Michael Lüders - Những Ngày Thịnh Nộ – Chương 3

<h2>HY VỌNG KHÔNG THÀNH: VÍ DỤ AI CẬP</h2>

Sau cái chết của Nasser năm 1970, người đại diện và là bạn
đồng hành lâu năm của ông ấy, Anwar as-Sadat, trở thành tổng
thống Ai Cập. Do ký kết hiệp ước hòa bình với Israel nên
trong Phương Tây ông ấy được xem như là một chính khách của
kỷ nguyên. Lần ám sát người nhận Giải Nobel Hòa bình này
chỉ gây thêm thanh danh cho ông ấy. Nhưng chính ở Ai Cập ông
ấy lại bị xem xét mang tính phê phán hơn rất nhiều – ở
ngoài giới tinh hoa nắm quyền.

Mỗi một cuộc cách mạng, cả cuộc Cách mạng Ả Rập năm
2011, đều có một tiền sử về những niềm hy vọng không
thành, về sự suy tàn chính trị và kinh tế. Trong đó, Sadat
đóng một vai trò quan trọng. Trong những năm 1960, Nasser đã
quốc hữu hóa một phần lớn doanh nghiệp Ai Cập. Các chức
vụ quản lý phần lớn do giới cao cấp trong quân đội chiếm
giữ. Vì họ thông thường không hề hiểu biết gì về kinh tế
và thêm vào đấy, Nasser đã đẩy mạnh việc xây dựng một
bộ máy hành chính phồng to ra để tạo công việc làm và qua
đấy là sự trung thành trong giới những người nghèo, nên sau
cuộc Chiến tranh Sáu Ngày, Ai Cập đứng trước vực thẳm về
mặt kinh tế. Do vậy, Sadat đã tiến hành tái tư nhân hóa các
nhà máy bị tịch thu và mở cửa Ai Cập cho các nhà đầu tư
người nước ngoài. Về ngoại giao, ông ấy cắt đứt với
Moscow và quay sang Hoa Kỳ. Theo một cách nhìn nào đó, Sadat đã
tiến hành một sự phát triển mà một phần tư thế kỷ sau
đấy, ngay khi ở một quy mô hoàn toàn khác, cũng có thể quan
sát thấy ở các quốc gia hình thành sau khi Liên bang Xô viết
sụp đổ. Từ những cán bộ cao cấp, trước đây là cán bộ
cộng sản, họ trở thành nhà doanh nghiệp, những người trong
lúc tiến hành các biện pháp tư nhân hóa đã chiếm lấy tài
nguyên của đất nước họ và tạo ra một giới lãnh đạo
mới như là giới chính trị đầu sỏ [oligarch].

<center><img
src="http://phanba.files.wordpress.com/2013/03/sadat-mit-mubarak1.jpg?w=538&h=403"
/></center>
<center><em>Sadat và Mubarak</em></center>

<h2>Sadat và chính sách mở cửa của ông ấy</h2>

Trong một cuộc "Cách mạng sửa đổi", Sadat loại bỏ toàn
bộ những người theo Nasser ra khỏi các chức vụ lãnh đạo
của họ. Hưởng lợi từ lần tư nhân hóa các nhà máy quốc
doanh trước hết là những người ủng hộ Sadat và chính sách
của ông ấy trong giới tinh hoa. Cuộc trao đổi, tương tự như
ở Nga sau này là: giàu có đổi lấy sự ủng hộ. Sadat tạo
độc quyền về quyền lực và lo sao cho không có những trung
tâm quyền lực kình địch khác thành hình. Vì vậy mà ông ấy
thành lập mười một chính phủ chỉ vòng trong có bảy năm
với 127 bộ trưởng thuộc trong đó. Qua đó Sadat đã tạo cơ
sở cho một nền quân chủ tổng thống mà chính ông ấy hưởng
lợi từ nó ít hơn là người phó của ông, Husni Mubarak, người
trở thành tổng thống sau khi Sadat bị giết chết. Sự độc
quyền hóa quyền lực này không đồng nghĩa với sự thống
trị một mình. Ở mức cấp trung và cấp thấp, Sadat cũng như
Mubarak đã tạo cho những nhà giàu mới và những cán bộ cấp
cao, những đại địa chủ và giới lãnh đạo quân đội một
không gian đủ rộng cho lợi ích kinh doanh của họ. Nói cách
khác đi là để cho họ làm giàu. Tuy vậy, món tiền thật sự
to lớn lại được dành riêng cho một giới nhỏ của những
người thân cận quanh Sadat và Mubarak. Những mối quan hệ kinh
doanh chặt chẽ được củng cố thêm qua hôn nhân. Như con trai
của một nhà doanh nghiệp có tầm ảnh hưởng nhiều nhất
dưới thời Sadat, Uthman Ahmad Uthman, đã kết hôn với một
người con gái của lãnh tụ quốc gia. Gamal con trai của Husni
Mubarak lại kết hôn với con gái của một tỉ phú khác, Mahmud
al-Gamal. Nếu như dưới thời Nasser ít nhất là cũng có những
khởi đầu cho một chính sách xã hội thì dưới thời Sadat,
Chủ nghĩa Tân Tự do đã bước vào. Nhà nước từ bỏ hầu
như toàn bộ trách nhiệm về xã hội và an sinh.

Cũng như bất cứ một chính sách nào mà chỉ phục vụ cho lợi
ích của một thiểu số nhỏ, chính sách này cũng phải được
rao bán như thể nó là hiện thân cho các giá trị cao quý. Với
Cuộc Chiến tranh Tháng Mười năm 1973, Sadat đã tạo ra sự hợp
thức hóa đấy. Trong giới sử gia đã không còn tranh cãi, rằng
Sadat dự định một xung đột có hạn với Israel và sau khi
chiến tranh bùng nổ cũng để cho Washington biết. Ông ấy muốn
thương lượng hòa bình từ vị thế của một kẻ mạnh, làm
cho quên đi nỗi nhục của chiến bại năm 1967. Quả thật là
quân đội Ai Cập đã tiến chiếm được nhiều vùng đất trên
Sinai, trước khi họ bị người Israel đẩy lùi. Cuộc chiến
tranh chấm dứt với lần ngưng chiến do Liên Hiệp Quốc làm
trung gian, cái nhiều nhất chỉ có thể đánh giá là hòa, nhưng
ở Ai Cập lại được mô tả như là một chiến thắng Israel.
Động cơ của Sadat xuất phát từ những tính toán thực tiễn.
Ai Cập không còn có thể chạy đua vũ trang với Israel lâu thêm
được nữa. Ông ấy cũng biết rõ rằng người Ả Rập vùng
Vịnh sẽ đầu tư bạc tỉ vào Ai Cập ngay sau khi hòa bình
đến.

Năm 1974 chính phủ Cairo ban hành "Đạo luật số 43″. Qua đó
bước ngoặc tân tự do được gọi là "chính sách mở cửa"
(Infitah) đã được củng cố. Với đạo luật đấy, những
mảng béo bở nhất của nền kinh tế Ai Cập được đưa ra tư
nhân hóa. Nhưng khác với hy vọng của Sadat, lần mở cửa không
tạo ra một bùng nổ về kinh tế và cũng chỉ tạo việc làm
có giới hạn. Các đầu tư hết sức cần thiết vào hệ thống
hạ tầng cơ sở, thường vẫn còn xuất phát từ thời thuộc
địa của Anh, đã không được tiến hành – giới thượng
lưu, bị người dân gọi là "những con mèo béo", thích đầu
tư ở nước ngoài hơn. Lạm phát sóng đôi đi cùng với nợ
quốc gia. Thường thì tư nhân hóa đi cùng với trợ giá. Vì
nhiều tiểu nông đã phá sản do nhập khẩu lương thực thực
phẩm, đồng thời cuộc cải cách ruộng đất được tiến
hành dưới thời Nasser cũng bị hủy bỏ và đảo ngược lại,
nên một cuộc di dân vào thành phố với quy mô lớn bắt đầu.
Tròn ba triệu người Ai Cập đã kiếm sống trong những năm 1970
như công nhân di cư trong các quốc gia vùng Vịnh. Năm 1977 lần
đầu tiên có bạo động vì bánh mì, bị đập tan cũng như
những cuộc bạo động sau đó. Sau khi ký kết hiệp ước hòa
bình với Israel năm 1979, Ai Cập trải qua một cuộc bùng nổ
thật sự của những lần chi trả và đầu tư từ Phương Tây.
Chỉ riêng Hoa Kỳ từ lúc đấy đã chuyển giao hai tỉ dollar
trợ giúp về quân sự và tài chính. Những lần "trả tiền
thưởng" cho một chính sách chính trị phục vụ Phương Tây
này đã trở thành một nguồn thu nhập quan trọng và đáng tin
cậy cho Ai Cập, bên cạnh những khoản tiền do công nhân di cư
gửi về, tiền phí quá cảnh kênh đào Suez cũng như du lịch.
Các mỏ dầu ở Sinai đã hầu như cạn kiệt trong những năm
2000.

Sadat thành lập đảng riêng của ông ấy, Đảng Dân chủ Quốc
gia (NDP), thắng trong tất cả những lần bầu cử từ 1979 cho
đến 2010, nhờ gian lận trực tiếp hay gián tiếp bầu cử.
Người ta chờ đợi các tỉnh trưởng hay thị trưởng, những
người chịu ơn tổng thống, cần phải tạo ra các kết quả
bầu cử tương ứng. Nếu như họ không làm điều đấy thì
sẽ mất chức. Dưới thời Mubarak, NDP biến thành một câu lạc
bộ của những người siêu giàu và những người hưởng lợi
từ nó – bị quần chúng căm ghét cực độ. Điều đấy giải
thích tại sao trụ sở trung tâm của nó ở Cairo đã bị đốt
cháy ngay từ lúc cuộc cách mạng bắt đầu trong tháng 1 năm
2011.

Sadat không lo sợ gì hơn là giới đối lập xã hội chủ nghĩa
và giới đối lập theo Nasser ở các trường đại học, trong
các nghiệp đoàn. Để làm cho họ suy yếu, cảnh sát và mật
vụ đã tiến hành chống những người cánh tả một cách hết
sức tàn bạo, trong khi các hoạt động của Huynh đệ Hồi giáo
và của các phong trào đạo Hồi khác lại được ngầm khoan
dung và phần nào còn được giúp đỡ tích cực. Sadat tin rằng
ông ấy có thể xua những người Hồi giáo chống lại các
địch thủ của ông ấy và đồng thời lại có thể kiểm soát
được họ. Một sai lầm chết người. Như một phản ứng
trước hiệp ước hòa bình với Israel, ông ấy bị bắn chết
năm 1981 trong một cuộc duyệt binh. Thủ phạm, một thiếu úy,
thuộc một nhóm khủng bố, Jihad Hồi giáo, cái sau này trở
thành một phần của Al-Qaida.

<h2>Mubarak và tính cách của giới thượng lưu</h2>

Nắm giữ quyền lực mười một năm, đối với thước đo Ả
Rập thì Sadat là một tổng thống ngắn hạn. Trong thời ông
ấy cầm quyền, cuộc cách mạng Ả Rập tương lai đã có
những gốc rễ to lớn của nó. Chính sách kinh tế của ông ấy
đã khiến cho người giàu càng giàu thêm và người nghèo càng
nghèo thêm. Cả dưới thời Nasser, giới đối lập cũng bị
bắt và bị xử tử. Nhưng Sadat đã sử dụng quân đội, cảnh
sát và mật vụ một cách có hệ thống như là những công cụ
để thống trị. Mubarak người kế nhiệm ông ấy trung thành
với đường lối này. Ai Cập cho đến khi lật đổ ông ấy
vào ngày 11 tháng 2 ngăm 2011 là một nhà nước cảnh sát đàn
áp cao độ. Sau khi ban bố tình trạng thiết quân luật như
động thái trả lời cho cuộc ám sát Sadat, Mubarak đã thành
lập một bộ máy an ninh với tròn 100.000 nhân viên và thêm vào
đấy là một đạo quân do thám và chỉ điểm. Xóa bỏ tình
trạng thiết quân lực và những đạo luật khẩn cấp đi chung
với nó thuộc vào trong số những yêu cầu chính của cuộc
cách mạng 2011. Núp dưới bóng của ngày 11 tháng 9 năm 2001, các
phương pháp tra tấn được tăng cường, bắt bớ tùy ý tăng
vọt. Không chỉ riêng tù nhân chính trị hay những người
được xem là khủng bố bị hành hạ một cách có hệ thống,
cả tội phạm hình sự nhẹ nữa. Ai rơi nào bàn tay của cảnh
sát Ai Cập thì có thể xem như là mình có may mắn khi được
trả tự do mà không bị tổn thương về tinh thần và thể xác
hay được hưởng ân huệ là được dẫn ra trước một quan
tòa. Chính trị gia Phương Tây đã sẵn lòng không nhìn đến
những lần vi phạm luật pháp trầm trọng này, những cái
chẳng thua kém gì các phương pháp của Stasi [An ninh Quốc gia
của Đông Đức cũ]. Trong một cuộc phỏng vấn chứa đựng
rất nhiều điều đáng nói của tờ "Frankfurter Rundschau"
một tuần sau khi Mubarak bị hạ bệ, người từng là Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao Đức Joschka Fischer đã cấm chỉ toàn
bộ những lời phê phán về sự thông đồng của ông ấy với
tên trộm và kẻ chuyên quyền, vì "Mubarak là một nhân vật
quyết định cho tiến trình hòa bình ở Cận Đông. Người ta
không thể đơn giản chối từ điều đấy được."

Nói cách khác: Tôi không hề quan tâm đến việc ông ấy đàn
áp và cướp bóc nhân dân của ông ấy. Cái chính là có hòa
bình với Israel. Thái độ này cũng có thể tượng trưng cho
toàn bộ chính sách của Phương Tây, cái quan tâm đến con
người trong thế giới Ả Rập thì ít mà nhiều hơn là đến
những lợi ích về địa chính trị và kinh tế của chính mình.
Mubarak đã rất hiểu điều đó và 30 năm liền đã quét sạch
đi tất cả các lời phê phán từ bên ngoài với lý lẽ: Hoặc
là tôi hoặc là những người theo đạo Hồi. Người Mỹ cũng
như người Âu đi theo cái logic đó, lúc nào cũng nhìn đến
nền hòa bình với Israel. Nhờ những lần chi trả bạc tỉ của
mình, họ đã làm ổn định một hệ thống mà nếu không thì
hoặc là đã bắt buộc phải tiến hành những cuộc cải cách
thật sự hoặc có lẽ là đã sụp đổ từ lâu rồi.


<div class="boxright320"><img
src="http://phanba.files.wordpress.com/2013/03/nassers_funeral_procession.png?w=326&h=393"
/><div class="textholder">Người dân đưa tiễn Tổng thống Ai Cập
Nasser</div></div>
Khi Nasser được đưa đi chôn cất trong tháng 10 năm 1970, hàng
triệu người Ai Cập đã đổ ra đường phố để tiễn đưa
người chết lần cuối cùng. Tại đám tang Sadat, gần như trùng
ngày mười một năm sau đó, chủ yếu là những người quyền
cao chức trọng đã hiện diện. Hàng nghìn cảnh sát đã bảo
vệ họ trước những đám đông người không tồn tại. Lời
phán xét về các tổng thống không thể nào rõ ràng hơn được
nữa. Người ta có thể ăn mừng nền hòa bình với Israel ở
Phương Tây, nó không mang lại cho người Ai Cập cả công việc
làm lẫn bánh mì. Đừng nói chi đến tự do và dân chủ.

Từ những lý do khác nhau, trong số đó là bộ máy hành chính
phình to, kém hiệu quả, mà tình hình kinh tế dưới thời
Mubarak vẫn khó khăn, khoảng cách giữa trên và dưới to lớn
vô cùng. Đóng một vai trò hoàn toàn quyết định trong đó là
tính cách của giới thượng lưu. Ở Thổ Nhĩ Kỳ, trong những
năm 1980 và 1990, các nhà doanh nghiệp người Thổ đã tạo nền
tảng cho một sự phát triển vững chắc, bằng cách xây dựng
mới nhiều ngành nghề và khai thác có chủ đích những thị
trường xuất khẩu mới bên cạnh Liên minh châu Âu, đặc biệt
là trong các quốc gia thuộc Cộng đồng các Quốc gia Độc lập
ở Trung Á, nhưng cũng cả trong Iran và các nước Ả Rập. Nói
một cách đơn giản, doanh nhân người Thổ có kế hoạch dài
hạn và mang tính chiến lược, ở trong vùng Trung tâm Anatolia
người ta đã nhiều lần dựa trên lời kêu gọi của một hệ
giá trị mang dấu ấn Hồi giáo, điều khiến cho người ta nhớ
đến đạo đức học Tin Lành của Max Weber. Đứng trong tâm
điểm là sự cân nhắc rủi ro và bền vững, ít Chủ nghĩa Tư
bản sòng bạc hơn là ở Ai Cập. Giới thượng lưu ở đó [Ai
Cập] thông thường xa lạ với tính toán kinh doanh. Có tiếng
nói không phải kinh tế gia chuyên nghiệp hay doanh nhân giàu kinh
nghiệm mà là dân nhà giàu mới và những người sống nhờ vào
lợi tức, những người do ở gần quyền lực mà có được
giấy phép, tự phục vụ cho mình từ ngân quỹ của nhà nước.
Nếu như họ đầu tư trong quê hương của họ thì hầu như
đều vào trong các lĩnh vực hứa hẹn kiếm được tiền nhanh
chóng và dễ dàng. Đặc biệt là trong khu vực bất động sản
và ngành du lịch, cái bắt đầu bùng nổ trong nửa sau của
những năm 1980. Cùng thời gian đó, Ai Cập hầu như không còn
có khả năng trả nợ nước ngoài được nữa. Trong liên kết
với tinh thần tự vơ vét cho mình của giới tinh hoa, nợ nhà
nước tăng lên đến mức vô lường. Người ta cho rằng chỉ
riêng gia đình Mubarak – cha Husni, phu nhân Suzanne, các con trai
Gamal và Alaa – là đã chuyển từ 40 đến 70 tỉ dollar ra các
tài khoản ở nước ngoài trong thời gian 30 năm cai trị của
họ. Có còn ngạc nhiên nữa không khi Ai Cập chẳng hề sản
xuất ra được một sản phẩm nào có thể cạnh tranh được
trên thị trường thế giới? Song song với đó, đất nước
cạnh sông Nile đã trở thành nhà nhập khẩu lúa mì lớn thứ
nhì thế giới, chủ yếu là từ Hoa Kỳ. Lúa mì chiếm một
phần năm tổng lượng nhập khẩu. Nguyên nhân là sự bùng nổ
về dân số (16 triệu dân năm 1950, 85 triệu 2010), cái tạo ra
những lỗ hổng khổng lồ trong ngân sách, nhất là bánh mì
lại được trợ giá.

<h2>Giới đối lập thành hình</h2>

Ai Cập đã có thể tránh bị phá sản chỉ vì những lý do
địa chính trị. Chính trị gia Phương Tây và Ả Rập cũng như
giới thượng lưu đều quan tâm trước hết đến sự ổn
định của đất nước Ả Rập quan trọng nhất bên cạnh Ả
Rập Saudi. Sau khi Cairo đứng về phía của liên minh chống Saddam
Hussein trong Chiến tranh vùng Vịnh 1990/91 để giải phóng Kuwait,
Câu lạc bộ Paris, liên minh của những quốc gia chủ nợ, đã
xóa phân nửa nợ cho Ai Cập theo sáng kiến của Washington. Cũng
như những khoản tiền từ lúc hiệp ước hòa bình với Israel
được ký kết tại Camp David, những món tiền thưởng cho các
động thái làm hài lòng như thế đã góp phần hỗ trợ quyết
định cho hệ thống Mubarak và tinh thần ngồi hưởng lương
hưu của giới thượng lưu. Tại sao họ lại phải cố gắng
hướng đến thay đổi dưới những điều kiện như thế? Từ
những số tiền khổng lồ được nói đến ở đây, hầu như
không có gì xuống đến phần dưới của kim tự tháp xã hội.
Con số người Ai Cập sống dưới ranh giới nghèo tăng gấp
đôi dưới thời của Mubarak và ngày nay nằm chính thức ở
mức 20%, trên thực tế chắc phải khoảng 40%.

Mặc cho tất cả những lần bơm tiền, tình hình kinh tế vẫn
còn rất khó khăn. Trong nửa sau của những năm 1990, và mạnh
hơn nữa là sau khi bước sang thiên niên kỷ mới, chính phủ
đã ban hành một loạt luật lệ chủ yếu hướng đến các nhà
đầu tư người nước ngoài. Ví dụ như rào cản quan liêu
được hạ thấp xuống cũng như mức đánh thuế, chuyển khoản
ngoại tệ được đơn giản hóa. Nhiều công ty quốc tế lớn,
trong số đó là Siemens và Volkswagen, kéo đến cạnh sông Nile,
để từ đấy mà khai thác thị trường Ả Rập. Qua đó, những
lĩnh vực kinh doanh và việc làm mới đã thành hình thêm cho
giới tinh hoa mới từ khu vực dịch vụ, bao gồm các nhân viên
dotcom và các doanh nhân mới khởi nghiệp ở Cairo và Alexandria.
Năm 2005, kinh tế bắt đầu bùng nổ thật sự với những tỷ
lệ tăng trưởng hàng năm vào khoảng 5% mà hưởng lợi nhiều
nhất từ đấy là những thành phần được đào tạo tốt từ
giới trung lưu. Thế nhưng thế hệ Facebook, thành công về mặt
kinh tế và trong cách sống chịu ảnh hưởng của Phương Tây
nhiều hơn, lại không có cảm giác phải mang ơn Mubarak. Hoàn
toàn ngược lại, họ cho rằng ông ấy và giới thượng lưu
truyền thống trợ giúp ông ấy là một thứ còn sót lại từ
thời phong kiến. Là những địa chủ đang cố nhờ vào đàn áp
và bạo lực để bảo vệ những đặc quyền của mình.

Từ môi trường đấy, các đảng phái và phong trào chính trị
đầu tiên đã đồng thời thành hình, công khai thách thức hệ
thống của Mubarak, như "Kifaya" (Đủ rồi) hay "Ghad" (Ngày
mai). Người thành lập Ghad, Ayman Nur, bị bắt vào đầu năm 2005
và phải ngồi tù bốn năm. Đồng thời, có những nhà làm phim
và nhà văn Ai Cập xuất hiện, những người với sự thẳng
thắn không khoan nhượng đã nêu rõ những hoàn cảnh không còn
có thể chịu được nữa và nhờ vào vai trò là người làm
nghệ thuật của mình mà có được một quyền miễn truy tố
nhất định. Có thể kể ra đặc biệt là Alaa al-Aswany, về
nghề nghiệp thật ra là nha sĩ. Năm 2002, ông công bố quyển
tiểu thuyết "Ngôi nhà Jacoubian", đã trở thành quyển sách
bán chạy nhất trong thế giới Ả Rập sau Kinh Coran. Cả chuyển
thể phim, sản xuất đắt tiền nhất cho tới nay trong lịch sử
ngành điện ảnh Ai Cập đã có từ năm 1927, cũng thành công
vang dội. Được kể lại là câu chuyện của nhiều nhân vật
trong một chung cư cao tầng ở nội thành Cairo, được xây trong
những năm 1930 và được gọi theo tên của người chủ đầu
tiên của nó, một người Armenia. Câu chuyện kể bắt đầu từ
thời của Nasser cho tới cuộc Chiến tranh vùng Vịnh 1990/91.
Một toàn cảnh Ai Cập thành hình: Như Zaki Bey Dessouki là một
kỹ sư già được đào tạo ở Paris, người thích quấy nhiễu
phụ nữ. Ông ấy giống như một cổ vật còn sót lại của
Chủ nghĩa Nasser và cho rằng tôn giáo chỉ là trò bịp bợm.
Taha Schazly là con trai của người trông nom nhà. Anh ấy đạt
điểm xuất sắc trong trường phổ thông nhưng do nguồn gốc xã
hội mà không được phép làm việc trong ngành cảnh sát. Thất
vọng và đầy tức giận, anh tham gia một nhóm người theo đạo
Hồi. Sau một cuộc biểu tình, anh bị bắt, bị cảnh sát hành
hạ và cưỡng hiếp. Anh ấy trở thành một người khủng bố.
Mohammed Azzam nguyên là một người đánh giày, nhờ những cuộc
kinh doanh mờ ám mà vươn lên trở thành một trong những người
giàu nhất Cairo – một người hưởng lợi từ "chính sách
mở cửa" dưới thời Sadat. Ông ấy bí mật cưới thêm
người vợ thứ nhì. Khi bà ấy mang thai, ông ly dị bà và bắt
bà ấy phải phá thai. Nhờ tiền mà ông ấy có một chỗ đứng
chắc chắn trong danh sách bầu cử và bước vào Quốc Hội
đại diện cho đảng cầm quyền. Đảng này không được nêu
tên ra, nhưng ai cũng biết đấy là NDP của Mubarak. Chính Mubrak
cũng xuất hiện không được nêu tên trong một lúc ngắn: Như
là người cao cấp nhất của mafia, một người loạn thần kinh
nhân cách không có linh hồn và không có lý trí, một nhân vật
như người buôn bán ngà voi Kurtz trong quyển tiểu thuyết
"Heart of Darkness" của Joseph Conrad. Để giữ cho người đại
biểu mới đi theo đúng đường lối của mình, vị tổng thống
có tên là "người ra ơn tối cao" đã tống tiền ông ấy
với vụ phá thai.

Khi được công chiếu trong rạp năm 2006, NDP cố gắng cấm
cuốn phim này, nhưng lại bất ngờ thất bại trước tòa án.
Tiểu thuyết và phim cũng thành công như thế bởi vì chúng đề
cập một cách thẳng thắn và một phần là lần đầu tiên
đến những đề tài xã hội đã không được nói tới như
tình dục, đồng tính luyến ái, tham nhũng của những kẻ nắm
quyền lực, những câu hỏi về tôn giáo và khủng bố.

(Còn tiếp)

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20130318/michael-luders-nhung-ngay-thinh-no-chuong-3),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét