Thụy Khuê - Cuộc chiến Việt-Trung trong "Xe lên xe xuống" của Nguyễn Bình Phương

<center><img src="http://danluan.org/files/u1/sub02/canh.jpg" width="344"
height="257" alt="canh.jpg" /></center>
<center><em>Bìa tiểu thuyết Xe lên xe xuống của Nguyễn Bình
Phương (Ảnh Người Việt)</em></center>

Trong tiểu thuyết Người đi vắng, Nguyễn Bình Phương kể
chuyện một đứa nhỏ mỗi lần nghe thấy tiếng rao của ông
thiến lợn là nó hoảng sợ, hai chân chụm lại giấu chim,
nhắm mắt tự hỏi: ai là người đẻ ra những ông thiến lợn?
Một giọng ôn tồn bảo: khi người ta tìm ra mẹ của kẻ thù
thì kẻ thù mất sức mạnh. Câu nói bí ẩn, dĩ nhiên thằng
nhỏ chẳng hiểu gì, bởi đó là bí quyết tồn tại của nhà
văn trong một xã hội niêm phong: muốn yên thân thì chớ có loay
hoay điều tra ai là mẹ của những ông thiến lợn. Tìm đến
cội rễ của ung thư, đào mả các đại trùng hiển nhiên là
hiểm nguy có thể kề tính mệnh.

Tiểu thuyết <em><strong>Xe lên xe xuống</strong></em> (*) của
Nguyễn Bình Phương (do Diễn Đàn Thế Kỷ phát hành, địa
chỉ: diendantheky.net) dẫn ta vào cái xã hội niêm phong đó,
đường đi hiểm trở như đường vào hang Văn Dú, nhưng Thế
Lữ có hai người Thổ dẫn đường. Lối vào tác phẩm mới
nhất của Bình Phương cũng kỳ quặc huyễn hoặc trong trận
đồ bát quái, là một thử thách cho những kẻ mạo hiểm, dù
lọt được vào vẫn có khả năng bị tẩu hoả nhập ma bởi
những phù phép yểm trong chữ nghĩa, để ám kẻ nào tìm ra
rường mối của chiến tranh, rường mối của bạo lực,
rường mối của một xã hội mà con người đã bị thiến tư
tưởng.
Xe lên xe xuống là một cạm bẫy kiểu Vàng và Máu như thế
trên mạn ngược, ở Việt Bắc, biên giới Việt-Hoa.

Chìa khoá mở vào không gian niêm phong này nằm trong mấy trang
đầu, nếu tìm thấy mã số của chữ nghiã, bạn có thể đi
suốt tác phẩm, bởi Bình Phương là một đạo diễn rất hiện
đại (hoặc nói theo thời thượng: rất hậu hiện đại), cho
máy quay hai kịch bản song song rồi chiếu cùng một lúc lên màn
ảnh. Nội dung hai kịch bản này cũng lại bị cắt thành từng
khúc, những mẩu đời đứt đoạn, những suy tư chặt đôi,
đảo lộn trật tự, chắp lại thành một chuỗi liên tục
những sự kiện không liên tục, hệt như con đường mòn nổi
tiếng ở miền Trung đã bị bom đạn phá tan nát, được đắp
bằng những mảnh xác không tên, và nó tồn tại như một lịch
sử vĩ đại anh hùng. Bình Phương dẫn ta vào những trang sử
anh hùng ấy, nhưng không đi xe ca máy lạnh trên đại lộ như du
khách ngoại quốc, Việt kiều, mà đi chân đất xuống địa
đạo, xuyên vào lớp xi măng và các chất liệu đã được
nghiền nát trộn trạo để làm đường, xem trong có gì. Sau
một chuyến đi như vậy, không ai có thể toàn vẹn.

Sự thực là hai chuyến đi, được kể bằng hai thoại của hai
anh em đã chết. Thoại một, của người em, chia làm hai trường
đoạn: phần in nghiêng, xẩy ra sau khi chết. Phần in đứng,
xẩy ra trước khi chết. Thoại hai, của người anh, sau trận
Tám Tư,bị điên và chết thuật lại cho em về các trận đánh
trong nhật ký. Hai thoại cũng là hai chuyến đi: một về tương
lai và một về quá khứ, cùng phát xuất ở đỉnh Tà Vần, mồ
chôn hai anh em và cũng là mộ phần của tất cả những đỉnh
cao loài người, bởi đỉnh đi cùng với vực như Mai Thảo đã
kinh qua trong bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời.

Tiểu thuyết bắt đầu bằng những dòng in nghiêng, trên chiếc
xe gồm có một phụ nữ tên Trang, một người lái xe và "đám
người mặt lạnh đanh". Đám mặt lạnh đanh này chính xác có
ba: một người cầm bộ đàm, một người cao lớn và một
người thấp bé; lái xe chính xác là phó công an tỉnh. Đó là
những kẻ thực thụ hiện diện, những kẻ đang sống, đang
cầm cân "công lý".

Trong xe còn chở một thế giới thứ nhì, thế giới những
người đã chết, đại diện là kẻ xưng mình (sau sẽ biết
tên là Hiếu), là người kể chuyện, là bồ của Trang, hắn có
người anh là lính đánh nhau với Tàu trong hai trận Bẩy Chín,
Tám Tư, chết vì điên loạn. Câu chuyện hắn kể rút trong
nhật ký của người anh.

Nguyễn Bình Phương nén các dữ kiện trong một số chữ tối
thiểu giống như cái máy ép rác: nếu ta bỏ vào đó lổn nhổn
tất cả rác rưởi cuộc đời thải ra hàng ngày, nó chỉ ép
một phút là dẹp cứng thành vài mi-li-mét. Vậy chỉ cần đọc
vài dòng Xe lên xe xuống thì mọi sự sẽ được bình phương
lên thành vài chục trang tiểu thuyết.

Lời kể của mình nhân vật chính trong truyện, đi cùng với
lời kể của anh, anh ruột mình và lời nhiều nhân vật khác:
như lời cậu, cậu ruột của mình; lời hắn, bạn học cũ và
guide dẫn mình đến Tà Vần, lãnh địa bí mật, cạm bẫy
cuộc chiến Bẩy Chín của ta với khựa (Tàu) và cũng là hãm
địa con người trong thời điểm cú vọ hôm nay... Lối viết
này, thuật ngữ phê bình gọi là đa âm.

Lời của những kẻ không tên cất lên về những nhân vật
thần kỳ của các đội ngũ anh hùng, thổ phỉ; về những
cuộc săn (người) đêm trên đỉnh Lũng Tẩu; về những vụ
bán cao bành trướng ăn vào người phình lên như quả bóng; về
vụ bà phó chủ tịch huyện anh hùng Tám Tư ăn thịt người
chết để mong trẻ mãi; về hai cuộc chiến Bẩy Chín, Tám Tư
giữa hai nước anh em hữu nghị -nuốt chửng không biết bao
nhiêu nhân mạng- đã bị lịch sử chôn sống, không ma chay,
không bát âm, không điếu văn, không giỗ chạp.

Những kẻ không tên được chỉ định bằng những: mình, anh,
cậu, chú, hắn... (riêng mình, nếu để ý lắm, mới nghe thấy
có người gọi là Hiếu) bên cạnh mấy người có tên như
Trang, Thu, Hằng, Vân Ly, ... tạo ra một thế giới mà người
nữ hình như có chút ưu đãi, nghiã là có tên; họ có chút
địa vị cá nhân hơn người nam chăng? Chưa chắc, bởi những
người có tên như bọn thằng Quých, thằng Hiệp, thằng
Thuỷ... cũng chỉ là bọn tép riu, tòng phạm, hoặc chết lãng
nhách như thằng Quých, hoặc chết oan như Vân Ly. Tóm lại đàn
bà con gái trong cái xã hội này cũng chỉ là cây kiểng, tên
để trưng; thực sự nữ cũng như nam, không ai có một địa
vị cá nhân nào.

Sự các nhân vật không có tên, có phải là do trường phái
tiểu thuyết mới của Alain Robbe-Grillet chăng? Tôi đồ rằng
không. Ở đây không hề có cái lo lắng cách tân cách điệu,
trường môn, trường phái gì cả, mà chỉ là để thể hiện
một xã hội tập thể, con người đã mất hết danh vị cá
nhân, đã thuần thục trong đời sống đội ngũ như: đội ngũ
nhà văn, đội ngũ giáo sư, đội ngũ thổ phỉ, đội ngũ bác
sĩ, đội ngũ công an, đội ngũ ma tuý, đội ngũ buôn lậu,...
tất cả đều đã được phân loại rõ ràng. Tính chất binh
bị thấm vào ngôn ngữ, phản ánh toàn bộ tổ chức xã hội
mà chiến tranh là lẽ sống, mà cá nhân con người đã trở
thành phi danh tánh, như con giun con dế, một mặt nó giúp cho
những anh, những mình, những hắn kia, khó bị lộ diện trong
những trận phục kích hay buôn lậu; một mặt, nó giúp cho đám
người có phận sự rượt bắt họ không bị lộ danh tánh hình
tích. Xã hội, trở thành nặc danh, thả dàn cho những tội ác,
ở cả bên này và bên kia công lý.

Với bút pháp trinh thám đầy mật mã, tác giả thám hiểm
nhiều cuộc đời, nhiều lớp thời gian, trùng lấp, chồng
chất lên nhau, vẽ nên nhiều chân dung độc đáo trong cảnh
kháng chiến đánh phỉ, cảnh chiến tranh Bẩy Chín-Tám Tư,
cảnh làm tình, cảnh thanh toán, buôn lậu, ma tuý, cảnh lùng
bắt, cú vọ... Nhiều mặt trận, nhiều thực tại được giấu
sâu trong lòng đất, ở những địa đạo, dưới những nấm
mồ, không ai dám nhắc đến trong "sử sách" vì tính chất "tiêu
cực" của nó. Qua những mật mã, chúng đội mồ hiện lên như
những bóng ma người người lớp lớp lũ lượt chồng chéo lên
nhau như một định mệnh, một nhân quả về tội ác, không
phân biệt ranh giới âm dương.

Tác phẩm là thiên điều tra về tội ác và trừng phạt, tìm
đến mẹ của bạo lực để giải mã tại sao dân tộc ta đạt
"kết quả" như ngày nay: Bạo lực cổ đại từ thời Lý
Thường Kiệt hạ thành Ung Châu (tháng 1/1075), sắp đầu người
thành đống, mỗi đống 100 đầu, cả thảy 580 đống. Bạo
lực trung đại với Tây Sơn-Nguyễn Ánh. Bạo lực kháng chiến
với Thổ Phỉ-Cách Mạng. Bạo lực hiện đại với Bẩy
Chín-Tám Tư. Bạo lực hậu hiện đại với Ma Tuý-Buôn
lậu-Sex, trong một xã hội tập thể, mà mỗi người đều có
ám vọng muốn nhìn xem bên trong của kẻ khác chứa những gì.

Bạo lực nguyên thuỷ được trình bầy qua động tác chặt;
dụng cụ thớt; sản phẩm đầu người.

"Phỉ nó chặt...

Mình nghĩ nếu xét thuần về mặt hành động thì phỉ là loại
chạm tới cái cốt lõi nhất, tiêu biểu nhất của con người.
Vì phỉ hay dùng hình thức chặt, thứ hình thức mang lại khoái
cảm và uy quyền. Phỉ chặt đầu, chặt tay, chặt chân, chặt
ngang người. Các loài khác không biết chặt, chỉ cắn, xé,
móc. Giết một con gà mà không vang lên tiếng chặt nào thì
chỉ là giết một con giun. Vào quán thịt chó mà không nghe
tiếng chặt côm cốp thì dứt khoát chỉ có cảm giác ăn đậu
phụ. Tiếng chặt tạo ra sự hưng phấn ghê ghớm. Dọc theo
lịch sử dằng dặc của đường biên này luôn luôn là những
tiếng băm chặt nhau chí chát. Khi triệt hạ thành Ung Châu, Lý
Thường Kiệt đã cho chặt đầu tất cả những kẻ trong thành
rồi xếp thành năm trăm tám mươi đống, mỗi đống một trăm
cái đầu. Tiếng chặt đầu côm cốp của Thái uý vẫn còn làm
cho họ run rẩy, đau đớn đến tận bây giờ. Năm một tám tám
sáu, khi phái đoàn phân định biên giới Hoa-Pháp bắt tay vào
việc, toàn bộ gia quyến của viên quan được triều đình
Nguyễn bổ nhiệm để cai quản và thu thuế vùng Bạch Long đã
bị phỉ giết chết, hàng chục sinh mạng, không phân biệt trẻ
con, người già, đều bị chặt nhỏ (...) Phỉ đặt người ta
lên phiến đá và nhẩn nha chặt như chặt thịt lợn. Có
người bị chặt đứt phăng hai tay, hai chân mà vẫn còn sống,
mồm miệng loe máu kêu gào. Mình nhớ không nhầm thì chùa Trăm
tháp ở Bình Định còn giữ lại tảng đá lớn mà Nguyễn Ánh
dùng làm thớt chặt hàng nghìn người thuộc phe Tây Sơn thất
trận. Tất nhiên, Nguyễn Ánh làm thế vì trước đó ông ta đã
chứng kiến tận mắt cảnh bố mình bị anh em nhà Tậy Sơn
chặt đôi người".

Có lần Trùm phỉ Chu Chồ Sền bảo Chu Văn Tấn: "Chúng mày vì
nghèo khổ mà đi làm cách mạng. Chúng tao vì nghèo khổ mà đi
ăn cướp. Thế là giống nhau".

Ông ngoại của mình cũng là trùm phỉ. Vậy Phỉ là người
Việt nguyên thủy nhất, thành thật nhất, có gì nói thẳng,
chưa hề biết giữ mồm giữ miệng, chưa hề biết các sự
nhạy cảm, chưa hề biết phân biệt tiêu cực và tích cực.

Văn hoá chặt nằm trong văn hoá ẩm thực của ta từ thời nào,
những nhà nghiên cứu nên chú ý khai quật, có điều chắc
chắn đó là văn hoá phỉ, là cỗi rễ Việt được phỉ giữ
lại và bảo tồn đến chết. Đó cũng là yếu tố đặc thù
của dân Việt (ta học được của Tàu rồi Việt hoá đi như
tất cả những thứ khác) bởi vì cơm Tây, cơm Mỹ chẳng có
món nào chặt như món gà luộc hay thịt chó của người mình.

Khi Lỗ Tấn nói người Trung Hoa ăn thịt người, thiên hạ đã
rần rần phản đối, có thể vì cái vụ đó mà Lỗ Tấn một
dạo cũng bị đem vào tủ lạnh, may nhờ lý lịch A.Q xuất thân
bần cố, đã cứu và đưa Lỗ trở lại văn đàn như một
chiến sĩ vô sản trăm phần trăm.

Nguyễn sinh sau đẻ muộn mà lại có mòi thâm thúy hơn Lỗ:
không ăn nói hồ đồ, vô bằng chứng, mà lấy ngón trỏ chỉ
thẳng vào mâm cơm bảo đấy cái dân tộc tính của mình đấy:
rặt các món chém chặt. Đố ai chối được.

Từ nguồn văn hóa chém chặt, sinh ra bọn trẻ ngày nay, không
chặt mà đốt như Trang, Quých, Hiệp... Và mình bề ngoài có
vẻ hiền lành, bên trong hồn nhiên là trùm phỉ hậu hiện
đại.

Nếu bạo lực cổ điển có danh nghiã tốt đẹp bảo vệ xứ
sở, thống nhất đất nước, những chân lý tuyệt đối không
ai cãi được, thì bây giờ bọn trẻ không thèm đếm xỉa
đến những khẩu hiệu lẩm cẩm quá đát ấy nữa, bạo lực
hậu hiện đại coi việc đốt người như chuyện vặt, như
uống coca, như làm tình, và dường như họ cũng không ý thức
được tay mình có máu, bởi có chém chặt gì đâu, chỉ cần
bình xăng và một que diêm là xong trong nháy mắt, tay không bẩn,
quần áo vẫn lượt là láng coóng.

Hai chuyến đi song song diễn ra trước mắt người đọc, như hai
cuộc vận chuyển thời gian ngược chiều, như hai thời đại
gặp nhau ở đỉnh Tà Vần, trong cùng một huyệt tại vùng
địa đầu biên giới có cái tên huyền thoại Việt Bắc.

Bọn trẻ đã hiểu: làm gì có lý tưởng, làm gì có tình hữu
nghị anh em, cậu ơi, làm chó gì có sự tử tế giữa hai quốc
gia, toàn thổ phỉ cả, mà trần trụi chỉ là chém và chặt,
là ác giả ác báo, là hận thù xuyên nòi giống, là sự rình
rập, giam hãm, giăng bẫy, báo thù. Từ một quá khứ hiển vinh
như thế làm gì chúng không can trường phóng xe vào ma tuý, sex
và tội ác. Từ đời cha đến đời con, tất cả đều đã
nhập tiệc thịt người, bà phó chủ tịch xã nói: nếu ăn
thịt người chết thì sẽ trẻ mải mãi. Bà là vị nữ anh
hùng trong cuộc chiến với khựa.

Những đám mây ngũ sắc giống chiếc nơm úp thẳng xuống bí
mật phong toả, càng làm nặng ký chính sách niêm phong, cấm
địa, chôn vùi lịch sử, dìm tội ác xuống vùng sâu, để
tạo một huyền thoại anh hùng không bao giờ hiện hữu.

Trong suốt cuộc hành hương của mình, Hiếu luôn luôn tìm cách
chụp hình những đám mây với ảo giác chụp được nội dung
và hình thức sự phong toả con người.

Trong suốt hành trình ngược chiều quá khứ và phóng về tương
lai, Hiếu gặp toàn một loạt cỏ cây, đồi núi, con người,
đã bị các vết chém chặt bằm nát.

Núi Bạc tốn máu như núi Đất. Pháo của họ đã nã nát nhừ
ngọn núi không lấy gì làm cao ấy, đào xới tung nó lên đến
cả nửa ngày trời, sau đó mới cho bộ binh dùng súng phun lửa
và hơi cay lao lên. Núi bạc không có những trận giáp lá cà
kinh hoàng đến mức những ai còn sống sót sau trận ấy, dù ta
hay họ đều hoá điên như ở Núi Đất, nhưng lại đầy rẫy
những huyền thoại về các linh hồn.

Sông ngòi cũng một mầu: Sông Nho Quế lại đỏ, sông Bằng
đỏ máu... Từ anh hùng đến thổ phỉ, từ ta đến Tàu, ở hai
bờ sông chia ranh, cùng một tiếng gọi đòi thủ cấp.

Cách đây hơn 20 năm, Bảo Ninh mô tả chiến tranh như một bộ
máy nghiền nát tất cả, trừ tình yêu.

Nguyễn Bình Phương tiến thêm một bậc: chiến tranh nghiền nát
cả tình yêu chỉ để lại tội ác, không cho con người một hy
vọng nào. Bình Phương chiếu ống kính vào tội ác của một
dân tộc được giáo huấn thường trực trong các bài học
chiến thắng và anh hùng, mà bản chất sâu xa chỉ là thổ
phỉ. Chiếu vào hậu quả của các chiến thắng từ thời Lý,
thời Tây Sơn-Gia Long, đến thời Cách Mạng-Thổ Phỉ, cuộc
chiến Việt-Trung... Văn hoá chặt đã thấm vào máu, nằm trong
mâm cơm: dân ta mải chặt mà quên sống. Vùng đất biên giới
anh hùng nằm trên những xác người, chỉ tạo nên những hệ
gia đình thui chột như gia đình Hiếu: Ông ngoại trùm phỉ bị
chặt đầu; mẹ buôn lậu vào tù; chú ngớ ngẩn; anh chiến sĩ
đánh Tàu, chết vì điên, bị chuột gặm mắt và hai cánh mũi;
em trùm phỉ hiện đại, bị phục kích chết ở đỉnh Tà
Vần...

Sự giáo dục chiến thắng chỉ tạo nên những thánh, nhưng
"không một bà mẹ nào muốn con là thánh".Nền tảng đầu tiên
của con người là gia đình đã bị hủy diệt. Hệ thống mây
ngũ sắc chụp lên toàn lãnh thổ, khiến con người không thoát
ra được vòng phong toả để tìm đến một chân trời mới.
Thế hệ thanh niên, ngụp lặn trong vùng đất thánh, gây tội
ác, bị rình rập, chạy lên đỉnh, bị sập lưới, đẩy
xuống vực sâu. Họ chưa từng ý thức được thế nào là tội
ác, trước khi lìa đời.

(*) Sách do Diễn Đàn Thế Kỷ xuất bản tháng 12, 2011, giá 20
mỹ kim. Liên lạc với nhà xuất bản: (714) 839-8746 hoặc:
phamxuandai@yahoo.com. Có bán tại các hiệu sách vùng Little Saigon.
Mua sách qua bưu điện: Trong nước Mỹ, xin gửi chi phiếu hoặc
bưu phiếu $22, ngoài nước Mỹ, xin gửi $25 / một cuốn. Đề
tên người nhận YEN TRAN, Diễn Đàn Thế Kỷ, 9702 Bolsa Ave #112,
Westminster CA 92683 - USA


***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/12884), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét