Đôi điều về Dân Luận

Dân Luận theo đuổi một nền báo chí công dân, nơi mỗi độc giả chính là một nhà báo.

Mục tiêu của Dân Luận là cung cấp cái nhìn đa chiều về các vấn đề kinh tế - xã hội - văn hóa của Việt Nam và thế giới, với mong mỏi độc giả sẽ tự xây dựng cho mình phương pháp tư duy độc lập và khoa học.

Trang blog này là cầu nối giữa Dân Luận với độc giả trong nước, trong trường hợp bạn không truy cập được vào địa chỉ chính thức www.danluan.org.

Chúng tôi được biết Dân Luận đã bắt đầu bị chặn bởi tường lửa ở Việt Nam. Vì thế, xin mời bạn tham khảo cách vượt tường lửa để tiếp tục truy cập Dân Luận. Trong trường hợp gặp trục trặc, bạn có thể liên lạc với tqvn2004 tại huannc@gmail.com được hướng dẫn cụ thể.
(c) Dân Luận 2009. Cung cấp bởi Blogger.

Tổng số lần đọc

Google+ Followers

Trong cái không khí của kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XIII,
bỗng dưng tôi muốn viết 1 cái gì đó, về Quốc hội. Tôi,
cũng như toàn thể người dân đều mong mỏi Quốc hội của
chúng ta sẽ ngày càng phát huy được vai trò của mình trong
việc quyết định những vấn đề hệ trọng của đất nước.
Dù những điều mà tôi biết, cũng như tư duy của tôi còn hỗn
độn, song tôi đâu quá bận tâm tới điều đó, khi mà tôi
thực sự có những điều muốn tâm sự về vấn đề này...

<h2>1. Quốc hội và chủ quyền tối cao của nhân dân</h2>

Trước hết tôi muốn bàn về việc, quốc hội là
cơ quan dân biểu – tức đại diện cho nhân dân – thực hiện
quyền lập pháp – thứ quyền thể hiện ý chí chung của quốc
gia, của toàn dân. Vậy tôi đặt ra vấn đề, quyền hạn của
Quốc hội nên được đặt ra tới đâu để có thể duy trì
chủ quyền tối cao của dân chúng?

Montesquieu viết rằng: "<em>Trong một nước tự do,
mọi người đều được xem như có tâm hồn tự do, thì họ
phải được tự quản; như vậy tập đoàn dân chúng phải có
quyền lập pháp. Nhưng trong một nước lớn thì không thể mỗi
công dân đều làm việc lập pháp. Trong một nước nhỏ, việc
này cũng rất khó khăn; cho nên dân chúng thực hiện quyền lập
pháp bằng cách giao cho các đại biểu của mình làm mọi việc
mà cá nhân công dân không thể tự mình làm lấy được… Ưu
thế lớn của các đại biểu là họ có thể bàn cãi về mọi
công việc. Dân chúng thì không làm như thế được. Đây là
một trong những điều bất tiện lớn của thể chế dân
chủ</em>"; "<em>Dân chúng chỉ nên tham gia việc nước bằng
cách chọn đại biểu của mình là những người đủ năng lực
làm việc… Cơ quan đại biểu dân chúng không nên giải quyết
các công việc cụ thể, vì họ không thể làm tốt điều này.
Cơ quan đại biểu cho dân chỉ nên làm ra luật, và xem xét
người ta thực hiện luật như thế nào. Điều này thì có thể
làm tốt, và không ai có thể làm tốt hơn là cơ quan đại
biểu của dân</em>".

Như vậy, Montesquieu chủ trương dân chủ đại
diện. Quyền lập pháp của dân chúng cần được trao vào tay
của cơ quan dân biểu – hay Quốc hội.

Song, trong tác phẩm "Khế ước xã hội" của
mình, Rousseau lại phản đối dân chủ đại diện. Ông cho
rằng: "<em>Dân nước Anh tưởng rằng họ là tự do; họ đã
lầm. Sau các cuộc bầu cử dân chẳng là cái gì hết</em>".
Từ đó, ông chủ trương dân chủ trực tiếp đối với quyền
lập pháp: "<em>lập pháp là đỉnh cao nhất của sự hoàn thiện
mà sức mạnh tập thể có thể đạt tới, cơ quan lập pháp bao
gồm toàn thể nhân dân hội họp thường xuyên sẽ đưa ra ý
muốn chung của quốc gia</em>". Lập pháp, trong quan niệm của
ông. chính là chủ quyền quốc gia - đấy chính là ý chí của
nhân dân có chủ quyền và vì vậy nó phải điều chỉnh những
vấn đề chung nhất, liên quan đến tất cả mọi người. Cơ
quan này có nhiệm vụ đặt ra một Hiến pháp và đưa ra một
hệ thống pháp luật cho quốc gia. Cơ quan lập pháp sẽ thành
lập Chính phủ để phụ trách vai trò hành pháp cũng như đề
nghị phương pháp lựa chọn các vị thẩm phán vào cơ quan tư
pháp.

Rõ ràng, Rousseau đã đặt lập pháp ở vị trí cao
nhất, chi phối các quyền lực khác. Nó mới là sự thể hiện
trực tiếp nhất của ý chí nhân dân, của quyền lực tối cao.
Chủ quyền nhân dân thể hiện trong quyền lập pháp của nhân
dân. Tranh luận với Montesquieu, Rousseau chứng minh rằng tự do
chính trị chí có thì có trong một nhà nước nơi nhân dân có
quyền lập pháp trực tiếp. Theo ông, tự do thế hiện ở chỗ
công dân được luật pháp bảo vệ và tự mình được ban hành
luật. Do vậy mà luật chỉ là những điều kiện chính thức
của việc tập hợp dân sự. Dân chúng tuân theo luật phải là
người làm ra luật. Để lập pháp thực sự là cơ quan quyền
lực tối cao. Rousseau đòi hỏi mọi người phải tham gia chính
sự vì đó là quyền hạn cũng như trách nhiệm của công dân.
Cơ quan lập pháp phải phản ánh ý muốn chung của toàn dân
chứ không phải ý muốn của các đại diện nhân dân.

Bạn có thể thấy rằng, quan điểm của Montesquieu
và Rousseau không giống nhau về cơ quan lập pháp. Nếu như
Montesquieu cho rằng sự xuất hiện của cơ quan dân cử là tối
quan trọng đối với quyền lập pháp thì Rousseau dường như
lại phản đối điều này, đối với Rousseau quyền lập pháp
thuộc về toàn thể dân chúng, nghĩa là mỗi công dân đều tự
mình phải tham gia hoạt động lập pháp chứ không phải là trao
nó lại cho người dân biểu, và ông cho rằng sẽ là một tai
họa cho quốc gia nếu người dân mất đi quyền trực tiếp tham
gia lập pháp này.

Nhưng quan điểm của hai vị ấy không giống nhau
không có nghĩa rằng, chúng ta chỉ có thể tiếp thu một trong
hai chứ không thể tiếp thu cả hai. Tôi nhận thấy rằng trên
thực tế, nhiều quốc gia đã tiếp thu một cách linh hoạt tư
tưởng của hai nhà khai sáng vĩ đại ấy. Họ tiếp thu tư
tưởng về nguồn cội của quyền lực do Rousseau đề ra, tức
quyền lực bắt nguồn từ nhân dân và thuộc về nhân dân, hay,
"<em>chủ quyền tối cao thuộc về dân chúng</em>", trong khi
đó họ cũng lại áp dụng mô hình tổ chức quyền lực của
Montesquieu. Lấy nguồn gốc quyền lực theo tư tưởng Rousseau,
và tổ chức chúng theo cách của Montesquieu, bạn có thấy rằng
đó là một sự kết hợp tốt đẹp?

Ta hãy trở về chủ đề chính của chúng ta ở
đây. Có lẽ bạn, cũng như tôi, đồng ý với Montesquieu rằng,
toàn thể dân chúng khó mà tham gia được vào hoạt động lập
pháp, ngay cả ở trong thời đại thông tin liên lạc rất tiên
tiến như hiện nay – chỉ cần một cái click chuột là có thể
lấy ý kiến người dân không mấy khó khăn. Nhưng xã hội càng
hiện đại, yêu cầu điều chỉnh của pháp luật càng đặt ra
khó khăn hơn trước, cần những người hoạt động một cách
chuyên nghiệp hơn là toàn thể dân chúng ngoài lập pháp ra còn
phải lo lấy miếng cơm manh áo cho bản thân mình trước đã.
Việc dân chúng ủy quyền cho cơ quan dân biểu – tức Quốc
hội – nắm quyền lập pháp là một điều hợp lý. Những
nghị sĩ sẽ lo lắng làm nhiệm vụ lập pháp của mình hơn là
người dân.

Song bên cạnh đó, tôi và bạn lại cũng thấy
rằng, tư tưởng quyền lực thuộc về nhân dân của Rousseau
cũng rất đúng đắn và tiến bộ. Vậy làm thế nào để, tuy
dân chúng ủy quyền lập pháp cho Quốc hội nhưng trong quá
trình thành lập và hoạt động của bộ máy Nhà nước, quyền
lực vẫn không thể tách rời khỏi dân chúng?

Tôi cho rằng, dân chúng ủy quyền lập pháp cho
Quốc hội – tức Quốc hội sẽ có quyền lập pháp, nhưng
khế ước cơ bản tạo lập nên Nhà nước và Pháp luật –
Hiến pháp – phải do dân chúng lập nên. Ở đó, Quốc hội
sẽ nắm quyền lập pháp, nhưng quyền lập hiến sẽ thuộc về
nhân dân – nhân dân sẽ nắm quyền phúc quyết Hiến pháp.
Hiến pháp sẽ chỉ được thông qua khi toàn dân đồng thuận.
Khế ước xã hội từ đó mà được đảm bảo xuất phát từ
nhân dân. Quốc hội không nên nắm toàn bộ cả quyền lập
pháp lẫn lập hiến. Giới hạn quyền lực của Quốc hội chỉ
ở quyền lập pháp – chứ không bao gồm cả quyền lập hiến,
mà trao quyền lập hiến trở lại cho dân chúng – vừa thể
hiện được tư tưởng "tất cả quyền lực thuộc về nhân
dân" của Rousseau, vừa phát huy được sức mạnh của cơ chế
dân chủ đại diện theo mô hình của Montesquieu, một sự dung
hòa giữa dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp.

<h2>2. Quốc hội và cơ chế lưỡng viện</h2>

Chúng ta vẫn thường thấy, Quốc hội – hay Nghị
viện - ở những nước tư sản thường được tổ chức theo
cơ cấu lưỡng viện, chứ không phải một viện duy nhất như
ở ta. Có khi nào bạn thắc mắc về điều này?


Vậy hãy cùng tôi lắng nghe một câu chuyện:

Sau khi Hội nghị lập hiến ở Mỹ kết thúc, khi Thomas Jefferson
từ Pháp trở về, trong một bữa ăn tối đã hỏi Washington
"<em>vì sao Quốc hội Hoa Kỳ phải có viện thứ hai trong Quốc
hội là Thượng viện?</em>". Khi đó thấy Thomas Jefferson đang
rót cà phê từ trong chiếc tách ra đĩa, Washington liền hỏi:
"<em>Thế tại sao ngài lại đổ cà phê từ tách ra đĩa
vậy?</em>". Jefferson trả lời: "<em>Để làm cho cà phê nguội
đi</em>". Washington mỉm cười: "<em>Điều đó cũng giống như
việc chúng ta đổ cơ quan lập pháp ấy vào chiếc đĩa Thượng
viện để nó nguội bớt đi</em>".

Câu trả lời của Washington rất hóm hỉnh nhưng
nói lên quan điểm của các nhà làm luật tư sản về thiết
chế Nghị viện. Họ cho rằng, Hạ viện thường đại diện cho
các tầng lớp dân cư trong xã hội và thường được coi như
cái nhiệt kế của đời sống xã hội, trong khi đó Thượng
viện thường đại diện cho tầng lớp bảo thủ nên ít chịu
sự tác động của áp lực xã hội. Do vậy, thiết chế
Thượng viện trong nhiều trường hợp đã cản trở được
những đạo luật ban hành trong những thời điểm bức xúc của
cuộc sống, phản ánh đòi hỏi nhất thời của xã hội nhưng
lại thiếu đi tính bền vững.

Cũng có một lý do nữa để chúng ta hiểu thêm
về vấn đề này. Cơ cấu hai viện tồn tại phổ biến trong
các nhà nước tư sản liên bang. Hạ nghị viện, như chúng ta
đã biết được bầu theo tỷ lệ dân số, nó đại diện cho ý
chí của toàn liên bang không phân biệt các bang hợp thành. Nó
do toàn bộ cử tri của liên bang bầu ra. Nhưng có một vấn
đề là, trong một quốc gia liên bang, không phải các bang đều
bằng nhau chằn chặn về số dân, sẽ có bang nhiều dân, bang
ít dân. Như vậy, nếu chỉ duy trì chế độ một viện là Hạ
viện, tất sẽ xảy ra tình trạng bang lớn lấn át quyền lợi
của bang nhỏ trong nghị viện bởi đơn giản số cử tri của
bang lớn sẽ đông hơn số cử tri của bang nhỏ trong Hạ viện.
Vì vậy cần xuất hiện thêm một thiết chế nữa trong nghị
viện để đảm bảo sự công bằng giữa các bang. Thiết chế
Thượng viện đáp ứng được điều này, bởi Thượng viện
đại diện cho ý chí của các bang và mối liên hệ giữa các
bang với nhau do cử tri của từng bang bầu ra. Số thượng nghị
sĩ của mỗi bang là bằng nhau trong Thượng viện. Thiết chế
này sẽ đem lại sự công bình cho quyền lợi trong toàn liên
bang. Một dự luật do Hạ viện tạo ra cần phải có sự thông
qua của Thượng viện, chính là để đảm bảo cho điều đó.

Song dù vì bất kỳ lý do gì, thiết chế Thượng
viện – Hạ viện trong Quốc hội các nước tư sản cũng đều
thể hiện tư duy kiềm chế, đối trọng quyền lực của họ.
Trong tác phẩm "Tinh thần pháp luật", Montesquieu cũng viết:
"<em>… quyền lập pháp được giao cho hai cơ cấu: một bên
là đại biểu quý tộc, bên kia là đại biểu dân chúng. Mỗi
bên có nghị viện thảo luận riêng rẽ theo quan điểm và
quyền lợi của mình… hai quyền lập pháp và hành pháp cần
có một uy lực điều chỉnh để dung hòa; mà bộ phận lập
pháp gồm các nhà quý tộc thật là thích đáng để phát huy
tác dụng điều hòa này</em>". (Cách lý giải của Montesquieu
vẫn bị coi là nặng về chủ trương ủng hộ đặc lợi cho
tầng lớp quý tộc, nhưng tư tưởng cân bằng, dung hòa quyền
lực trong hoạt động lập pháp thì không thể phủ nhận)


<h2>3. Quyền lập pháp của Quốc hội hiện nay nên được hiểu
thế nào?</h2>

Montesquieu nói về quyền lập pháp, đó là quyền
"<em>làm ra các thứ luật cho một thời gian hay vĩnh viễn, và
sửa đổi hay hủy bỏ luật này</em>".

Điều 84, Hiến pháp năm 1992 của chúng ta cũng quy
định về quyền lập pháp của Quốc hội, đó là: "<em>làm
luật và sửa đổi luật</em>".

Có lẽ, quan niệm truyền thống về quyền lập
pháp đều coi lập pháp đồng nghĩa với "làm luật" –
nghĩa là tất cả những hoạt động để xây dựng nên một
đạo luật.

Song hiện nay, quan điểm về quyền lập pháp đã
thay đổi so với trước kia rất nhiều. Đó là do sự thay đổi
về tương quan quyền lực giữa cơ quan lập pháp so với cơ quan
hành pháp.

Trước hết hãy cùng tôi điểm qua quyền lực của
thiết chế Quốc hội (Nghị viện) trong lịch sử.

Thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản là thời
kỳ hoàng kim của Nghị viện. Do nhu cầu hạn chế quyền lực
Nhà vua, phát triển dân chủ tư sản, quyền lực của Nghị
viện được tăng cường. K.Marx gọi đó là thời kỳ giai cấp
tư sản "<em>hoàn bị quyền lực Nghị viện</em>". Vào thời
kỳ thịnh vượng của Nghị viện, ở Anh có một câu ngạn
ngữ: "<em>Nghị viện có thể làm được tất cả, chỉ trừ
việc biến đàn ông thành đàn bà</em>". Sau khi mục đích của
việc hoàn bị quyền lực Nghị viện đã đạt được, giai
cấp tư sản chuyển sang giai đoạn "<em>hoàn bị quyền lực
Hành pháp</em>". Nghị viện dần dần bị bộ máy Hành pháp
thao túng. Ngày nay, như một nhà nghiên cứu hiến pháp người
Pháp – Maurice Duverger – nói, Chính phủ ngày nay ngày càng có
khuynh hướng trở thành một quyền hành thúc đẩy, khởi
xướng, chỉ huy tổng quát quốc gia, lãnh đạo dân chúng trong
khi Quốc hội chỉ đặt một vài biên thùy tổng quát cho hoạt
động Chính phủ, đồng thời, tán thành hay chỉ trích các
hoạt động đó mà thôi.

Quyền lập pháp – quyền lực đặc trưng của
Quốc hội – cũng không nằm ngoài xu thế này.

Vậy quyền lập pháp hiện nay nên được hiểu thế
nào? Trước hết, lập pháp không đồng nghĩa với làm luật.
Thiết kế mô hình ứng xử cho xã hội – tức xây dựng những
dự luật - không phải là nhiệm vụ của ngành lập pháp mà là
của ngành hành pháp. Ngành hành pháp là ngành quan hệ một cách
trực tiếp và thường xuyên nhất với các chủ thể xã hội.
Ngành hành pháp nằm ở vị trí tất yếu để xây dựng mô
hình ứng xử phổ biến cho xã hội. Đó là lí do tại sau hơn
80% luật trên thế giới đều xuất phát từ ngành hành pháp.

Hoạt động lập pháp của Quốc hội, do vậy, thực
chất chỉ là hoạt động kiểm tra, giám sát sự tương hợp
giữa các giải pháp lập pháp do Chính phủ thiết kế với lợi
ích, nguyện vọng chung của toàn xã hội. Việc kiểm tra này
sẽ dẫn tới kết quả là: <em><strong>thông qua, hay không thông
qua các chính sách của Chính phủ.</strong></em>

Vì vậy, người ta còn gọi quyền lập pháp hiện nay
là "<em>quyền giám sát hành pháp</em>" (cần lưu ý phân biệt
với chức năng giám sát tối cao của Quốc hội ở nước ta quy
định trong Hiến pháp), hay "<em>quyền thông qua luật</em>",
chứ không phải là quyền "<em>làm luật</em>" nữa. Chỉ với
cách hiểu như vậy, quyền lập pháp mới thực sự là quyền
duy nhất của Quốc hội, bởi Quốc hội mới là cơ quan duy
nhất có quyền thông qua hay không thông qua một đạo luật.

(Ngoài vấn đề nhầm lẫn giữa "lập pháp" và
"làm luật", chúng ta dường như vẫn còn không ít sự nhầm
lẫn trong các hoạt động quyền lực nhà nước, ví dụ không
ít người trong chúng ta vẫn coi các hoạt động điều tra, truy
tố, thi hành án là hoạt động tư pháp – thuộc về quyền
lực tư pháp, trong khi đúng ra nó phải là hoạt động hành
pháp)

<h2>4. Vài suy nghĩ cho Việt Nam…</h2>

<h3>1. Quyền phúc quyết Hiến pháp</h3>

Ta hãy nhìn vào lịch sử lập hiến Việt Nam. Hiến
pháp năm 1946 thực sự là một bản Hiến pháp mẫu mực, khi
đã thừa nhận (tôi dùng chữ "<em>thừa nhận</em>" chứ
không phải là "<em>quy định</em>" bởi đây cần được xem
là một quyền tự nhiên) quyền phúc quyết Hiến pháp của nhân
dân. Nhưng những bản Hiến pháp tiếp theo đó, vì nhiều lý do,
chúng ta đã không ghi nhận trở lại quyền này. Tôi mong rằng,
nếu có lần sửa đổi, hoặc thay thế, bản Hiến pháp năm 1992
sắp tới, Quốc hội sẽ xem xét "<em>trao trả</em>" lại
quyền phúc quyết Hiến pháp cho dân chúng như nhiều học giả
đã từng đề cập trong thời gian gần đây.

Đừng xem nhẹ vấn đề coi Hiến pháp là một bản
khế ước của toàn dân. Nếu chỉ coi nó là một sản phẩm
của một cơ quan mà không phải là ý chí chung của toàn dân,
làm sao chúng ta có thể tôn trọng Hiến pháp? Khẳng định
"<em>tất cả quyền lực thuộc về nhân dân</em>" nhưng lại
không thừa nhận nhân dân trực tiếp làm ra Hiến pháp nghĩa là
chúng ta chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của vấn
đề đó.

Bạn sẽ hỏi tôi rằng, tại sao tôi lại đi lấy
cách nhìn của những học giả tư sản để áp vào mô hình
của Quốc hội Việt Nam. Vậy bạn có biết, hiện nay gần như
những học giả của chúng ta đều thừa nhận bản Hiến pháp
năm 1946 để lại những dấu ấn to lớn và tiến bộ nhất, và
điểm khác biệt của nó (chỉ có sự khác biệt mới mang lại
tiến bộ chứ?) là Hiến pháp này đã tiếp thu tinh hoa của
"<em>Khế ước xã hội</em>" và "<em>Tam quyền phân
lập</em>"?

<h3>2. Tính bền vững của những đạo luật mà Quốc hội ban
hành</h3>

Những ngày vừa qua, tôi có đọc được nhiều ý
kiến trái chiều về một số dự thảo luật, đặc biệt là
dự thảo luật giáo dục đại học. Trong đó, có nhiều ý
kiến cho rằng, đây là một dự thảo vội vàng, "cái cày đi
trước con trâu", "chưa cải cách giáo dục đã định thông
qua luật giáo dục đại học"…, Hay vấn đề dư luận xã
hội đòi "sửa đổi Bộ luật hình sự để tử hình Lê Văn
Luyện" trong vụ án giết người, cướp tài sản ở tiệm
vàng mà Lê Văn Luyện là nghi phạm. Tôi cảm thấy dường như
Quốc hội của chúng ta đang thiếu đi một thiết chế tự bên
trong nó – như cơ cấu Thượng viện ở các nước tư sản -
để có thể "hãm" lại những bức xúc nhất thời của một
bộ phận tầng lớp dân cư mà tính đến sự bền vững của
luật pháp – một điều tối quan trọng trong một nhà nước
pháp quyền. Tôi biết chúng ta khó có thể dung hòa mô hình
lưỡng viện như ở các nước Tư sản, song tôi hi vọng chúng
ta vẫn có thể học hỏi những điều tích cực từ mô hình
đó để có những điều hòa kịp thời trong cơ cấu cơ quan
lập pháp hiện nay, tuy có thể không cần thiết phải lập ra
viện thứ hai nhưng những thiết chế khác sẽ phát huy tốt vai
trò này.


<h3>3. Quy định về quyền lập pháp của Quốc hội</h3>

Tiến sĩ Vũ Hồng Anh viết: "<em>Hiến pháp của
đa số các nước trên thế giới đều quy định Nghị viện có
quyền thông qua luật, chứ không quy định là Nghị viện làm
luật. Bởi lẽ quá trình làm luật gồm nhiều giai đoạn, trong
đó có sáng quyền lập pháp và công bố luật. Thực tiễn lập
pháp của nhiều nước trên thế giới cho thấy đa số các dự
án luật do Chính phủ đệ trình, còn quyền công bố luật theo
Hiến pháp, thuộc về người đứng đầu nhà nước</em>".

Thiết nghĩ nếu Hiến pháp có sửa đổi, chúng ta
cũng nên quy định quyền lập pháp của Quốc hội theo hướng
này.


<h3>4. Về những đại biểu Quốc hội – hay những Nghị
sĩ</h3>

Những luật gia ở các nước Common Law đặt ra một
vấn đề đáng phải suy nghĩ, rằng quyền lập pháp được trao
cho những nghị sĩ, vậy là những đạo luật sẽ được thông
qua bởi các luật gia bán chuyên nghiệp – chứ không phải là
những luật gia chuyên nghiệp (đó cũng là lý do mà họ thường
coi trọng án lệ - sản phẩm của những thẩm phán, những
luật gia chuyên nghiệp – hơn là luật thành văn).

Tôi không lạ khi một vị đại biểu đáng kính
nào đó phát biểu một câu khiến cả hội trường cười ồ
lên. Nhưng xin hãy lưu ý, đó thật ra không phải do lỗi của
họ. Phần lớn đại biểu Quốc hội lại không phải là luật
gia được đào tạo bài bản, nhưng họ lại phải làm một cái
việc là thông qua những dự luật ảnh hưởng tới quốc kế
dân sinh. Tôi cho điều này cũng giống như bạn bắt một
người kém về toán học đi chứng minh một phương trình toán
học khó vậy. Một tập thể những luật gia bán chuyên nghiệp
lại phải thẩm định, thông qua những dự luật – phần lớn
của Chính phủ, nơi có không ít các luật gia chuyên nghiệp –
có thể sẽ xảy ra hai tình huống xấu: Một là, sự không
chuyên nghiệp của các nghị sĩ sẽ làm hỏng một dự luật
tốt đẹp; hoặc Hai là, cũng do sự thiếu chuyên nghiệp, các
nghị sĩ dễ bị thao túng bởi các thành viên Chính phủ trong
các dự luật. Dù là bất kỳ khả năng nào diễn ra, chất
lượng các đạo luật của chúng ta cũng thật đáng lo ngại.

Khắc phục vấn đề trên như thế nào? Một, phải
có những đãi ngộ đặc biệt cho các Nghị sĩ để họ toàn
tâm toàn ý vào cái việc khó khăn, hệ trọng kia; và Hai, rất
cần có những cộng sự là những luật gia để làm việc với
các Nghị sĩ.

Vấn đề thứ nhất, tôi xin phép chưa bàn đến,
vì điều kiện vật chất của chúng ta còn nhiều vấn đề
để có thể đáp ứng những đãi ngộ đối với các đại
biểu Quốc hội như ở các nước tư sản. Nhưng đối với
vấn đề thứ hai, tôi nghĩ rằng không khó để chúng ta có
thể làm được. Số lượng cử nhân luật, luật sư, chuyên gia
luật… của chúng ta ngày càng nhiều thêm, và tôi tin rằng
không thiếu người để Quốc hội có thể "trang bị" cho
mỗi vị đại biểu ít nhất là một hay hai luật gia chuyên
nghiệp để tư vấn trong suốt quá trình diễn ra các kỳ họp
quan trọng để thông qua các dự luật.

Tôi đã được chứng kiến những khó khăn của
các đại biểu khi không có một người có chuyên môn tư vấn,
giúp đỡ trong công việc của họ. Nếu Quốc hội có thể xem
xét vấn đề này, tôi tin những đạo luật ban hành trong thời
gian tới sẽ tốt hơn.

_______________________

1. Montesquieu, "Tinh thần pháp luật"

2. Rousseau, "Khế ước xã hội"

3. Bùi Ngọc Sơn, "Những góc nhìn lập pháp"

4. Nguyễn Cảnh Bình, "Hiến pháp Mỹ được làm ra như thế
nào?"

5. PGS. TS. Thái Vĩnh Thắng, "Nhà nước tư sản hiện đại, lý
luận và thực tiễn"

6. GS. TS. Nguyễn Đăng Dung, "Quyền hành pháp và quyền hành
chính nhà nước cao nhất"

7. Phạm Thế Lực, "Tư tưởng chủ quyền nhân dân trong tác
phẩm Khế ước xã hội của J.J.Rousseau".

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20130109/phan-hoang-linh-tan-man-ve-quoc-hoi),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

0 phản hồi:

Đăng nhận xét

Các bài viết có liên quan của vụ án Cù Huy Hà Vũ được Dân Luận tập hợp tại đây: Hồ Sơ Cù Huy Hà Vũ, hoặc theo từ khóa "Cù Huy Hà Vũ".

Độc giả có thể truy cập Dân Luận an toàn hơn qua cổng HTTPS (HTTP có mã hóa bảo mật), bằng cách thêm https:// vào đằng trước địa chỉ danluan.org, hoặc bấm vào đây!
Bấm vào đây để đọc chuyên mục Góp ý sửa đổi Hiến Pháp 1992
Bấm vào đây để đọc cuốn Trần Huỳnh Duy Thức - Con Đường Nào Cho Việt Nam

Quỹ Dân Luận


Bấm nút Donate để ủng hộ tài chính cho Dân Luận qua Paypal. Thu chi quỹ Dân Luận: xem ở đây!

Hỗ trợ dân chủ

Bạn có thể chia sẻ tấm lòng của mình với các nhà hoạt động dân chủ trong nước và gia đình của họ, ngay cả khi bạn đang ở trong nước. Bạn chỉ cần ra bưu điện, hỏi về dịch vụ "chuyển tiền nhanh". Người ta sẽ cấp cho bạn một phiếu, trong đó có phần thông tin người gửi và người nhận. Phần người nhận bạn cần điền chi tiết và chính xác. Còn phần người gửi, bạn không cần điền chính xác. Phí chuyển tiền không đắt, hãy làm gì đó chứng tỏ xã hội đứng phía sau những công dân này!

Danh sách các nhà hoạt động dân chủ trong nước và địa chỉ của họ có thể được tìm thấy ở đây!

Dân Luận kêu gọi bài vở theo chủ đề: Nghiên cứu kinh nghiệm đấu tranh bất bạo động và xây dựng phong trào của Tổ chức Otpor (Phản Kháng) của Serbia. Đây là kinh nghiệm là các lực lượng đối kháng tại Tunisia và Ai Cập đã vận dụng để lật đổ độc tài tại các quốc gia này...

Bài mới trên Dân Luận

Archives