Lê Đăng Doanh - Gỡ mớ bòng bong sở hữu chéo

<center><img
src="http://danluan.org/files/u1/sub02/httpwwwthesaigontimesvnuploadsarticles82781bca0610405jpg.jpg"
width="405" height="305"
alt="httpwwwthesaigontimesvnuploadsarticles82781bca0610405jpg.jpg"
/></center>

<em><strong>Sở hữu chéo gây ra nhiều hệ lụy, trước hết là
tạo ra luồng vốn tưởng là góp "tiền tươi, thóc thật"
(equity) nhưng thực chất là vốn vay lẫn nhau. Điều này tạo
nên lượng "vốn ảo" trong hệ thống ngân hàng thương
mại.</strong></em>

Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đã có quá trình phát
triển vượt bậc cả về số lượng các ngân hàng lẫn về
tổng mức tín dụng trong những năm qua. Số ngân hàng thương
mại cổ phần lên đến 84 ngân hàng năm 1997 và được sắp
xếp lại còn 35 ngân hàng thương mại cổ phần tính đến ngày
15-6-2012 (nguồn: Ngân hàng Nhà nước), tỷ lệ tín dụng trên
GDP đã từ 35% năm 2000 tăng vọt lên 125% năm 2010 (nguồn: Ngân
hàng Thế giới), một tỷ lệ thuộc loại cao nhất khu vực.

<h2>Thực trạng và hệ lụy chưa được làm rõ đầy đủ</h2>

Nhiều ngân hàng tỉnh đã được nâng cấp thành ngân hàng
quốc gia, có số vốn tăng nhanh đáng ngạc nhiên, trong đó có
góp phần của sở hữu chéo giữa các ngân hàng thương mại,
doanh nghiệp, công ty đầu tư. Bức tranh rất phức tạp và
nhiều biến động này hiện nay cần được làm rõ.

Trước hết phải nhắc đến là trong cao trào đầu tư ra ngoài
ngành chính, cốt lõi của mình, nhiều tập đoàn kinh tế lớn
của Nhà nước đã đầu tư vào các ngân hàng thương mại,
công ty tài chính, bất động sản.

Thí dụ như tập đoàn Điện lực EVN đầu tư vào Ngân hàng An
Bình với 24,3%, tập đoàn Dầu khí Petro Việt Nam đầu tư vào
Ngân hàng Dầu khí Toàn Cầu, hai tập đoàn kinh tế nhà nước
là Than-Khoáng sản và tập đoàn Cao su có phần hùn trong Ngân
hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội với tỷ lệ mỗi tập đoàn sở
hữu hơn 6%, tập đoàn Dệt - May, tập đoàn Bưu chính Viễn
thông VNPT đều có đầu tư vào các ngân hàng thương mại.

Mặt khác các ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước như
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Ngân hàng
TMCP Ngoại thương (Vietcombank), Ngân hàng TMCP Công thương
(VietinBank) và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
(Agribank) đều sở hữu các ngân hàng thương mại cổ phần
khác. Sở hữu chéo ở đây là sở hữu của một pháp nhân hay
thể nhân kinh doanh ngành chính phi ngân hàng nhưng đầu tư có
cổ phần đa số hay có khả năng chi phối, kiểm soát ngân hàng
đó.

Trong khu vực tư nhân, bức tranh còn phức tạp hơn rất nhiều.
Thí dụ như Ngân hàng TMCP ACB đang góp vốn vào các ngân hàng
TMCP khác như Đại Á, Kiên Long, Việt Nam Thương Tín.

Trước hết, sở hữu chéo như thế đã cho phép nhiều ngân
hàng cấp tỉnh lách được quy định của Nghị định
141/2006/NĐ-CP về mức vốn pháp định của các tổ chức tín
dụng, theo đó vốn điều lệ thực góp của các ngân hàng
phải đạt 1.000 tỉ đồng vào năm 2008 và 3.000 tỉ đồng vào
năm 2010.

Thông qua sở hữu chéo, cổ đông của ngân hàng A có thể vay
tiền ngân hàng B thông qua một công ty đầu tư tài chính của
mình để góp vốn vào ngân hàng A và cổ đông của ngân hàng B
cũng sử dụng công ty đầu tư tài chính của mình để vay
ngược lại ngân hàng A.

Chính điều này đã tạo ra luồng vốn tưởng là góp "tiền
tươi, thóc thật" (equity) nhưng thực chất là vốn vay lẫn
nhau. Điều này tạo nên lượng "vốn ảo" trong hệ thống
ngân hàng thương mại mà quy mô thực của nó chưa được làm
rõ.

Hệ lụy thứ hai rất quan trọng mà Luật Ngân hàng Nhà nước
và Luật các tổ chức tín dụng hiện hành có quy định về
giới hạn tỷ lệ sở hữu cổ phần: một cổ đông cá nhân
không được sở hữu vượt quá 5% vốn điều lệ của một
tổ chức tín dụng; một cổ đông là tổ chức không được
sở hữu vượt quá 15% vốn điều lệ của một tổ chức tín
dụng, trừ một số trường hợp đặc biệt; cổ đông và
những người liên quan của cổ đông đó không được sở hữu
vượt quá 20% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng
nhằm hạn chế sự thâu tóm ngân hàng trái pháp luật. Kinh
nghiệm thực tế cho thấy thông qua những pháp nhân và thể
nhân khác, một cá nhân có thể sở hữu vượt quy định này.

Sở hữu chéo cho phép một doanh nghiệp (hay ngân hàng) có tỷ
lệ cổ phần lớn trong các ngân hàng thương mại có thể gây
áp lực (một cách hợp pháp như qua bỏ phiếu trong hội đồng
quản trị với vị thế cổ đông chiến lược) để ngân hàng
này cấp vốn đầu tư vào những dự án (dưới chuẩn ) của
doanh nghiệp hay ngân hàng "sân sau" của mình. Nguy cơ là quy
định bị "vượt rào", bộ máy sàng lọc theo tiêu chí hiệu
quả đầu tư vốn rất nghiêm ngặt của hệ thống ngân hàng
thương mại có thể bị tê liệt hay trở nên hình thức. Nguy
cơ này đang tiềm ẩn trong vô số các dự án bất động sản
đã mọc lên như nấm trong những năm gần đây và nay đang
đối mặt với nguy cơ không thể trả được nợ.

Điều các nước rất thận trọng là tách bạch rõ ràng giữa
ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại. Thông tư
13/2010/TT-NHNN cũng quy định hoạt động ngân hàng đầu tư
phải được tách bạch khỏi hoạt động của ngân hàng thương
mại.

Theo đó, ngân hàng không được cấp tín dụng cho công ty trực
thuộc hoạt động kinh doanh chứng khoán. Sử dụng quyền sở
hữu chéo, ngân hàng A có thể dễ dàng lách quy định này bằng
cách tác động qua các kênh khác nhau để ngân hàng B (mà ngân
hàng A đang đồng sở hữu) mua trái phiếu của công ty chứng
khoán, công ty quản lý quỹ của ngân hàng A. Tình trạng "rối
loạn" tài chính đã trở thành hiện thực. Cách kinh doanh của
ông Nguyễn Đức Kiên đã được báo chí phanh phui trong khi lập
ba công ty, lập dự án kinh doanh khống để vay vốn ngân hàng
có thể coi là một "đỉnh núi băng" lộ ra trên mặt nước.

Sở hữu chéo cũng cho phép ngân hàng A giấu nợ xấu của mình
bằng cách không khai báo nợ xấu mà nhờ ngân hàng B (mà ngân
hàng A có sở hữu) cho vay, qua đó giảm được mức nợ xấu
phải khai báo và không phải trích dự phòng rủi ro tương ứng.
Đó cũng là một trong những lý do khiến Ngân hàng Nhà nước
khó nắm được chính xác số nợ xấu của toàn bộ hệ thống
ngân hàng.

Chắc chắn rằng còn có thể tiếp tục bổ sung thêm những hệ
lụy khác nữa như họ có thể liên kết với nhau để thao túng
tiền tệ, lãi suất, tỷ giá, song các điều này cũng đã đủ
để làm an toàn của hệ thống ngân hàng và chất lượng tín
dụng của nước ta bị giảm sút đáng kể. Cũng phải lưu ý
là chính khủng hoảng ngân hàng ở Mỹ năm 2008 và ở châu Âu
hiện nay đều đã châm ngòi cho cuộc khủng hoảng tài
chính-tiền tệ nhanh chóng lan rộng thành khủng hoảng kinh tế
với giá rất đắt về kinh tế và xã hội.

<h2>Giải pháp gì?</h2>

Câu hỏi đề ra là tại sao có quy định pháp luật tương đối
đầy đủ trên giấy tờ nhưng việc lách luật lại có thể
diễn ra trên quy mô lớn và lâu đến như vậy? Có "lợi ích
nhóm" và "tư duy nhiệm kỳ" mà Tổng bí thư Nguyễn Phú
Trọng đã đề cập đến trong trường hợp này không?

Chắc chắn rằng đề án tái cấu trúc ngân hàng thương mại
của Ngân hàng Nhà nước sẽ không chỉ giải quyết khoản nợ
xấu đang cản trở dòng lưu thông vốn giữa ngân hàng và doanh
nghiệp mà còn phải đề cập đến nhiều vấn đề trọng yếu
khác, trong đó có việc sở hữu chéo này.

Hiện nay, cơ quan giám sát tài chính-ngân hàng-chứng khoán-bất
động sản chưa liên thông, mỗi mảng do một cơ quan riêng
biệt đảm trách nên bức tranh toàn cảnh của sở hữu chéo
khó được phát hiện và chấn chỉnh. Cải cách thể chế nhà
nước quản lý, giám sát hệ thống tài chính - ngân hàng phải
được thực hiện đồng bộ, bảo đảm sự giám sát thông
suốt giữa ngân hàng-chứng khoán-bất động sản là rất cần
thiết để làm rõ bức tranh phức tạp đã hình thành và tìm
cách ngăn chặn sự lặp lại sở hữu chéo trong tương lai.

Theo TBKTSG

<center>________________________</center>

<h2>Ma trận về sở hữu chéo khu vực ngân hàng Việt Nam</h2>

Có thể nói rằng kể từ 2005 tới nay, sự tăng trưởng
nhanh chóng của các NHTM cổ phần đã đi kèm với việc hình
thành một cấu trúc sở hữu chéo và đa phương giữa ngân hàng
với doanh nghiệp và ngân hàng với ngân hàng.

Như minh họa trong Sơ đồ, rất nhiều công ty lớn không
nằm trong lĩnh vực tài chính, đặc biệt là các tập đoàn kinh
tế nhà nước và các tập đoàn cổ phần, hiện đang đầu tư
dài hạn như những nhà sáng lập hoặc nhà đầu tư chiến
lược trong các NHTM cổ phần. Các ngân hàng cũng sở hữu cổ
phần lẫn nhau. Sở hữu cổ phần đan chéo giữa các ngân hàng
một phần là di sản của những cố gắng tái cấu trúc trước
đây, nhưng quan trọng hơn, hiện tượng này phản ánh những
quyết định kinh doanh chiến lược của họ. Sơ đồ này mới
chỉ tính tới sở hữu trực tiếp giữa các ngân hàng và các
tổ chức kinh tế. Bức tranh sẽ còn phức tạp hơn nhiều nếu
đưa vào sở hữu gián tiếp thông qua công ty thứ ba và sở
hữu chéo của cá nhân hay gia đình.

Ví dụ, Techcombank được sở hữu trực tiếp bởi Masan
(19,7%), HSBC (19,6%), và Việt Nam Airlines (2,8%). Các quy định
hiện hành ngăn cản ngân hàng cho chính các cổ đông của mình
vay vốn. Tuy nhiên, các ngân hàng thường lách quy định này
bằng cách cho công ty con thay vì cho công ty mẹ vay. Nhật Bản,
Hàn Quốc, Thái Lan và In-đô-nê-xia đều đã gánh chịu những
khó khăn kinh tế nặng nề do hệ quả của tình trạng sở hữu
chéo giữa ngân hàng và doanh nghiệp. Vì cho vay theo quan hệ nên
ngân hàng không đảm nhiệm tốt chức năng thẩm định và giám
sát cẩn trọng các khoản vay của các công ty cổ phần này và
hệ quả là nảy sinh rất nhiều khoản nợ xấu.

Công ty Chứng khoán ACB là một công ty con 100% của Ngân hàng
Á Châu (ACB). Ngân hàng Quân đội (MB) sở hữu 62% Công ty Chứng
khoán Thăng Long. Công ty Tài chính Dầu khí Việt Nam cũng sở
hữu 3% của Techcombank, có nghĩa là Petro Việt Nam (PVN) cũng có
cổ phần trong ngân hàng. Trên thực tế, theo thông tin công bố
thì Ngân hàng An Bình đã cho vay hoặc đã mua trái phiếu của
các công ty con thuộc tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN). Công
ty viễn thông Viettel cũng là tổ chức vay vốn quan trọng của
Ngân hàng Quân đội.

So với tình hình sở hữu liên kết giữa ngân hàng – doanh
nghiệp thì tình trạng sở hữu chéo giữa các ngân hàng đặt
ra những rủi ro thậm chí còn lớn hơn và mang tính hệ thống
đáng lo ngại hơn. Bởi vì vấn đề thanh khoản và khả năng
trả nợ của một ngân hàng có thể kéo theo những vấn đề
tương tự ở rất nhiều các ngân hàng khác. Nhìn vào Sơ đồ,
ngoại trừ phần sở hữu của các ngân hàng nước ngoài, sở
hữu chéo giữa các ngân hàng trong nước không có bất kỳ một
lý do chiến lược rõ ràng nào. Tuy nhiên, nhìn kỹ vào cấu
trúc sở hữu và báo cáo tài chính của các ngân hàng thì có
thể thấy <span class="underlined-text">việc sở hữu chéo là để
tạo điều kiện cho vay theo quan hệ cũng như lách các giới
hạn cho vay của NHNN.</span>


<center><img
src="http://danluan.org/files/u1/sub02/tumblr_m9yztrwjpl1qznvd7o1_1280.jpg"
width="600" height="776" alt="tumblr_m9yztrwjpl1qznvd7o1_1280.jpg"
/></center>
<center><a
href="http://24.media.tumblr.com/tumblr_m9yztrWjpL1qznvd7o1_1280.jpg">Bấm
vào đây để xem hình lớn hơn...</a></center>

Bởi vì công ty X sở hữu ngân hàng A mà ngân hàng A lại
sở hữu ngân hàng B nên công ty X có thể vay được ở ngân
hàng B thay vì vay trực tiếp ở ngân hàng A. Một hiện tượng
mới nữa trong các năm gần đây là việc sử dụng ủy thác
đầu tư của các ngân hang trong cơ cấu sở hữu chéo. Trên
thị trường liên ngân hàng, các ngân hàng lớn là nguồn tài
trợ thường xuyên cho các ngân hàng nhỏ hơn, đặc biệt là
các ngân hàng nhỏ thuộc sở hữu của chính các ngân hàng lớn
này. Các ngân hàng nhỏ hơn sử dụng vốn huy động được cho
các công ty ủy thác đầu tư vay như là các quỹ đầu tư, các
công ty quản lý quỹ đầu tư và các công ty chứng khoán. Đa
số các công ty này lại thuộc sở hữu của các ngân hàng.
Phần lớn nguồn vốn này được đưa vào thị trường bất
động sản và thị trường chứng khoán, bao gồm cả các loại
hình giao dịch phái sinh. Việc sụt giảm giá trên các thị
trường này đã và đang tạo nên những khoản đầu tư thua lỗ
đáng kể và những khoản nợ xấu có thể là rất lớn nhưng
khó định lượng chính xác ở các ngân hàng. Bằng chứng rõ
ràng về vấn đề này mới chỉ được thể hiện một cách
tập trung trong một vài ngân hàng nhỏ.

<a
href="http://ub.com.vn/threads/21506-Ma-tran-ve-so-huu-cheo-khu-vuc-ngan-hang-Viet-Nam.html">Vfpress/VELP</a>

<center>________________________</center>

<h2>Rủi ro tiềm ẩn từ sở hữu chéo ngân hàng</h2>

Hiện nay, nhiều ngân hàng đang gặp khó khăn và giá cổ phiếu
rất thấp. Đây là điều kiện thuận lợi cho "mạng nhện"
sở hữu chồng chéo giữa các ngân hàng tiếp tục lan tỏa.

<h2>Lách luật bằng "mạng nhện"</h2>

Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định một cổ đông
cá nhân không được sở hữu quá 5% và một tổ chức không
quá 15% vốn điều lệ của tổ chức tín dụng, trước đó tỷ
lệ này lần lượt là 10% và 20%. Tại Thông tư 13/2010/TT-NHNN,
quy định "Tổng mức góp vốn, mua cổ phần của tổ chức
tín dụng và các công ty con, công ty liên doanh, công ty liên kết
của tổ chức tín dụng trong cùng một doanh nghiệp, quỹ đầu
tư, dự án đầu tư, tổ chức tín dụng khác không được
vượt quá 11% vốn điều lệ của doanh nghiệp, quỹ đầu tư,
dự án đầu tư, tổ chức tín dụng khác đó".

Sở dĩ Luật các tổ chức tín dụng và thông tư quy định
giảm tỷ lệ sở hữu cá nhân và tổ chức xuống là nhằm làm
cho ngân hàng có tính đại chúng hơn. Ngoài ra, các nhà quản lý
lo ngại sự mất an toàn của hệ thống do tình trạng sở hữu
chéo hoặc khi một cá nhân hoặc tổ chức sở hữu tỷ lệ
lớn có thể lũng đoạn ngân hàng.

Tuy nhiên, thực tế những người muốn sở hữu tỷ lệ lớn
hơn quy định không khó. Người chủ sở hữu thực sự có thể
không cần đứng tên mà vẫn chi phối ngân hàng thông qua một
người thứ ba. Bên cạnh đó, tình trạng đầu tư "lòng
vòng" giữa các ngân hàng với nhau tạo thành một "mạng
nhện" cũng khá phổ biến. Chẳng hạn một ngân hàng A nào
đó đầu tư vào ngân hàng B, B đầu tư cho ngân hàng C, rồi C
lại đầu tư vào A. Việc đầu tư chéo này có thể công khai
trên sổ sách nhưng cũng có thể là không.

Thực tế, việc tìm thông tin về các tổ chức tín dụng mua
cổ phần của các tổ chức tín dụng khác là điều hết sức
khó. Rất ít ngân hàng công khai tỷ lệ đầu tư vào các tổ
chức tín dụng khác. Những trường hợp công bố chính thức
như Vietcombank, Vietinbank không nhiều. Không những vậy, những
con số cũng có thể chưa phản ánh hết thực tế việc sở
hữu giữa các ngân hàng.

Thuyết minh báo cáo tài chính của ACB cho thấy số tiền đầu
tư vào tổ chức tín dụng khác của ngân hàng này lên tới 950
tỉ đồng, tuy nhiên không ghi rõ đây là những tổ chức nào.
Ngoài ra, ACB còn có số tiền đầu tư dài hạn là 3.144 tỉ
nhưng không cho biết có bao nhiêu tiền đầu tư vào các tổ
chức tín dụng. Có lần một lãnh đạo cao cấp của ACB tuyên
bố là "cổ đông chính của Eximbank" song số liệu chính
thức được biết đến thì ACB chỉ sở hữu 1,04% vốn điều
lệ của Eximbank. Ngoài ra, trong giới tài chính còn cho rằng ACB
đang nắm một lượng khá lớn cổ phần các ngân hàng khác như
Đại Á, Việt Á, Kiên Long, Sacombank, Techcombank...

Năm 2010, vốn điều lệ của Ngân hàng Phương Nam chỉ khoảng
2.500 tỉ đồng, nhưng có con số đầu tư vào tổ chức tín
dụng khác đến thời điểm 31-12-2010 lên tới 595,63 tỉ đồng
(theo thuyết minh báo cáo tài chính 2010). Tuy nhiên, không có chi
tiết là Phương Nam đang đầu tư vào những tổ chức tín dụng
nào.

Như vậy, giữa quy định trong luật và thực tế là một
khoảng cách khá xa. Dù có bị giới hạn về tỷ lệ sở hữu
thì cá nhân và tổ chức tín dụng vẫn có trăm ngàn cách để
lách.

<h2>Những rủi ro từ việc sở hữu chéo</h2>

Giữa năm 2010, ước tính số vốn để các ngân hàng tăng vốn
điều lệ lên mức tối thiểu 3.000 tỉ đồng theo quy định
của pháp luật vào khoảng hơn 30.000 tỉ đồng. Bất chấp sự
khó khăn của thị trường tài chính, cuối cùng tất cả các
ngân hàng cũng đạt được mục tiêu. Tuy nhiên, nhiều chuyên
gia đánh giá số vốn này "không thực chất" do các ngân
hàng sở hữu chéo lẫn nhau hoặc các "ông chủ" dùng tiền
vay để tăng vốn. Hệ quả là vốn điều lệ và vốn chủ sở
hữu của toàn hệ thống tăng mạnh nhưng vốn thực góp lại
không tăng tương ứng. Điều này đồng nghĩa với các hệ số
đo lường độ an toàn của các ngân hàng như CAR, vốn chủ sở
hữu/tổng tài sản... không còn chính xác.

Bên cạnh đó, một rủi ro cần được tính đến là tình
trạng cho vay thiếu kiểm soát có thể tăng mạnh. Chẳng hạn
khi một tổ chức tín dụng lớn chiếm cổ phần chi phối ngân
hàng khác và biến ngân hàng này thành "sân sau" của mình,
họ có thể buộc ngân hàng bị chi phối cấp tín dụng cho
những dự án rủi ro hoặc cho doanh nghiệp có quan hệ thân
thiết. Ngoài ra, không loại trừ trường hợp lãnh đạo của
ngân hàng chi phối lạm dụng quyền lực buộc ngân hàng mà
mình có thể chi phối cấp tín dụng để phục vụ lợi ích cá
nhân.

Một rủi ro khá lớn khác là khi các ngân hàng hình thành một
"mạng nhện" thì sẽ nảy sinh độc quyền nhóm. Liên minh
ngân hàng này có thể đủ sức mạnh để chi phối lãi suất,
tỷ giá và kể cả chính sách. Điều này có thể gây xáo trộn
trên thị trường và thiệt hại cho nền kinh tế.

Tuy nhiên ở một góc nhìn khác, công bằng mà nói, những ngân
hàng nhỏ cũng được hưởng lợi khi ngân hàng lớn đầu tư
vào, tuy nhiên trong những trường hợp như vậy cần phải có
quy định, giám sát chặt chẽ, minh bạch thông tin để hạn
chế những tiêu cực phát sinh.


<a
href="http://www.tin247.com/rui_ro_tiem_an_tu_so_huu_cheo_ngan_hang-3-21916964.html">(theo
Thời báo Kinh tế Sài Gòn)</a>

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/14240), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét