
thế, nhưng nó không phải là câu hỏi duy nhất và có lẽ cũng
không phải là câu hỏi quan trọng nhất.
Có những câu hỏi thoạt nghe thì có vẻ ngây thơ ví dụ
"<em>Những cái gì là nhu cầu căn bản của con người? Tự do
và công bằng có phải là như cầu căn bản của con người hay
không</em>". Con người có cả nhu cầu sống trong cộng đồng,
trong xã hội, vì mỗi người không thể làm ra được hết tất
cả những gì mình cần. Nếu tự do và công bằng cũng là nhu
cầu căn bản thì xã hội phải được thiết kế thế nào để
cho tự do của mỗi người và sự công bằng giữa người này
và người khác được bảo đảm? Triển khai câu hỏi đến
đây thì ta thấy câu hỏi này phức tạp hơn nhiều so với câu
hỏi phân biệt giữa cái thiện và cái ác, và có lẽ cũng quan
trọng hơn.
Trả lời cho câu hỏi về vai trò của giáo dục nhân văn nói
chung vượt ra ngoài khuôn khổ của bài nói chuyện này và khả
năng của tôi. Trong phần tiếp theo, tôi muốn thu hẹp câu hỏi
lại và trao đổi kỹ hơn về vai trò của giáo dục nhân văn
trong sự hình thành nhân cách.
Cơ chế căn bản cho việc hình thành nhân cách là chiêm nghiệm
về một sự việc cụ thể đã xảy ra trong một hoàn cảnh cụ
thể, ngẫm xem người ta đã quyết định như thế nào, đã làm
gì, và hậu quả, ảnh hưởng của việc đó lên cuộc sống
của người khác và của chính người đó như thế nào. Có
thể thấy rằng con người chiêm nghiệm bằng xúc cảm nhiều
hơn là bằng tư duy. Người ta chiêm nghiệm sâu sắc nhất về
những gì xảy ra với chính mình, hoặc là xảy ra với người
thân của mình, vì những trải nghiệm đó để lại những xúc
cảm mạnh nhất. Nhưng nói chung, trải nghiệm của một người
trẻ, kể cả những trải nghiệm được gia đình chia sẻ,
không đủ phong phú để người đó hình thành một nhân cách
vững vàng. Vốn trải nghiệm của anh ta sẽ giàu có hơn nhiều,
nếu anh ta biết đặt mình vào trong lịch sử, nơi những câu
chuyện của quá khứ được ghi lại một cách trung thực, hoặc
là trong văn học, nơi có những câu chuyện lớn, tuy có thể là
được hư cấu, nhưng luôn xuất phát từ sự trải nghiệm chân
thực của nhà văn.
Trong một bài viết trên blog cá nhân, đặt tên là <em>Giữ ký
ức</em>, tôi có kể câu chuyện về học sinh phổ thông ở
Đức học về tội ác của chế độ quốc xã lên người Do
thái như thế nào. Học sinh Đức học ở trong sách vở, đọc
nhật ký của cô bé Anne Frank viết khi trong thời gian hai năm
trốn trong góc tủ để rồi cuối cùng cũng bị bắt rồi bị
giết. Họ đi tham quan trại tập trung Buchenwald. Nhưng đáng
ngạc nhiên hơn cả là học sinh Đức còn phải tự đi điều
tra xem xung quanh nơi mình ở, trước đây đã từng có người Do
thái nào sống, họ tên là gì, họ đã bị bắt trong hoàn cảnh
nào, đã bị giết chết như thế nào. Làm như thế để cho
những trải nghiệm trở nên gần gũi nhất. Một vài tháng sau
khi viết bài này, tôi có nói về chuyện với một nhiếp ảnh
gia người Đức, ông ấy nói người Đức phải làm như thế
vì nếu không họ sẽ lại phạm lại đúng những sai lầm
khủng khiếp nhất trong quá khứ. Giáo sư Hà Huy Khoái cũng bình
luận như thế này: "<em>Người Đức khôn thật, họ cho học
sinh học thuộc bài lịch sử! Dân tộc nào không làm điều
đó, chắc chắn phải học đi học lại nhiều lần. Chưa thuộc
bài nào, lịch sử sẽ bắt học lại bài đó. Mà mỗi lần
học lại, thi lại đều phải trả giá đắt hơn trước. Giá
ở đây có thể là máu, không chỉ là tiền như sinh viên thi
lại!</em>".
Tôi nghĩ về câu chuyện này từ một khía cạnh khác. Trải
nghiệm chân thực về những sự thật dù đau đớn đến mấy
cũng làm cho cốt cách con người trở nên mạnh mẽ, trái với
những sự dối trá, có thể ngọt lịm, nhưng luôn làm tha hoá
tâm hồn con người. Chức năng của giáo dục nhân văn không
phải là ngợi ca cái thiện, phê bình cái ác mà là giúp con
người tìm đến sự thực và để cảnh giác với sự dối trá
của người khác và của chính mình. Cảnh giác với bản năng
lười nhác, ích kỷ và hèn nhát, những cái rất giỏi ngụy
trang trong tấm áo thiện tâm để dắt tay con người đi về
địa ngục, cái không phải là gì khác mà chính là sự tha hóa
hoàn toàn của tâm hồn con người. Giáo dục nhân văn nghiêm
túc rèn cho chúng ta thái độ nỗ lực không mệt mỏi trong cố
gắng đi tìm sự thật cùng với khả năng chiêm nghiệm bằng
tư duy vì nếu chỉ chiêm nghiệm bằng xúc cảm, con người rất
dễ bị đánh lừa.
Tôi đã nhắc đến chuyện bản năng hướng thượng hướng
thiện của con người rất dễ bị tha hoá để trở thành hiện
tượng sùng bái cá nhân, có thể xuất hiện dưới dạng là
sùng bái lãnh tụ hoặc ca sĩ Hàn quốc. Vai trò của giáo dục
nhân văn là dắt tay con người đi theo "tấm biển chỉ
đường của trí tuệ" để đi về với cái chân thiện, chân
mỹ.
Ngôn ngữ và thái độ khoa học
Nếu bản năng hướng thượng, hướng thiện là động cơ của
học tập, nó không phải là công cụ. Con người biểu đạt
sự hiểu biết về thế giới khách quan bằng lời. Con người
thụ hưởng vốn hiểu biết mà nhân loại tích tụ được
thông qua ngôn ngữ. Có hai thái độ ứng xử với ngôn ngữ
đối lập nhau, dẫn đến hai phương pháp tư duy đối lập nhau:
một bên là thái độ tôn giáo, coi ngôn từ như đối tượng
để tôn thờ, một bên là thái độ khoa học, coi ngôn từ như
một công cụ để định hình tư tưởng.
Định nghĩa chữ Đạo trong Đạo Đức Kinh là điển hình của
thái độ tôn giáo đối với ngôn từ. Đạo được mô tả
như thế này, như thế kia, Đạo không phải là thế này, không
phải là thế kia, nhưng không một lần Đạo được định
nghĩa là cái gì. Đạo là một từ đại diện cho một khái
niệm linh thiêng không định nghĩa được, người ta chỉ có
thể biết thuộc tính của nó là như thế này, như thế kia,
cùng lắm là biết nó không phải là cái gì, tức là hạn chế
khái niệm bằng phủ định, chứ không thể nói nó là cái gì,
tức là định nghĩa khái niệm bằng khẳng định. Tính linh
thiêng của chữ Đạo nằm chính ở chỗ ta không thể định
hình được nó.
Tôi dẫn ví dụ Đạo Đức Kinh không với ý muốn đánh giá
thấp giá trị triết học của tác phẩm này. Tôi chỉ muốn
chỉ ra sự đối lập với giữa thái độ tôn giáo của nó
đối với ngôn ngữ và thái độ khoa học. Thái độ tôn giáo
với ngôn ngữ đưa đến những luận điểm bao quát, trong bất
kỳ hoàn cảnh nào của cuộc sống, con người cũng có thể
vận dụng chúng để diễn giải những gì xảy ra với mình, và
tự an ủi mình. Mà trên đời này, ai là người không cần
được an ủi.
Đóng góp lớn nhất của văn hoá Hy lạp cổ đại cho tư duy
loài người có lẽ là sự phát minh ra thái độ khoa học với
ngôn ngữ mà điển hình là sách Cơ sở của Euclid. Để nói
về hình tròn, người ta không nói nó là cái gì đó giống mặt
trời, hay mặt trăng vào thời kỳ trăng tròn, mà người ta
định nghĩa đường tròn là tập hợp các điểm có một
khoảng cách cho trước đến một điểm cho trước, gọi là tâm
của đường tròn. Cái đáng lưu ý nhất là khái niệm luôn
được xây dựng trên cơ sở khẳng định: nó là cái gì, chứ
không phải trên cơ sở phủ định: nó không phải là cái gì.
Cũng cần lưu ý là ở đây đường tròn không được gán cho
bất kỳ một thuộc tính thiêng liêng nào cả, nó chỉ là cái
tên đưa ra để định hình khái niệm tập hợp các điểm có
khoảng cách cho trước đến một điểm cho trước. Thậm chí
trong thực tế, không có cái gì chính xác là hình tròn cả,
chỉ có những hình tròn gần đúng mà thôi. Các định nghĩa
của Euclid chỉ có giá trị giới hạn trong phạm vi của hình
học. Theo một nghĩa nào đó, hình học là một sản phẩm
thuần tuý của trí tuệ, là một trò chơi của tư duy. Giá trị
lớn nhất của trò chơi này nằm ở ngay trong sự hạn chế
của nó. Vì luật chơi bao gồm một số tiên đề, và một số
phép suy luận được quy định trước, một phát biểu hình
học chỉ có thể hoặc là đúng, hoặc là sai, một chứng minh
chỉ có thể là đầy đủ chặt chẽ hoặc là thiếu sót ngộ
nhận. Đây là cuộc chơi mà tư duy logic của con người được
tha hồ thi thố. Cho đến bây giờ nó vẫn giữ nguyên ý nghĩa
đó. Để cho trẻ học được phương pháp lập luận chặt
chẽ, không có gì tốt hơn là học hình học Euclid.
Ưu điểm của trò chơi tư duy mà trong các luật chơi được
cố định trước là trong phạm vi của cuộc chơi này, mọi cái
đúng cái sai đều rõ ràng. Ưu điểm quan trọng khác là con
người có thể rút ra kết luận rõ ràng chi tiết từ hệ
thống tiên đề và khái niệm, để rồi đem nó ra kiểm chứng,
đối chiếu với quan sát thực tế.
Ở điểm này, thiên hướng của khoa học khiêm tốn hơn nhiều
so với thiên hướng của tôn giáo. Những luận điểm của tôn
giáo thường có tính khái quát cao, nhưng không có tính chi tiết
để có thể kiểm chứng đối chiếu được qua các quan sát
thực tế. Trong mọi trường hợp tôn giáo yêu cầu người ta
phải tin và phải chấp hành. Ngược lại, lý thuyết khoa học
đưa ra những luận điểm đủ cụ thể để có thể kiểm
chứng với thực tế và dành cho thực tế quyền phán xét cuối
cùng. Sự khiêm tốn, luôn đặt mình vào vị trí để cho thực
tế phán xét, hoặc khẳng định, hoặc phủ nhận, theo Karl
Popper chính là thuộc tính đặc trưng của khoa học, đối lập
với tín điều.
Sự khiêm tốn này cũng chính là cái làm nên sức sống của
khoa học. Tôn giáo sẽ chết khi con người không còn đặt lòng
tin vào tín điều nữa. Còn trong bản chất của mình, luận
điểm khoa học chấp nhận sự phủ định, nó như chỉ chờ
được thực tế phủ định để hồi sinh, lột xác thành một
lý thuyết khoa học mới, phức tạp hơn, có phạm vi ứng dụng
rộng hơn lý thuyết cũ.
Trong bản chất, mọi lý thuyết khoa học chỉ mô tả được
một phạm vi nào đó của thế giới, lý thuyết càng thô sơ
thì phạm vi áp dụng của nó càng hẹp. Đi ra ngoài phạm vi đó
là bắt đầu một cuộc chơi mới, con người lại phải sáng
tạo một hệ thống ngôn ngữ, khái niệm mới, tìm ra một
luật chơi mới. Nhưng không phải vì thế mà lý thuyết cũ
nhất thiết phải bị thủ tiêu khi một lý thuyết mới ra
đời. Trong phạm vi cuộc sống hàng ngày, khi các vật thể
chuyện động chậm hơn nhiều so với ánh sáng, cơ học Newton
vẫn đúng.
Người đi tìm hiểu thế giới gần như bắt buộc phải đi
lại gần như toàn bộ hành trình tìm hiểu thế giới của loài
người. Đây là cái khó khăn rất lớn. Đã có một số quan
điểm sai lầm trong giáo dục muốn bỏ qua những lý thuyết khoa
học trước đây để đưa học sinh đến với những lý thuyết
tiên tiến nhất. Ở phương tây những vào những năm 70 đã có
trào lưu xây dựng lại toàn bộ giáo trình toán học dựa theo
cách trình bày toán học hiện đại của nhóm Bourbaki. Kết quả
của thí nghiệm đại trà này không tốt. Cảm nhận chung là
trình độ toán học của học sinh tốt nghiệp phổ thông kém
đi nhiều.
Gần đây, con lắc cực đoan có vẻ như bị văng theo hướng
ngược lại. Người ta muốn lược đi khỏi chương trình tất
cả những gì được coi là không cần thiết cho cuộc sống
hàng ngày. Tôi vô cùng ngạc nhiên bởi ý kiến của một vị
Giáo sư cho rằng học sinh không cần học vi phân, tích phân vì
hàng ngày có ai cần dùng đến vi phân, tích phân đâu. Nhưng
chính là nhờ vào thiên tài của Newton và Leibnitz, các hiện
tượng tự nhiên được mô tả một cách tường minh dưới
dạng phương trình vi phân. Loại bỏ đi đạo hàm tích phân có
khác gì tự nguyện quay lại với tư duy mơ hồ của siêu hình
trung cổ.
Vấn đề không phải đem những kiến thức khoa học tiên tiến
nhất đến cho học sinh, vì có muốn cũng không làm được.
Vấn đề cũng không phải là tập trung rèn luyện cho học sinh
kỹ năng tính toán để phục vụ cho những nhu cầu hàng ngày.
Cái cần làm trang bị cho học sinh phương pháp tư duy khoa học:
định hình rõ nét khái niệm, liên hệ những khái niệm đó
với thế giới khách quan, biết lập luận, biết tính toán để
đưa ra những luận điểm cụ thể, kiểm chứng những luận
điểm đó với thế giới khách quan.
Còn một thuộc tính khác của một khoa học có sức sống là
khả năng đem đến sự bất ngờ. Hình học Euclid không còn
khả năng đưa ra những khẳng định bất ngờ nào nữa và theo
nghĩa này, nó là một môn khoa học chết. Nó chỉ còn là một
trò chơi trí tuệ để học sinh rèn luyện khả năng tư duy
logic. Nhận định của Einstein rằng tia sáng bị uốn cong khi
đến gần các vật thể có khối lượng lớn nhờ vào những
tính toán trong lý thuyết tương đối là một bất ngờ khi trong
hình dung của chúng ta, đường thẳng là đường truyền của
ánh sáng. Sức sống của một bộ môn khoa học thể hiện ở
chỗ từ một hệ thống khái niệm, tiên đề chấp nhận
được, bằng tính toán và lập luận, người ta có thể đưa ra
những giải thích chưa biết cho những hiện tượng đã biết,
hoặc là tiên đoán về những hiện tượng chưa được biết
đến.
Khi khoa học "nhận nhiệm vụ" diễn giải, chứng minh cho
một luận điểm cho trước, để phục vụ một mục đích
chính trị hoặc tôn giáo, bất kể mục đích đó tốt hay xấu,
về mặt thực chất khoa học đã mất đi cái làm nên sức
sống của nó. Vấn đề "nhận nhiệm vụ" ảnh hưởng
nhiều đến khoa học xã hội hơn là khoa học tự nhiên. Như
một số người đã nhận xét, ở các nước xã hội chủ nghĩa
cũ, các ngành khoa học tự nhiên có thể rất phát triển trong
khi các ngành khoa học xã hội để lại rất ít dấu ấn vào
văn minh nhân loại. GS Hà Huy Khoái có lần phát biểu nửa đùa
nửa thật "<em>Thực chất, ở Việt Nam chưa có khoa học xã
hội</em>". Phát biểu của ông đã gây ra những phản ứng khá
dữ dội. Nói một cách khách quan hơn, nó có đấy, nhưng nó
yếm khí và thiếu sức sống.
<h2>Học như thế nào?</h2>
Ngày xưa để học được chữ thánh hiền, cái quan trọng nhất
là cần có chí. Cái chí để đi bắt đom đóm bỏ vào lọ làm
đèn mà đọc sách thâu đêm. Trong công việc học tập bây
giờ, trong việc tiếp thu kiến thức khoa học của nhân loại
tưởng như vô hạn, chỉ có chí thôi chắc là không đủ.
Như tôi vừa trình bày ở trên, khoa học không bị cái bệnh
tự phụ coi những luận điểm của mình đúng một cách tuyệt
đối, đúng một cách phổ quát. Mỗi lý thuyết khoa học
được khai triển bằng tính toán, bằng lập luận từ một số
nhỏ khái niệm, một số tiên đề cơ sở. Mỗi lý thuyết có
logic nội tại của nó, nó không tự mâu thuẫn, nhưng những
kết luận mà người ta rút ra từ nó chỉ khớp với thực tế
khách quan trong một phạm vi nào đó. Theo một nghĩa nào đó,
mỗi lý thuyết là một trò chơi trí tuệ, với luật chơi
được xác định rõ ràng mà trong đó người chơi có thể
triển khai khả năng tư duy của mình để đi đến những kết
quả nhiều khi nằm ngoài sự mong đợi ban đầu.
Rất ít khi người ta chơi trò gì một mình. Để cho cuộc chơi
thực sự cuốn hút, để cho người chơi có thể thực sự
triển khai mọi tiềm năng tư duy của mình để đi đến những
kết quả bất ngờ, đi đến sáng tạo, cuộc chơi phải có
bạn chơi và phải có trọng tài. Để minh hoạ quan điểm này,
tôi xin đưa ra một gợi ý nhỏ, nhưng rất nghiêm túc.
Nhờ vào internet, hiện tại người ta có thể tìm được miễn
phí rất nhiều tài liệu học tập miễn phí ở trên mạng.
Một số trường đại học có tên tuổi như MIT, Stanford còn
tổ chức công bố miễn phí hầu hết các tư liệu học tập.
Thay bằng việc phải bỏ ra 50 ngàn đô-la một năm để đến
đó học, mà không phải cứ có 50 ngàn đô-la là đã được
nhận vào học, bạn có thể truy cập miễn phí các tư liệu
học tập, theo dõi các bài giảng video. Vậy có đúng là bạn
cứ ngồi ở Hà nội, hay Sài gòn, là cũng có thể học như sinh
viên ở MIT hay ở Stanford hay không.
Tôi nghĩ rằng trừ khi bạn có một ý chí sắt đá, dù có
được cung cấp tất cả mọi tài liệu trên đời, dù dược
theo dõi miễn phí các bài giảng, ở nhà một mình bạn vẫn
không thể học được. Bởi vì ngồi theo dõi bài giảng trên
mạng một mình không phải là một cuộc chơi thú vị: không có
địch thủ, không có đồng đội, không có lộ trình, không
thấy mục tiêu, không thấy giải thưởng. Đó là những thứ
không liên quan trực tiếp đến nội dung khoa học của bài
giảng nhưng đó là cái mà người đi học cần để phấn đấu
liên tục. Học một mình, bạn có thể tập trung cao độ trong
một hai ngày cho đến một tuần. Nhưng bạn cần có tập thể,
có lớp học, có thầy giáo để duy trì nỗ lực học tập.
Gợi ý của tôi là tại sao các bạn không tự tổ chức cùng
học theo giáo trình được cung cấp trên mạng. Tại sao không
thể dùng trực tiếp bài giảng, tư liệu học tập cung cấp
miễn phí trên mạng trong các lớp học chính khoá. Các thầy
không nhất thiết phải giảng cả buổi nữa, mà có thể cho
sinh viên xem bài giảng trên mạng, có thể làm trước phụ đề
tiếng việt, sau đó dành thời gian để giải thích thêm, trả
lời câu hỏi của sinh viên, và hướng dẫn làm bài tập. Và
cuối cùng là tổ chức thi cử nghiêm túc. Tất nhiên gợi ý
thì dễ, mà làm thì khó, nhưng tôi không tin là việc này không
thể làm được. Kinh phí để tổ chức lớp học như thế có
lẽ là không nhiều lắm, nếu so sánh với học phí 50 ngàn đô
la một năm ở MIT hay Stanford.
Với gợi ý có tính suy tưởng này, tôi hy vọng làm nổi lên
được sự quan trọng của việc tổ chức học tập. Học tập
là một hoạt động tập thể và có tổ chức. Như đã nêu ở
trên, thiếu một tập thể có tổ chức, con người nói chung
không có khả năng duy trì nỗ lực của mình trong một thời
gian dài. Thiếu tranh biện con người nhanh chóng lạc vào con
đường chủ quan, con đường luôn dẫn đến cái đích là sự
bế tắc. Bản tính con người là hiếu thắng, cái cần thiết
để tạo ra sự sôi động trong tranh luận, những cũng là cái
làm hỏng cuộc tranh luận, biến nó thành chiến trường để
người này đè bẹp người kia. Vì vậy trong mọi cuộc chơi
tập thể cần có một luật chơi lành mạnh để cho sự cạnh
tranh chỉ tạo ra nỗ lực để mỗi người vượt lên chính
mình, chứ không phải là cái cớ để thỏa mãn bản năng hiếu
thắng. Và cuộc chơi cần một người trọng tài, nắm vững
luật lệ và có thẩm quyền điều khiển cuộc chơi. Ngoài ra,
chính những ràng buộc của luật chơi bắt người chơi phải
vươn tới sự sáng tạo thực sự.
Tôi để ý thấy người ta phá bỏ luật chơi dễ dàng quá. Tôi
xin dẫn một ví dụ nhỏ là việc viết thư giới thiệu. Viết
thư giới thiệu là một công việc khá vất vả mà lại không
thể mong đợi phần thưởng gì khác ngoài cảm giác hoàn thành
bổn phận. Để giới thiệu cho một đồng nghiệp vào một vị
trí phó giáo sư, hay giáo sư, thường thì người giới thiệu
phải tìm hiểu kỹ công trình của người mình giới thiệu
để chỉ ra chỗ nào hay, chỗ nào đặc sắc, chỗ nào thì cũng
chỉ bình thường, và nêu ra ý nghĩa chung của công trình. Không
viết được đầy đủ nội dung như vậy, thì lá thư giới
thiệu không có mấy trọng lượng, mà người viết thư giới
thiệu lại có thể bị đánh giá, hoặc là về sự nghiêm túc,
hoặc là về trình độ. Viết thư là một việc rất vất vả,
mà không có ai khen ông này ông kia viết thư giới thiệu rất
hay, vì trên nguyên tắc thư giới thiệu được giữ bí mật.
Tóm lại, viết thư giới thiệu là một việc vất vả, không
có bổng lộc, nhưng lại cần phải làm để ủng hộ một
người đồng nghiệp xứng đáng, hoặc chỉ đơn thuần là để
thực hiện bổn phận của mình. Viết thư giới thiệu cho sinh
viên cũng mất công, nhưng không vất vả như viết thư giới
thiệu cho đồng nghiệp.
Có một lần, một sinh viên mà tôi đã từng dạy ở Hà nội
nhờ tôi viết thư giới thiệu. Khi tôi còn đang do dự vì tôi
đánh giá bạn ấy không thực sự xuất sắc, thì anh ta gửi cho
tôi một bức thư giới thiệu soạn sẵn để tôi chỉ việc ký
vào đó. Khi tôi tỏ ra vô cùng ngạc nhiên về cách làm này,
thì bạn ấy trình bày là các thầy giáo khác yêu cầu bạn ấy
làm như thế. Một số người có thể coi đây là việc nhỏ,
nhưng tôi nghĩ chính từ những chuyện nhỏ như thế sẽ làm tha
hoá cả hệ thống.
Khi chuẩn bị bài nói chuyện này, ý định của tôi là chia sẻ
những suy nghĩ tản mạn của mình về việc học tập, chứ
không định phê bình ai cả, càng không có ý định phê bình
nền giáo dục ở nước ta. Đã có nhiều người chỉ ra rất
nhiều bất cập, tôi không thấy cần thiết phải hoà thêm
tiếng nói của mình vào đó. Nhưng nếu chỉ nêu ra một vấn
đề, vấn đề lớn nhất, thì theo tôi đó là mức độ tha hóa
của hệ thống.
Xin quay lại sự kiện Đồi ngô mà các bạn đều đã biết
cả. Đây là một sự kiện vô cùng đặc biệt, vì chuyện thí
sinh quay phim giám thị vi phạm qui chế thi là điều chưa từng
có tiền lệ trong lịch sử nhân loại. Đây là một câu chuyện
rất buồn, nó phải là tiếng chuông cảnh tình về mức độ
tha hoá của hệ thống. Hãy khoan quy trách nhiệm cho một cơ
quan, một cá nhân nào mà hãy bình tâm suy nghĩ. Để cho một
việc như vậy xảy ra, phải có nhiều người từ trung ương
đến địa phương, ở trong và ngoài ngành giáo dục, đã không
tôn trọng luật chơi. Kết quả là kỳ thi tốt nghiệp, cái
đáng ra phải là một thủ tục mang tính nghiêm cẩn, phải là
một cái mốc thiêng liêng cho cả quá trình lao động học tập
của học sinh, lại trở thành một trò đùa, một trò đùa làm
chúng ta muốn khóc.
Nước Mỹ có thể tự hào về những trường đại học của
mình. Các đại học ở Mỹ thường là tương đối trẻ,
trường đại học Chicago nơi tôi làm việc cũng mới khoảng 100
tuổi, đồng niên với Đại học quốc gia Hà nội. Có lẽ cũng
phải trả lời câu hỏi, cái gì là "bí quyết thành công"
của họ. Vào thời điểm hiện tại thì ta có thể nói rằng
lý do thành công của họ là họ rất giàu, có nhiều giáo sư
giỏi, có cơ sở vật chất đầy đủ, hiện đại. Nhưng nói
như thế là nhầm lẫn giữa kết quả và nguyên nhân. Ban đầu,
họ không giàu, mà cũng không có nhiều người thực sự xuất
sắc nếu so với cái trường đại học ở châu Âu vào cùng
thời. Tuy không có một câu trả lời duy nhất, nhưng một
nguyên nhân chắc chắn được nhắc đến là tinh thần fair-play,
mọi hành vi ăn gian đều bị trừng trị một cách vô cùng
nghiêm khắc.
Tôi cho rằng sự trung thực là một hành vi khó mà học được
từ trong sách vở. Để trẻ học được tính trung thực,
trước hết người lớn cũng phải học tính trung thực, để
tự biết mà làm gương.
Tôi đã nói nhiều về sự cần thiết của việc tổ chức học
tập, tính kỷ luật và tính trung thực. Nhưng bạn có thể
thắc mắc rằng tại sao tôi nói về trường học mà cứ như
là nói về doanh trại quân đội.
Tính kỷ luật và trung thực tất nhiên là không đủ. Cái còn
thiếu chính là "niềm say mê" mà tôi nhắc đến lúc bắt
đầu. Say mê đi tìm cái mới, cái chưa biết, tìm lời giải
thích cho những gì còn chưa hiểu. Niềm say mê đi từ đâu
đến? Thú thực là tôi không biết chắc chắn, và vì thế mà
tôi giả sử rằng con người sinh ra với một bản năng hướng
thượng, nói cách khác là đã có sẵn trong mình mầm mống của
niềm ham mê. Tôi nghĩ rằng thực ra câu hỏi niềm ham mê sinh ra
từ đâu không quan trọng bằng làm thế nào để gìn giữ niềm
ham mê, và không để cho nó bị tha hoá. Niềm đam mê, tính
hướng thượng hướng thiện là động cơ cho việc học tập,
và chính việc học tập đích thực là cái nuôi dưỡng sự
hướng thượng hướng thiện bởi những giá trị nhân văn chân
thiện, chân mỹ, bởi tình yêu sự thật, và bởi niềm hạnh
phúc của sự khám phá, để vượt qua biên giới giữa những
gì đã biết và những gì chưa biết.
Một người bạn tôi có góp ý với tôi rằng bên cạnh niềm
ham mê, đừng quên bổ sung sự quả cảm. Sự quả cảm là cái
bạn cần để không để lười biếng, hèn nhát dụ dỗ mà quay
lưng lại với sự thật. Sự quả cảm cũng là cái bạn rất
cần khi đi tìm cái mới. Bạn có tập thể, có đồng đội
để cùng học tập, tiến bộ. Nhưng dựa vào kinh nghiệm cá
nhân, tôi thấy rằng khi đã vượt qua biên giới của những gì
đã biết để thực sự đuổi theo cái chưa biết, bạn rất
cần tính quả cảm vì đi tìm cái mới thường là một hành
trình cô đơn, và nó có thể kéo dài nhiều năm.
<em><strong>Lời cảm ơn</strong></em>
Xin chân thành cảm ơn các ông Bùi Đức Lại, Nguyễn Xuân Long,
Hoàng Hồng Minh và Nguyễn Phương Văn về những góp ý quí báu.
<h2>Tài liệu tham khảo</h2>
1. Hannah Arendt: La crise de l'éducation:
www.meirieu.com/COURSPHILO/textephilo4.pdf
2. Ngô Bảo Châu: Giữ ký ức: thichhoctoan.net/2013/01/16/giu-ky-uc/
3. Hà Huy Khoái: Muốn có ứng dụng, phải có lý thuyết:
vnn.vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2006/04/562806/
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20130316/ngo-bao-chau-hoc-nhu-the-nao), một
số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc
giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận
có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng
dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét