Nguyễn Thái Linh - Tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa và luật pháp quốc tế (Kỳ II)

<div class="boxleft200"><img
src="http://tiasang.com.vn/DesktopModules/VietTotal.Articles/ImageHandlerLarge.ashx?width=250&height=186&HomeDirectory=%2fPortals%2f0%2fVietTotal.Articles%2fChinhtrixahoi%2f&fileName=ditichdoihungbinh.jpg&portalid=0&i=4395&q=1"
/><div class="textholder">Tượng đài Hải đội Hoàng Sa kiêm quản
Trường Sa trên đảo Lý Sơn, mô tả hình ảnh các binh phu trong
tư thế lên đường thực thi nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền
lãnh hải của Tổ quốc.</div></div>
<strong>Do Trung Quốc và Đài Loan sử dụng các luận cứ tương
tự cho yêu sách của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa, chúng tôi sẽ trình bày chung các luận cứ này trong
phần dưới đây.</strong>

<h2>II. Luận thuyết của Trung Quốc và Đài Loan</h2>

<strong>1. Luận thuyết của Trung Quốc dựa trên quyền phát
hiện đầu tiên và chiếm cứ hữu hiệu đối với lãnh thổ
vô chủ (terra nullius)</strong>

Trung Quốc khẳng định họ đã phát hiện ra các quần đảo
sớm nhất, từ thời Hán Vũ Đế (thế kỷ II trước CN)
<em>(1)</em>. Tuy nhiên, để chứng minh cho luận cứ này, Trung
Quốc đưa ra các tài liệu không phải là chính sử được
viết bởi các cơ quan nhà nước. Theo Nguyễn Hồng Thao,
<em>"phần lớn chúng là những ghi chép về các chuyến đi, các
chuyên khảo và các sách hàng hải thể hiện những nhận biết
địa lý của người xưa liên quan không chỉ tới lãnh thổ
Trung Quốc mà còn tới lãnh thổ của các nước khác."
</em><em>(2)</em> Hơn nữa, phần lớn các tài liệu nói đến các
quần đảo với những tên gọi rất khác nhau, làm cho mọi xác
minh không được chắc chắn. <em>(3)</em>

Mặt khác, tác giả Phạm Hoàng Quân cho biết, theo Cổ kim
đồ thư tập thành, bộ bách khoa toàn thư do Thanh triều tổ
chức biên soạn, hoàn thành năm 1706, trong phần Chức Phương
điển (sách điển chế về địa đồ các đơn vị hành chính),
các địa đồ như Chức Phương tổng bộ đồ (địa đồ số
1), Quảng Đông cương vực đồ (địa đồ số 157), Quỳnh Châu
phủ cương vực đồ (địa đồ số 167) đều không ghi nhận
các quần đảo xa hơn đảo Hải Nam ngày nay. Theo Quảng Đông
thông chí vẽ đời Gia Tĩnh (1522-1566) thì phần hải đảo cũng
chỉ đến Quỳnh Châu (tức Hải Nam). <em>(4)</em>

Trung Quốc cũng sử dụng những bằng chứng về khảo cổ
và việc tìm thấy vết tích tiền và đồ cổ từ thời Vương
Mạng để khẳng định sự có mặt của ngư dân Trung Quốc
trên các quần đảo. Tuy nhiên, các hoạt động khai thác của
ngư dân Trung Quốc là các hoạt động tư nhân, không mang lại
hiệu lực pháp lý của quyền chiếm cứ hiệu quả mà luật
quốc tế đòi hỏi.

Để chứng minh việc thực thi chủ quyền trên các quần
đảo từ lâu đời, Trung Quốc đưa ra các sự kiện sau:

- Các cuộc tuần tra quân sự đến vùng biển quần đảo Hoàng
Sa từ thời nhà Tống (960-1127). Khẳng định này dựa trên cơ
sở <em>Vũ Kinh tổng yếu</em> (chương trình chung về quân sự
có lời đề tựa của vua Tống Nhân Tông). <em>(5)</em> Theo
Monique Chemillier-Gendreau, tài liệu này chỉ cho thấy có các đó
là các hành trình thăm dò địa lý tới tận Ấn Đô Dương, và
xác nhận Trung Quốc có biết đến quần đảo Hoàng Sa nhưng
không minh chứng một sự chiếm hữu nào.

- Vào thế kỷ XIII, Hoàng đế nhà Nguyên ra lệnh cho nhà thiên
văn học Quách Từ Kính thực hiện các quan trắc thiên văn,
trong đó có một số quan trắc từ Hoàng Sa. Tuy nhiên, các quan
trắc này được thực hiện một phần trong lãnh thổ Trung
Quốc, một phần ngoài lãnh thổ, mang tính chất nghiên cứu khoa
học, không đủ để tạo nên danh nghĩa chủ quyền.

- Vào khoảng các năm 1710-1712, phó tướng thủy quân Quảng
Đông là Ngô Thăng đã thực hiện một cuộc tuần biển đến
Hoàng Sa. Tuy nhiên, theo Monique Chemillier-Gendreau, xem xét trên bản
đồ thì lộ trình đi tuần chỉ là một con đường vòng quanh
đảo Hải Nam chứ không phải là quần đảo Hoàng Sa.

- Năm 1883, khi tàu của Đức thực hiện nghiên cứu khoa học
tại quần đảo Trường Sa, chính quyền Quảng Đông đã phản
đối. Nhưng khi danh nghĩa của một nhà nước chưa được xác
lập vững chắc và lâu dài, việc phản đối này chỉ mang tính
chất ngoại giao và không có giá trị pháp lý. <em>(6)</em>

Các bằng chứng lịch sử của Trung Quốc về quyền phát
hiện và chiếm cứ hiệu quả hai quần đảo rõ ràng là rất
ít ỏi, không vững chắc và không đáp ứng được đầy đủ
các điều kiện của luật quốc tế. <em>"Chúng không chứng
minh được một sự chiếm cứ thông thường, một sự quản lý
hành chính hữu hiệu sự kiểm soát chủ quyền"</em>. <em>(7)
</em>

Cân nhắc các luận cứ lịch sử của Việt Nam và Trung
Quốc về quyền phát hiện đầu tiên và chiếm cứ hiệu quả,
giáo sư người Pháp Yves Lacoste cho rằng: <em>"dù sao đi nữa,
luận cứ của Việt Nam cũng mạnh mẽ hơn luận cứ của Trung
Quốc." (8)</em>

<strong>2. Các luận cứ của Trung Quốc trong thời kỳ từ đầu
thế kỷ XX đến 1945</strong>

Đầu thế kỷ XX, Trung Quốc mới thực sự quan tâm và có
những nỗ lực đầu tiên để chiếm cứ quần đảo Hoàng Sa.
Vào năm 1909, đô đốc Trung Quốc là Lý Chuẩn thực hiện một
cuộc đổ bộ nhỏ (trong 24 giờ) lên quần đảo này. Họ kéo
cờ và bắn súng để biểu thị chủ quyền của Trung Quốc.
<em>(9)</em> (Sự kiện này cho thấy sự mâu thuẫn trong lập
luận của Trung Quốc. Nếu quần đảo Hoàng Sa đã được Trung
Quốc chiếm cứ thực sự từ lâu đời, thì tại sao phái đoàn
của Lý Chuẩn lại không biết điều này và hành xử như thể
lần đầu tiên phát hiện ra quần đảo?). Nước Pháp đại
diện cho An Nam không có phản ứng gì trước cuộc đổ bộ này
vì họ cho rằng đó chỉ là một nghi thức hải quân nhân dịp
chuyến thám sát. <em>(10)</em>

Năm 1921, chính quyền dân sự Quảng Đông sát nhập hành
chính các đảo Hoàng Sa vào Nhai huyện. Sự kiện này không gây
ra phản ứng gì của các nước vì khi đó chính quyền Quảng
Đông không được cả chính phủ trung ương Trung Quốc lẫn các
cường quốc công nhận.

Năm 1937, trước sự phản đối của Pháp, Nhật chiếm các
đảo <em>"nằm ngoài khơi Đông Dương"</em>, đổi tên thành
Shinnan Gunto (Tân Nam Quần Đảo) và đặt chúng dưới quyền tài
phán của Cao Hùng (Đài Loan).

Trong suốt thời gian Thế chiến II, các quần đảo bị Nhật
chiếm đóng.

Như vậy, cho đến khi Thế chiến II kết thúc vào năm 1945,
ngoài nỗ lực ban đầu trong việc biểu thị chủ quyền ở
quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc vẫn không thể hiện được
một sự chiếm cứ thực sự, liên tục hay sự quản lý hành
chính hiệu quả trên các đảo. Đối với quần đảo Trường
Sa, Trung Quốc hoàn toàn không hề có một ảnh hưởng nào.

<strong>3. Thời kỳ sau 1945</strong>

Sau khi đầu hàng vào năm 1945, Nhật Bản rút khỏi Đông
Dương và các quần đảo. Sau khi Pháp khôi phục lại sự có
mặt của mình tại Hoàng Sa vào tháng 6.1946, quân đội Trung Hoa
Dân Quốc đổ bộ lên đảo Phú Lâm (quần đảo Hoàng Sa) vào
tháng 1.1947. Pháp lập tức phản đối việc chiếm hữu trái
phép này của Trung Quốc và cử một phân đội ra quần đảo
Hoàng Sa, lập đồn binh và xây trạm khí tượng. Các trạm khí
tượng này hoạt động trong suốt 26 năm cho đến khi Cộng hòa
Nhân dân Trung Hoa chiếm đóng quân sự vào năm 1974.

Cuối năm 1946, Trung Hoa Dân Quốc cử quân đội đến chiếm
đóng đảo Ba Bình (quần đảo Trường Sa), sau khi Pháp đặt bia
chủ quyền.

Tháng 10.1949, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời. Tháng
5.1950, Quân đội Quốc dân Đảng phải rời khỏi các đảo Phú
Lâm (quần đảo Hoàng Sa) và Ba Bình (quần đảo Trường Sa).
Các trại đồn trú của Pháp vẫn được tiếp tục duy trì ở
Hoàng Sa.

Tháng 4.1956, quân đội viễn chinh Pháp rút khỏi Đông
Dương, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đưa quân đến thay thế
các đơn vị của Pháp tại Hoàng Sa. Nhưng khi đó chính quyền
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã kín đáo cho quân đổ bộ chiếm
phần phía Đông của quần đảo Hoàng Sa (cụm An Vĩnh)
<em>(11)</em>.

Ngày 4.9.1958, Trung Quốc ra tuyên bố về hải phận 12 hải
lý, áp dụng cho cả các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngày 19.1.1974, Trung Quốc dùng vũ lực chiếm toàn bộ quần
đảo Hoàng Sa.

Đối với quần đảo Trường Sa, theo Jan Rowiński, cho đến
thời điểm này (tháng 1.1974) <em>"Trung Quốc không có khả
năng gây ảnh hưởng đối với khu vực quần đảo Trường Sa,
chứ chưa nói gì đến chuyện kiểm soát nó." (12)</em>

Tháng 2.1988, Trung Quốc gửi quân đội đến một số đảo
trên quần đảo Trường Sa. <em>(13)</em>

Tháng 3.1988, Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm 6 đảo của
Việt Nam trên quần đảo Trường Sa. Trung Quốc là quốc gia duy
nhất yêu sách chủ quyền đối với toàn bộ quần đảo
Trường Sa nhưng trên thực tế không kiểm soát bất cứ đảo
nào cho mãi đến tận năm 1988. <em>(14)</em>

Tháng 4.1988, Trung Quốc thành lập tỉnh thứ 33 bao gồm đảo
Hải Nam và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Tháng 5.1989, Trung Quốc chiếm thêm một đảo nhỏ trên quần
đảo Trường Sa. <em>(15)</em>

Tháng 2.1995, Trung Quốc chiếm đá Vành Khăn, một đảo đá
nhỏ của Philippines trên quần đảo Trường Sa.

Có thể thấy phương pháp chủ yếu của Trung Quốc là dùng
vũ lực để chiếm hữu các đảo. Tuy nhiên, theo luật quốc
tế, từ đầu thế kỷ XX việc dùng vũ lực để chinh phục
một lãnh thổ đã bị lên án và không được chấp nhận.
Nghị quyết của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc ngày 24.10.1970
cũng đã ghi rõ: <em>"Lãnh thổ của một quốc gia không thể
là đối tượng của một sự chiếm đóng quân sự, kết quả
của việc sử dụng vũ lực trái với các điều khoản của
Hiến chương Liên hợp quốc. Lãnh thổ của một quốc gia không
thể là một đối tượng thụ đắc bởi một quốc gia khác do
đe doạ sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lưc. Bất kỳ sự
thụ đắc lãnh thổ nào bằng sự đe dọa sử dụng vũ lực
hoặc sử dụng vũ lực đều là bất hợp pháp."</em> Do đó,
các hành động dùng vũ lực trái ngược với luật quốc tế
của Trung Quốc không thể mang lại danh nghĩa pháp lý cho nước
này đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

<strong>4. Các tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và giá
trị pháp lý:</strong>

- Trung Quốc luôn lập luận rằng Việt Nam đã thừa nhận chủ
quyền của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
dựa trên các tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH)
trong thời gian chiến tranh 1954-1975.

Tuy nhiên, các tuyên bố của VNDCCH có khiến cho nước Việt
Nam thống nhất sau 1975 mất chủ quyền đối với hai quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa hay không đòi hỏi những nghiên
cứu sâu hơn về luật quốc tế.

Trong bài viết ngắn này, chúng tôi sẽ trình bày tóm tắt quan
điểm của mình.

Trong thời gian chiến tranh 1954-1975 có hai quốc gia Việt Nam
đồng thời tồn tại là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) ở
miền Bắc và Việt Nam Cộng hòa (VNCH) ở miền Nam. Đây cũng
là quan điểm của nhiều luật gia quốc tế như James Crawford,
Robert Jennings, Nguyễn Quốc Định, Jules Basdevant, Paul Reuter, Louis
Henkin, Grigory Tunkin. <em>(16)</em>

Sau Hiệp ước Geneve năm 1954, dựa theo nhận thức và thực
tế quản lý của hai quốc gia, quốc gia kế thừa chủ quyền
hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là VNCH. Trên thực tế,
như đã nêu ở phần trên, VNCH đã liên tục kiểm soát, quản
lý hành chính và khẳng định chủ quyền của mình trên hai
quần đảo cho đến tận khi bị Trung Quốc dùng vũ lực đánh
chiếm quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974. Việc quản lý quần
đảo Trường Sa vẫn tiếp tục được duy trì đến thời
điểm 30.4.1975.

Công hàm của thủ tướng VNDCCH Phạm Văn Đồng ngày
14.9.1958 cũng như các tuyên bố khác của VNDCCH không ảnh
hưởng đến danh nghĩa chủ quyền mà VNCH duy trì. Các hành vi
của VNDCCH cùng lắm chỉ có thể gây ra các ràng buộc và hiệu
quả pháp lý cho chính mình mà thôi. Vậy các ràng buộc và
hiệu quả pháp lý đó có thể là gì?

Các tuyên bố của VNDCCH là hành vi đơn phương. Theo luật
quốc tế, một hành vi đơn phương hay một lời hứa cần có
những điều kiện trước khi có thể gây ra nghĩa vụ ràng
buộc. Các điều kiện chính là: a) cần xét đến bối cảnh
của hành vi tuyên bố đó; b) bên có tuyên bố cần thể hiện
rõ ràng ý chí muốn bị ràng buộc bởi tuyên bố của mình; c)
bên kiện quốc gia tuyên bố phải có hành động dựa vào tuyên
bố đó và phải chứng minh mình đã bị thiệt hại do tuyên
bố đó, hoặc quốc gia tuyên bố đã hưởng lợi từ tuyên bố
này. Ngoài ra, nhiều bản án của Tòa án Công lý Quốc tế còn
đòi hỏi các tuyên bố này phải mang tính chất liên tục và
trường kỳ. <em>(17)</em>

Có thể dễ dàng thấy rằng các tuyên bố của VNDCCH thiếu
hầu hết các điều kiện để có thể gây ra nghĩa vụ ràng
buộc. Trung Quốc không có hành động nào dựa vào tuyên bố
của VNDCCH và VNDCCH cũng không được hưởng lợi gì từ các
tuyên bố đó.

Như vậy, sau năm 1975, nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa
Việt Nam, người kế thừa hai nhà nước VNCH và VNDCCH, đã kế
thừa chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa từ VNCH cùng các tuyên bố đơn phương không mang tính chất
ràng buộc và hiệu quả pháp lý từ VNDCCH, và hoàn toàn có
đầy đủ cơ sở để khẳng định chủ quyền hợp pháp của
mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

<strong>Nguyễn Thái Linh</strong>
_____________________


<strong>Chú thích: </strong>

1. Lee G. Cordner, The Spratly Island dispute and the Law of the Sea, Ocean
Development and International Law, Washington D.C., vol.25, 1994

2. Nguyễn Hồng Thao, sđd

3. Monique Chemillier-Gendreau, sđd,

4. Phạm Hoàng Quân, "Tây Sa và Nam Sa trong sử liệu Trung
Quốc", talawas ngày 11.12.2007
(http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=11697&rb=0302 )

5. Monique Chemillier-Gendreau, sđd

6. Nguyến Hồng Thao, sđd

7. Kuang-Minh Sun, "Dawn in the South China Sea? A Relocation of the
Spratly Islands in an Everlasting Legal Storm", South African Yearbook of
International Law, University of South Africa, vol.16, 1990/91, tr.40.

8. Lacoste Yves, "Mer de Chine ou Mer de l'Asie du Sud-Est", Herodote,
Paris 1981, tr.8-13

9. Monique Chemillier-Gendreau, sđd

10. Nguyễn Hồng Thao, sđd

11. Monique Chemillier-Gendreau, sđd

12. Rowiński Jan, sđd

13. Monique Chemillier-Gendreau, sđd

14. Rowiński Jan, sđd

15. Monique Chemillier-Gendreau, sđd

16. Dương Danh Huy, sđd

17. Từ Đặng Minh Thu, <em>"Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng
są và Trường Sa"</em>, tạp chí Thời Đại Mới, số 11, tháng
7/2007.


***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/12813), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét