Hồ Chí Minh trong Hồi kí của Nguyễn Đăng Mạnh

<div class="special_quote">Trong số các tài liệu về Hồ Chí Minh,
vị lãnh tụ được cả giới giáo điều lẫn giới cấp tiến
tại Việt Nam đem ra làm bảo bối và triệt để khai thác,
nhất là vào dịp kỉ niệm sinh nhật hư cấu của ông như
những ngày này, tôi chú ý đến một chương trong cuốn hồi kí
chưa xuất bản của nhà nghiên cứu và giảng dạy văn học GS
Nguyễn Đăng Mạnh. Trong các chi tiết dựng nên chân dung Hồ
Chí Minh ở hồi kí này, tôi chú ý đến quan sát trực tiếp
của tác giả về việc ông Hồ đang vung tay hô khẩu hiệu cùng
đám đông vội rụt tay xuống khi khẩu hiệu chuyển sang tung hô
ông. Một chi tiết khác, miêu tả ấn tượng từ cuộc gặp
của tác giả với người thư kí nổi tiếng của Hồ Chí Minh,
ông Vũ Kỳ, cũng gợi cho tôi nhiều suy nghĩ hơn phần lớn
những nghiên cứu tuyên truyền hay phanh phui về cuộc đời và
sự nghiệp của nhân vật lịch sử huyền thoại này. Thế hệ
các nhà lãnh đạo để râu dài, mặc áo cánh lụa, đi guốc,
cầm quạt phe phẩy đã hoàn toàn thuộc về dĩ vãng.

Cuốn hồi kí của GS Nguyễn Đăng Mạnh lưu truyền trên mạng
từ năm 2008 được coi là bản thảo chưa có sự phê duyệt
của tác giả. Trong đoạn trích sau đây, tôi đã đặt thêm
một số liên kết để tiện cho sự tra cứu.

Phạm Thị Hoài</div>

_________________________

<center><strong>Hồi kí Nguyễn Đăng Mạnh</strong></center>

<center><strong>Phần II, Chương VII: Hồ Chí Minh</strong></center>

Tôi được tận mắt thấy Hồ Chí Minh hai lần.

Lần thứ nhất ngay sau Cách mạng tháng Tám. Sau cuộc khởi
nghĩa tháng Tám 1945, bố tôi đưa cả gia đình từ Thái Bình
về Thị xã Bắc Ninh. Tôi tiếp tục học cấp II ở trường
Hàn Thuyên.

Một hôm được tin Hồ Chủ tịch về Bắc Ninh. Tôi và mấy
bạn học được nhà trường cử đi đón. Mỗi đứa được
phát một lá cờ nhỏ bằng giấy, hễ Hồ Chủ tịch đến thì
vẫy cờ và hô khẩu hiệu chào mừng.

Chúng tôi đứng xếp hàng trước cửa phòng thông tin thị xã,
nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh tới.

Đợi một lúc thì có một chiếc xe ôtô con đỗ ngay mép
đường, trước cửa phòng thông tin. Tôi thấy có hai anh cảnh
vệ vọt ra trước, cầm lăm lăm tiểu liên, nhẩy lên đứng
trên hai cái trụ của bức tường hoa thấp trước phòng thông
tin. Hai anh lia mũi súng sang trái, sang phải, vẻ mặt căng
thẳng. Hồ Chí Minh bước ra sau. Quần áo kaki. Giầy vải. Cầm
batoong. Người gầy, đen. Râu tóc cũng đen. Ông đứng lại ngay
sát chúng tôi, nhưng không để ý gì đến bọn trẻ con này
cả, tuy chúng tôi ra sức phất cờ và hô "Hồ Chủ tịch muôn
năm!". Đứng lại một lát, liếc nhìn chung quanh một chút,
mặt đầy cảnh giác, rồi ông đi rất nhanh vào phòng thông tin.
Lưng rất thẳng, gầy nhưng cứng cáp, cử chỉ lanh lẹn – ấn
tượng của tôi về Hồ Chí Minh là như thế. Hồi đó, ở Bắc
Ninh, Việt Nam Quốc dân Đảng hoạt động khá mạnh. Đã có
những cuộc đụng độ vũ trang giữa lính Quốc dân Đảng và
Vệ quốc Đoàn ở Thị Cầu. Chắc vì thế nên ông Hồ và các
vệ sĩ của ông rất cảnh giác.

Lần thứ hai tôi được thấy Hồ Chủ tịch là vào khoảng
1961, 1962 gì đó, hồi tôi công tác ở trường Đại học Sư
phạm Vinh. Ông Hồ vào Vinh. Người ta tổ chức cho ông gặp
đồng bào ở một cái sân vận động của thị xã.

Họ dựng một cái kỳ đài bằng tre – có vẻ thô sơ thôi.
Ông Hồ đứng trên đó với một số cán bộ tỉnh. Lúc hô
khẩu hiệu, ông cùng vung tay hô như mọi người: "Đảng Lao
động Việt Nam muôn năm!", "Nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hoà muôn năm!"

Ông Hồ vung tay rất cao. Nhưng đến khẩu hiệu thứ ba: "Chủ
tịch Hồ Chí Minh muôn năm!", ông Hồ cũng vung tay lên, nhưng
chợt nhận ra họ hoan hô mình, vội rụt tay xuống. Tôi theo dõi
không bỏ sót một cử chỉ nào của ông cụ hôm ấy. Ông Hồ
bắt đầu nói chuyện với đồng bào.

Hồ Chí Minh không hề tỏ ra là người hùng biện. Nói chậm,
ngắn, không lưu loát. Có chỗ lỡ miệng nói hớ, vội lảng
sang ý khác. Tôi nhớ ông đang nói dở một câu tục ngữ:
"Thanh cậy thế, Nghệ cậy…" thì vội ngừng lại và lảng
sang ý khác. Có lẽ ông không muốn làm mất lòng người Nghệ
Tĩnh chăng, vả lại "cậy thần" là thần nào, thần Hồ Chí
Minh à? Tôi chắc ông nghĩ thế nên không nói tiếp câu ấy
nữa.

Năm 1969, tôi chuyển ra công tác tại trường Đại học Sư
phạm Hà Nội. Các anh Huỳnh Lý, Nguyễn Trác, Hoàng Dung thay nhau
làm tổ trưởng Tổ Văn học Việt Nam Hiện đại. Các anh đều
rất quan tâm đến việc nghiên cứu thơ văn Hồ Chí Minh nên
thường tổ chức cho chúng tôi gặp những người hiểu biết
về Hồ Chí Minh như Hoàng Văn Hoan, Lê Quảng Ba, hoạ sĩ Diệp
Minh Châu, Vũ Kỳ. Nhờ gặp các vị này, tôi được biết
nhiều chuyện cụ thể về ông Hồ, trước hết là chung quanh
sự kiện ông Hồ bị bắt ở Quảng Tây, Trung Quốc và viết
Nhật kí trong tù.

Ông Hồ về Pắc Bó ngày 28-01 đầu năm 1941, tháng 8-1942 ông
trở lại Trung Quốc để vận động các cơ sở cách mạng bên
ấy ủng hộ Việt Minh và mua vũ khí về cho Việt Minh.

Ông Lê Quảng Ba cùng đi với ông Hồ. Đến một địa điểm
nào đó thuộc Quảng Tây thì gặp núi lở, một tảng đá văng
vào chân Lê Quảng Ba. Ba bị đau, cố đi một cách khó khăn.
Để động viên người đồng hành với mình, ông Hồ vừa đi
vừa kể <em>Chinh phụ ngâm</em>. Vừa kể vừa giảng. Té ra xa
nước ba muơi năm, Hồ Chí Minh vẫn thuộc lòng <em>Chinh phụ
ngâm</em>.

Nhưng Lê Quảng Ba càng đi càng đau. Đến Tĩnh Tây thì phải
nghỉ lại tại một cơ sở cách mạng. Hôm sau, ông Hồ tiếp
tục lên đường. Cùng đi với ông có một thanh niên Trung Quốc
tên là Dương Đào – tất nhiên cũng là một cơ sở cách
mạng. Đến xã Túc Vinh, huyện Đức Bảo, tỉnh Quảng Tây thì
bị bọn Hương cảnh Trung Quốc bắt (ngày 27-8-1942).

Không phải ông Hồ không có giấy tờ hợp lệ. Hồ Chí Minh
không thể sơ xuất như thế được. Hồ Chí Minh bị bắt vì
khám trong người, cảnh sát Tầu phát hiện có rất nhiều
đôla. Nghe nói hồi ở Pắc Bó, có người đã thấy ông phơi
đôla cho khỏi ẩm mốc. Bây giờ qua Trung Quốc, ông đem đôla
đi để mua vũ khí cho Việt Minh.

Nhưng cảnh sát Tầu cho là Hán gian, là gián điệp của Nhật
lúc bấy giờ đang đánh Trung Quốc. Chỉ có gián điệp mới có
đôla thôi chứ, người dân Trung Quốc bình thường làm gì có
lắm ngoại tệ thế! Điều này tác giả <em>Nhật kí trong
tù</em> cũng đã nói rõ trong thơ của mình:

<em>Ta người ngay thẳng, lòng trong trắng
Lại bị tình nghi là Hán gian</em>
("Đường đời hiểm trở")

<em>Hôm nay xiềng sắt thay dây trói,
Mỗi bước leng keng tiếng ngọc rung;
Tuy bị tình nghi là gián điệp,
Mà như khanh tướng vẻ ung dung.</em>
("Đi Nam Ninh")

Các vị lãnh đạo Đảng lúc bấy giờ ở Cao Bằng như Trường
Chinh, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt… nghe tin cụ Hồ bị
bắt, hoảng quá, cho người sang Tầu dò hỏi xem nó giam ở
đâu, nhưng không tìm được. Qua mấy tháng bặt tin tức, các
vị bèn quyết định lật bài ngửa: điện cho Mạc Tư Khoa và
cho Tưởng Giới Thạch nói rõ đó là Nguyễn Ái Quốc, thủ
lĩnh Việt Minh, đề nghị thả ra. Biết không phải là Hán gian,
các nhà chức trách Trung Hoa bèn chuyển Hồ Chí Minh sáng chế
độ nhà tù khác. Trong Nhật kí trong tù, bài "Bốn tháng
rồi" có thể coi là bản tổng kết giai đoạn đầu của
thời gian 14 tháng ở tù vô cũng cực khổ của ông Hồ –
"Sống khác loài người vừa bốn tháng, Tiều tuỵ còn hơn
mười năm trời"

Chuyển sang chế độ nhà tù mới, ông Hồ được tắm rửa, ăn
uống khá hơn, thỉnh thoảng được đi dạo quanh nhà lao, đặc
biệt được cung cấp rất nhiều sách báo. Tưởng Giới Thạch
còn tặng ông một cuốn sách của mình. Điều này ông Trần
Dân Tiên đã có nói nhưng không giải thích lý do vì sao. Điều
đáng chú ý là, Nhật kí trong tù có tất cả 133 bài tuyệt cú
thì bài "Bốn tháng rồi" là bài thứ 103. Nghĩa là 10 tháng
sau, tác giả chỉ làm thêm ba chục bài nữa thôi. Vì sao vậy?
Vì Hồ Chí Minh chỉ làm văn chương khi tuyệt đối không có
điều kiện làm chính trị, làm cách mạng. Mười tháng sau này,
có điều kiện chuẩn bị cho cách mạng, lập tức ông dồn
sức vào đấy: đọc sách báo, dịch tác phẩm Tam dân chủ
nghĩa của Tôn Trung Sơn, đọc sách của Tưởng Giới Thạch
tặng (Cuốn <em>Trung Quốc đích mệnh vận</em>)…

Nguyên bản Nhật kí trong tù đâu chỉ có thơ. Ở cuối tập
Nhật kí còn có tới 20 trang ghi kín tin tức thời sự lấy từ
các báo chí được cung cấp gọi là Độc báo lan, và những thu
hoạch từ các sách đã đọc gọi là Độc thư lan Mới biết,
viết bài "Mở đầu" (Khai quyển) <em>Nhật kí trong tù</em>,
Hồ Chí Minh đã nói thật lòng mình:

<em>Ngâm thơ ta vốn không ham,
Nhưng vì trong ngục biết làm chi đây;
Ngày dài ngâm ngợi cho khuây,
Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do.</em>

Hồ Chí Minh được bọn Tầu Tưởng thả về nước không phải
ngẫu nhiên, chắc ông phải khôn khéo thương lượng với chúng
và với cánh Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam như thế nào
đó, nó mới thả cho về nước. Hôm tiễn cụ Hồ về nước,
Hầu Chí Minh (Trong Nhật kí trong tù ông Hồ gọi là Hầu chủ
nhiệm (Chủ nhiệm Cục Chính trị Đệ tứ Chiến khu) cùng với
Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam có tổ chức một cuộc
liên hoan hẳn hoi (tháng 12-1943). Trong liên hoan, họ có thử tài
nhau bằng thách đối. Nguyễn Hải Thần đưa ra một vế đối
khá hóc hiểm:

"Hầu Chí Minh, Hồ Chí Minh, lưỡng vị đồng chí, chí giai
minh."

Ông Hồ xin đối:

"Nhĩ cách mệnh, ngã cách mệnh, đại gia cách mệnh, mệnh
tất cách."

Mọi người tán thưởng. Hầu Chí Minh ca ngợi: "Đối hay
lắm!". Còn Nguyễn Hải Thần thì cung kính nói: "Hồ tiên
sinh tài trí mẫn tiệp, bội phục, bội phục!"

Trong cuộc liên hoan, ông Hồ còn góp vui một tiết mục rất
đặc biệt: nhảy điệu Nga-la-tư. Một điệu vũ dân gian rất
khoẻ của Nga.

Trong Nhật kí trong tù và hồi kí Vừa đi đường vừa kể
chuyện, ông Hồ có nói, khi mới ra tù "chân mềm như bún",
đi không được, phải tập leo núi rất khó nhọc, phải bò,
phải lết mãi mới đi được. Vậy sao lại có thể nhẩy
điệu Nga-la-tư?

Suy ra ta có thể hiểu như thế này: từ khi biết ông Hồ là
ông Hồ, không phải Hán gian, nhà chức trách Trung Quốc cho ông
được hưởng chế độ quản thúc. Nghĩa là chỉ không được
ra khỏi vùng quản thúc thôi, còn thì có thể ra ngoài nhà tù
để leo núi, tập đi, tập luyện mắt (Cho nên mới có chuyện,
ở Liễu Châu, ông Hồ đi tắm sông, gặp tướng Tàu Trương
Phát Khuê). Khoảng giữa tháng 9-1943, sau một thời gian tập
luyện, cuối cùng ông Hồ chẳng những đi vững mà còn trèo
được núi. Lần đầu tiên lên đỉnh núi, Ông cao hứng làm
một bài thơ chữ Hán:

<em>Vân ủng trùng sơn sơn ủng vân
Giang tâm như kính tịnh vô trần
Bồi hồi độc bộ Tây phong lĩnh,
Nam vọng trùng dương ức cố nhân</em>
(Vừa đi đường vừa kể chuyện)

Bài thơ này cụ Hồ đã bí mật gửi về cho các đồng chí
của mình ở Cao Bằng (Viết lên mép trắng của một tờ Quảng
Tây nhật báo). Võ Nguyên Giáp, trong tập hồi kí Những chặng
đường lịch sử cho biết: "Bữa ấy, tôi về cơ quan hội
báo tình hình thì thấy anh Đông, anh Vũ Anh và anh Lã đang xem
xét quanh một tờ báo. Các anh chuyển tờ báo và hỏi tíu tít:

"Anh xem có đúng là chữ của Bác không?"

Đó là một tờ báo ở Trung Quốc mới gửi về, trên mép
trắng có mấy hàng chữ Hán viết tay. Tôi nhận ra ngay đúng là
chữ Bác, Bác viết: "Chúc chư huynh ở nhà mạnh khoẻ và cố
gắng công tác. Ở bên này bình yên". Phía dưới lại có một
bài thơ.

Như thế bài thơ này đã được làm từ khá lâu (9-1943) trước
cuộc liên hoan tiễn chân nói trên 3 tháng (12-1943)

Sau này, Tô Hoài còn cho biết, trong buổi liên hoan tiễn cụ Hồ
về nước hôm ấy còn có mặt nhà thơ Quang Dũng nữa. Lúc này
Quang Dũng đang đi theo Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Hải Thần.

Về tập <em>Nhật kí trong tù</em>, có người nói, ông Hồ đánh
mất ngay sau khi ra khỏi tù. Thực ra không phải.

Ngày 16-9-1943, ông Hồ được trả lại tự do, cuốn <em>Nhật
kí trong tù</em> vẫn được ông giữ cẩn thận.

Ngày 14-9-1955, ông đưa tác phẩm này cho ông Nguyễn Việt,
Trưởng ban Tổ chức Triển lãm Cải cách Ruộng đất tại phố
Bích Câu: "Tôi có quyển sổ tay cách đây mười mấy năm còn
giữ được đến bây giờ, các cô, các chú xem có triển lãm
được thì dùng". Nguyễn Việt đưa vào triển lãm, bầy ở
phòng "Ngọn đuốc soi đường của Đảng Cộng sản Đông
Dương" .

<em>Nhật kí trong tù</em> hiện được lưu giữ ở Bảo tàng
cách mạng Việt Nam.

Vào năm 1970, 1971 gì đó, anh Huỳnh Lý được biết hoạ sĩ
Diệp Minh Châu từng sống với Hồ Chủ Tịch sáu tháng ở
Việt Bắc thời kháng chiến chống Pháp, nên tổ chức cho chúng
tôi gặp hoạ sĩ ở nhà riêng.

Hai vợ chồng cùng là hoạ sĩ và điêu khắc. Nhà cửa hết
sức bề bộn, có thể nói là tanh bành. Đất sét, thạch cao
vung vãi. Nước đổ lênh láng trên nền nhà. Khắp nơi lăn lóc
những đầu người: đầu Nguyên Hồng, đầu Nguyễn Tuân…
bằng đất sét.

Cách trò chuyện của Diệp Minh Châu cũng vậy. Chuyện nọ sọ
chuyện kia, có lúc lại tạt ngang giới thiệu tranh của vợ.

Ở đây tôi chỉ lọc ra những gì anh nói về Hồ Chí Minh.

Diệp Minh Châu ở với Hồ Chủ tịch sáu tháng ở chiến khu
Việt Bắc trước khi ra nước ngoài học tiếp về hội hoạ,
điêu khắc. Hằng ngày, anh cùng ăn với Hồ Chủ tịch.

Có một bữa, đến giờ ăn rồi mà mãi không thấy ông Hồ ra.
Diệp Minh Châu ngồi đợi. Cuối cùng ông cũng ra, nhưng lại
châm điếu thuốc hút, nghĩa là chưa ăn ngay. Thấy Châu ngồi
đợi, ông bảo: "Chú cứ ăn trước đi".Tất nhiên Châu
không dám, vẫn đợi. Một lát, ông Hồ nói thủng thẳng với
hoạ sĩ: "Về sau chú làm nghề gì thì làm nhé, đừng làm
Chủ tịch nước, khổ lắm!"

Diệp Minh Châu không bình luận gì. Tôi cho rằng, Hồ Chí Minh
vừa qua một cuộc họp trung ương, chắc có điều gì không
thuyết phục nổi các đồng chí của mình: Người ta đang sùng
bái Staline, Mao Trạch Đông, không chịu nghe Hồ Chí Minh, chắc
thế. (Staline vốn không coi Hồ Chí Minh là cộng sản chân
chính. Ông Phạm Văn Đồng có lần nói với anh Hoàng Tuệ, khi
hai người cùng công tác ở Liên Xô: Năm 1950, Staline triệu Hồ
Chí Minh sang gặp. Ông ta không gọi Hồ Chí Minh là đồng chí
(tavarich).

Ở rừng Việt Bắc vào những đêm trăng đẹp, ông Hồ thường
rủ Diệp Minh Châu ra suối câu cá. Vừa câu vừa trò chuyện.
Có lần ông nói về Nhật kí trong tù: "Hồi ấy bị giam trong
tù buồn quá, phải nghĩ ra cách gì để giải trí. Có ba cách:
một là nằm ngửa đếm ngói trên mái nhà, đếm hết lại phân
loại ngói lành, ngói vỡ. Hai là săn rệp ở những khe ván sàn
xà lim. Ba là làm thơ". Thì ra đối với ông Hồ, làm thơ cũng
chỉ là một trò giải trí như đếm ngói và săn rệp vậy
thôi. Thảo nào có ai hỏi ông về <em>Nhật kí trong tù</em> như
một tập thơ, ông đều từ chối không trả lời, vì coi đó
chẳng phải thơ phú gì và bản thân ông cũng không phải nhà
thơ. Chẳng qua ở tù buồn quá, không biết làm gì, thì ghép
vần chơi, thế thôi. (Trong <em>Vừa đi đường vừa kể
chuyện</em>, ông đã nói như thế).

Năm 1965, Mỹ cho không quân ra đánh phá miền Bắc. Cầu Hàm
Rồng, Thanh Hoá, là một trọng điểm oanh tạc của chúng. Anh
chị em dân quân Nam Ngạn, Hàm Rồng phối hợp cùng với pháo
binh tải đạn và bắn máy bay giặc. Nổi lên có hai nữ dân
quân được tuyên dương công trạng xuất sắc: Ngô Thị Tuyển
và Nguyễn Thị Hằng. Năm ấy, tôi phụ trách một đoàn sinh
viên Đại học Sư phạm Vinh ra thực tập ở trường Lam Sơn,
Thanh Hoá, sơ tán ở ngoại ô thị xã. Tôi đưa mấy sinh viên
văn ra gặp Nguyễn Thị Hằng ở nhà riêng. Hằng là một cô
gái quê mà rất trắng trẻo, cao ráo. Cô cho xem bức hình chụp
mặc quân phục trông rất đẹp đẽ, oai phong. Cô khoe vừa
được ra Hà Nội gặp Bác Hồ. Lần đầu tiên ra Hà Nội, đi
đâu cũng có một anh cảnh vệ hay công an đưa đi. Hành trình
qua rất nhiều chặng. Đến mỗi chặng, anh dẫn đường lại
bảo, cô chờ ở đây, người khác sẽ đưa đi tiếp. Chặng
cuối cùng, anh dẫn đường nói, cô ngồi đây, Bác xuống bây
giờ. Một lát ông Hồ tới. Ông không vội hỏi han gì về
thành tích chiến đấu của Hằng. Câu hỏi đầu tiên của vị
Chủ tịch nước là: "Cháu có buồn đi tiểu, Bác chỉ chỗ
cho mà đi".

Câu chuyện của Nguyễn Thị Hằng về Chủ tịch Hồ Chí Minh
hôm đó, tôi nhớ nhất chi tiết này. Chi tiết rất nhỏ nhưng
nói rất nhiều về con người Hồ Chí Minh.

Tôi nghĩ đến câu nói của một nhân vật của Dostoyevsky trong
<em>Anh em nhà Karamazov</em>: "Tôi càng yêu nhân loại nói chung
thì lại càng ít yêu con người nói riêng, tức tách bạch ra
từng người riêng rẽ. Những lúc mơ ước, nhiều khi tôi đã
có dự định say mê phụng sự nhân loại (…) thế nhưng tôi
lại không thể sống chung với bất kì ai trong một căn
phòng". Đó là loại người mà Dostoyevsky gọi là chỉ có
"tình yêu mơ mộng" chứ không có tình yêu thực sự. Ông
Hồ một mặt yêu nhân loại rộng lớn, mặt khác, quan tâm rất
cụ thể thiết thực đến những con người cụ thể quanh mình.

Anh Trần Việt Phương có kể một câu chuyện khác cũng tương
tự về ông Hồ. Trước căn nhà sàn của Chủ tịch luôn có
một anh bộ đội đứng gác. Thương anh lính trẻ đứng gác
lâu chắc đói bụng, ông cụ đem một quả chuối xuống cho anh
ta ăn. Anh lính không dám ăn vì như thế là vi phạm luật nhà
binh. Ông Hồ nói: Vậy để bác gác cho cháu ăn, không sợ.

Hồ Chí Minh có điều này cũng rất quý: trong cách ứng xử
với mọi người, tỏ ra rất lịch sự, nghĩa là rất tôn
trọng con người: Hồi kháng chiến chống Pháp, hoạ sĩ Dương
Bích Liên được cử đến ở với ông Hồ để vẽ. Sau một
thời gian, Tố Hữu đến xem tranh, cho là không đạt (Chắc là
Dương Bích Liên thích vẽ Hồ Chí Minh trong sinh hoạt đời
thường, không thể hiện được tư thế lãnh tụ chăng?). Tố
Hữu quyết định cho Dương Bích Liên thôi việc và mời đi
luôn. Khi ông Hồ biết chuyện này thì Dương Bích Liên đã đi
rồi. Hồ Chí Minh không bằng lòng với cách đối xử như thế.
Ông cho người đuổi theo mời hoạ sĩ trở lại để có lời
với anh và đưa tiễn đàng hoàng.

Tôi nghĩ Hồ Chí Minh thực bụng, không hề coi mình là ông
thánh, nghĩa là chỉ muốn được là người với những nhu cầu
như của mọi người bình thường.Cũng có thể trong tư cách
nhà chính trị lại khác. Vì nhu cầu chính trị, có khi Hồ Chí
Minh cũng phải "diễn" những điều trái với bản chất của
mình. Vì thế tôi nói, thực bụng ông Hồ không thích làm thánh
nhân chút nào. Thí dụ, mệt cũng muốn nghỉ. Tố Hữu có lần
đi với ông, thấy một khẩu hiệu trên tường: "Chủ tịch
Hồ Chí Minh muôn năm!", ông nói: "Hồ Chí Minh chỉ muốn
nằm!" Ông Hồ cũng thích hút thuốc lá. Và chỉ quen hút
thuốc lá ngoại, thuốc lá Mỹ. Ông đã bị chi bộ phê bình và
bắt hút thuốc nội. Sau thấy ông ho quá, lại cho hút thuốc
ngoại như cũ. Anh Hoàng Tuệ kể với tôi chuyện này: hồi
kháng chiến chống Pháp, đi công tác ban đêm, tình cờ anh đi
cùng với một đoàn người chở thuốc lá ngoại từ vùng tề
ra cho cụ Hồ, có bộ đội đi kèm để bảo vệ. Hoạ sĩ
Dương Bích Liên, hồi cùng ở với ông Hồ ở Việt Bắc, thấy
ông thường hút thuốc lá ngoại, uống rượu Tây và uống sữa
tươi (người ta nuôi một con bò để lấy sữa cho ông).

Theo Trần Đăng Ninh (Tô Hoài kể lại), ông Hồ ở Phủ Chủ
tịch, thỉnh thoảng lại đóng bộ complet, cravate, chống batoong
đi dạo một lúc trong khuôn viên cho đỡ nhớ – hẳn là nhớ
sinh hoạt hồi ở Paris.

Hà Huy Giáp cho biết: Một hôm linh mục Phạm Bá Trực gặp ông
Hồ, bảo ông là surnature, ông Hồ nói: "Chúng mình là
contrenature". Hà Huy Giáp có một thời gian ở gần Hồ Chủ
tịch. Ông kể chuyện hồi năm 1950, ông mới lấy vợ được
một năm thì bị điều ra công tác tại Việt Bắc và ở với
cụ Hồ. Ông hỏi ông Hồ: "Sao Bác không lấy vợ mà chịu
được?". Ông Hồ nói: "Mình cũng như các chú thôi, từ rốn
trở xuống là 18 tuổi. Từ rốn đến cổ là 40 tuổi. Từ cổ
đến đầu là 60 tuổi. Kinh nghiệm của dân ta là lao động
suốt ngày, mệt thì ngủ luôn. Không có việc gì thì đổ trấu
ra xay. Buồn ngủ hãy ngủ. Tỉnh ngủ, dậy liền, đừng có
nằm mãi trong chăn. Đừng mặc đồ láng, mềm, mỏng. Nên mặc
quần áo vải." Có cán bộ lên công tác ở Việt Bắc, rỗi
việc, ngồi tán gẫu. Bác bảo cởi lạt sàn nhà ra, sau đó
lại bảo buộc lại. Để khỏi "nhàn cư vi bất thiện".

Các anh Huỳnh Lý, Nguyễn Trác và Hoàng Dung còn tổ chức cho
chúng tôi gặp ông Vũ Kỳ, thư kí riêng của cụ Hồ.

Cuộc gặp Vũ Kỳ không giúp tôi biết thêm gì về Hồ Chí Minh.
Ấn tượng để lại chỉ là hình ảnh của chính Vũ Kỳ. Ông
bắt chước tác phong của cụ Hồ từ cách ăn mặc, cách nói
năng. Có cái áo Tôn Trung Sơn khoác ngoài không mặc lại vắt
lên vai. Đi guốc. Câu đầu tiên ông hỏi chúng tôi: "Các
đồng chí có bao nhiêu nữ?"

Anh Nguyễn Khải có lần gặp Vũ Kỳ cũng có nhận xét y như
thế: Để râu dài. Áo cánh lụa. Đi guốc. Cầm quạt phe
phẩy…

Tôi nghĩ bụng, đã là gia nhân thì bao giờ cũng là gia nhân. Gia
nhân của người thường hay gia nhân của vua chúa thì cũng
thế.

Về chuyện làm thơ của Hồ Chí Minh, tôi vẫn cho rằng, ông
Hồ có ý thức sáng tác hai loại: một là loại thơ tuyên
truyền thường dùng lối ca vè, cốt minh hoạ đường lối
chính trị. Những bài thơ chúc Tết, mừng xuân cũng thuộc
loại này. Thơ này không sáng tác theo quy luật nghệ thuật. Hai
là loại thơ nghệ thuật diễn đạt tình cảm, cảm xúc thẩm
mĩ. Loại này ông cốt làm để giải trí sau những giờ làm
việc căng thẳng, hoặc ở trong nhà tù, khi hoàn toàn không có
cách gì để làm việc cho cách mạng.

Nhiều thằng ngu hoặc cố tình không hiểu đã phê phán tôi về
sự phân biệt này: Thơ Bác Hồ, thơ nào chả là thơ nghệ
thuật và thơ Bác là thơ cách mạng sao lại bảo là để giải
trí.

Tôi cho rằng chính cụ Hồ có ý thức phân biệt như vậy.
Người ta thường kể chuyện này để ca ngợi đức tính giản
dị, khiêm tốn của cụ Hồ: khi làm những bài thơ tuyên
truyền, cụ Hồ thường chuyển cho nhiều người xem, kể cả
chú liên lạc, để nhờ góp ý sửa chữa cho thật dễ hiểu,
dễ nhớ đối với mọi người. Thế là thơ tuyên truyền chứ
còn gì nữa. Tuyên truyền thì cốt nhất là mọi người đều
dễ hiểu, dễ nhớ, thế thôi. Nghệ thuật gì mà lại góp ý
tập thể như thế!

Trước kia, hàng năm, vào dịp 19/5, tôi thường được nhiều
nơi mời đi nói chuyện về thơ Hồ Chủ tịch. Thường có chị
Trần Thị Tuyết cùng đi để ngâm thơ minh hoạ. Chị Tuyết cho
biết, khi Hồ Chủ tịch còn sống, vào dịp cuối năm, chị
thường được gọi đến để ngâm thơ chúc Tết của Chủ
tịch và phát luôn trên đài. Tới dự có cụ Hồ và mấy ông
trong Bộ Chính trị. Khi ngâm thơ chúc Tết, chị để ý thấy
ông Hồ có vẻ không quan tâm lắm. Ngâm xong ông thường bảo
chị chuyển ngay sang ngâm Kiều. Tôi hỏi, thường chị ngâm
đoạn Kiều nào. Chị nói, thường Bác bảo ngâm đoạn Kiều
ở lầu Ngưng Bích. Đây là đoạn Kiều nhớ nhà, nhớ người
yêu, nhớ quê. Một đoạn thơ buồn.

Chung quanh Hồ Chí Minh, đến nay vẫn còn rất nhiều điều bí
ẩn không biết đến bao giờ mới được làm sáng tỏ.

Chẳng hạn, chuyện vợ con thế nào? Trung Quốc đã công bố
Hồ Chí Minh kết hôn với Tăng Tuyết Minh. Rồi chuyện cô Hà
Thị Xuân người dân tộc Tày và các con (Trung và Trinh gì đó).
Ông Trần Độ cho biết, vì cô Xuân cứ đòi chính thức hoá,
người ta bèn giao cho Trần Quốc Hoàn (Bộ trưởng Bộ Công an)
thủ tiêu cả ba chị em.

Chuyện này nhiều người biết. Có người đã viết ra như Vũ
Thư Hiên trong cuốn Đêm giữa ban ngày. Riêng tôi được biết
do giáo sư Ngô Thúc Lanh được ông Văn Tân kể cho nghe và
truyền đạt lại, hai là do một giáo sư dạy sử ở Đại học
Sư phạm Hà Nội, ba là Dương Thu Hương, bốn là ông Trần
Độ. Nhưng gần đây có người điều tra ra vụ việc này rất
tỉ mỉ, rõ ràng, và công bố cụ thể trên internet: cô Xuân
bị thủ tiêu vì hai lý do: một là cô đòi chính thức hoá:
điều này phải do Đảng quyết định, mà Đảng thì không thể
chấp nhận. Hai là cô bị Trần Quốc Hoàn hãm hiếp nhiều
lần. Hoàn tuy đã đe doạ cô, nhưng vẫn sợ bị cô tố cáo.
Hắn sai Tạ Quang Chiến đập chết, rồi ban đêm, đặt xác cô
ở quãng đường từ Nhật Tân đi Chèm, bố trí một xe ô tô
cán lên, tạo ra một vụ tai nạn giao thông giả. Còn ba chị em
cô Xuân là ba chị em họ. Một cô tên Nguyệt, một cô tên
Vàng. Hai cô này cũng bị thủ tiêu vì đều biết chuyện.
Nguyệt mất tích, không rõ bị thủ tiêu ở đâu. Còn cô Vàng
thì bị đập chết và quăng xác xuống sông Bằng Giang, Cao
Bằng.

Theo Tô Hoài, có một hồi người ta định lấy vợ cho cụ Hồ.
Một số cô gái đến cho ông chọn. Ông không chọn ai vì thấy
đàn bà mà chẳng ý tứ gì, cứ phơi quần, slip… rất vô ý.
Có một cô người Huế, ông Hồ thích. Nhưng cô này hói đầu,
ông cũng không lấy. Ông nói, nếu có một cô công chúa nước
nào thì lấy – lấy vì mục đích chính trị – chắc ông nói
cho vui.

Tô Hoài cũng cho biết, đạo diễn điện ảnh Phạm Văn Khoa
thạo cả tiếng Pháp lẫn tiếng Tầu, có lần cùng đi với Hồ
Chí Minh sang Trung Quốc (đi xe lửa). Một buổi sáng, Khoa thấy
ông Hồ ở toilet ra, cầm slip vừa giặt, nói: "Không có vợ,
khổ thế!"

Còn chuyện xuất dương của Hồ Chí Minh? Có phải lần đầu
tiên ra nước ngoài là đi Pháp từ cảng Nhà Rồng?

Anh Nguyễn Nguyên (tức Nguyễn Ngọc Lương), một cán bộ tình
báo cao cấp của ta, cho tôi biết, Nguyễn Tất Thành lần đầu
ra nước ngoài là sang Trung Quốc theo đường dây của Phan Bội
Châu. Tất Thành đóng vai một người bán nước mắm, từ Nghệ
An ra – giao liên là cô Chu Bích Viêm, tức bà Cả Chính (Nguyễn
Nguyên đã gặp bà Cả Chính). Cơ sở cách mạng của Phan Bội
Châu ở Hải Phòng lúc bấy giờ là hai cô Nhung và Sâm. Còn cơ
sở ở Móng Cái là hai cô con gái ông Ký nhà đoan tên là Yến
và Nhạn.

Bà Cả Chính đã từng đưa Nguyễn Tất Thành qua Hải Phòng,
Móng Cái, sang Trung Quốc gặp Lý Đông A ở Liễu Châu.

Hồi ấy, ở Việt Nam chưa có phong trào cộng sản.

Sau này, cụ Nguyễn Sinh Sắc mới nhờ cụ Phan Chu Trinh bảo
lãnh cho Nguyễn Tất Thành đi Pháp.

Còn chuyện đường lối cách mạng của Hồ Chí Minh?

Theo Hà Huy Giáp, người đầu tiên phê phán Nguyễn Ái Quốc có
khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa là Trần Phú. <a
href="http://www.talawas.org/?p=3828">Ông Đào Phan cung cấp cho tôi
một tài liệu</a>: khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ở
Hồng Kông, Nguyễn Ái Quốc có đưa ra một văn bản gọi là
Chính cương vắn tắt, phân tích tình hình giai cấp sát với
thực tế Việt Nam, nhất là về giai cấp địa chủ (chế độ
công điền khiến địa chủ không phát triển được, vì thế
địa chủ ở Việt Nam có thể phân hoá được). Staline bèn
phái Trần Phú về nước, vất chính cương của Nguyễn Ái
Quốc đi, thay bằng Luận cương Trần Phú đã được đóng dấu
ở Mạc Tư Khoa và đặt tên đảng là Đảng Cộng sản Đông
Dương. Staline còn chủ trương vô hiệu hoá Nguyễn Ái Quốc
đối với cách mạng Việt Nam.

Xem chừng Hồ Chí Minh thích <em>Tam dân chủ nghĩa</em> của Tôn
Dật Tiên hơn. Ông từng dịch cuốn <em>Tam dân chủ nghĩa</em>
hồi bị giam ở nhà tù Quảng Tây, Trung Quốc. Và "Độc lập
– Tự do – Hạnh phúc" chính là khẩu hiệu cách mạng của
Tôn Trung Sơn.

Lại có chuyện này: Nguyễn Hữu Đang có lần nói với Hoàng
Ngọc Hiến: Sau Cách mạng tháng Tám, Hồ Chí Minh có nói với
Đang: Bảo Đại nó thoái vị sớm quá! Ý ông muốn Bảo Đại
cứ tiếp tục làm vua để có thể thành lập ở Việt Nam chính
thể quân chủ lập hiến mà ông cho là thích hợp hơn với
nước mình. Sau khởi nghĩa tháng Tám, ông ở chiến khu về
muộn, lúc đó phái đoàn Trần Huy Liệu, Huy Cận đã lên
đường vào Huế nhận ấn kiếm của Bảo Đại. Ông muốn cho
người đuổi theo để gọi trở lại, nhưng không kịp. Nhạc
sĩ Phạm Tuyên cho biết, ông cũng rất tiếc Phạm Quỳnh đã
bị Việt Minh ở Huế thủ tiêu. Chuyện lỡ rồi, ông chỉ còn
biết mời mấy người con của Phạm Quỳnh ra gặp để an ủi
(ông gặp hai bà con gái của Phạm Quỳnh). Hồi mới sang Pháp,
Nguyễn Tất Thành đã từng gặp Phạm Quỳnh (cùng với Phan Chu
Trinh, Phan Văn Trường).

Chắc ông đã hiểu Phạm Quỳnh không phải người bán nước.

Ngoài ra, từ hồi dự Hội nghị Fontainebleau ở Paris (1946), Hồ
Chí Minh đã muốn liên hệ với Mỹ và sau này muốn thương
lượng hoà bình với chính quyền Sài Gòn.

Một bí ẩn nữa là vì sao Hồ Chí Minh đoán rất chính xác
mấy thời điểm lịch sử quan trọng: năm 1945, chấm dứt Đại
chiến Thế giới thứ hai và Cách mạng tháng Tám thành công;
năm 1954 chiến thắng giặc Pháp (đoán từ năm 1950); năm 1975
chiến thắng giặc Mỹ (đoán năm 1960).

Theo Trần Quốc Vượng, vì ông có tử vi.

Năm 1943, khi Hồ Chí Minh viết câu kết bài "Diễn ca lịch sử
nước ta": "Bốn nhăm sự nghiệp hoàn thành", thì ở Hội
nghị Téhéran, thủ lĩnh ba siêu cường trong phe Đồng Minh là
Stalin, Churchill, Roosevelt đoán, chiến tranh chấm dứt năm1946.

Không lẽ gì Hồ Chí Minh ở Việt Bắc, với một cái đài bán
dẫn rất thô sơ, lại đoán thời cuộc thế giới chính xác
hơn ba tay trực tiếp chỉ đạo cuộc chiến tranh chống
phát-xít với những thông tin phong phú, cập nhật và những dữ
kiện đầy đủ. Mà ba tay này đâu có dốt nát gì!

Trần Quốc Vượng kết luận: cụ Hồ có tử vi.

Vượng cũng là tay rất sành sỏi tử vi. Anh nói, ở Thư viện
Quốc gia có cuốn Tử vi phú đoán của Lê Quý Đôn đã dịch.
Vượng đến mượn. Cô thủ thư nói sách không còn. Bố Trần
Quốc Vượng có quen cụ Xước là giám đốc thư viện, Vượng
đến hỏi, cụ Xước nói: Ông Hoàng Minh Giám đến lấy cho cụ
Hồ đọc rồi. Sách đang ở chỗ cụ Hồ.

Anh Từ Sơn có tặng tôi tập Di bút của Hoài Thanh (bản đánh
máy lúc chưa xuất bản thành sách). Trong đó có đoạn viết:
"Năm 1945, khi quân Tưởng đã kéo vào dày đặc ở miền Bắc
và quân Pháp đã bắt đầu đánh phá ở miền Nam, anh Tố Hữu
có dịp được gặp Bác. Anh thưa với Bác:

'Thưa cụ, một bên thì Tây, một bên thì Tàu, bên nào đáng
sợ hơn?'

'Tây cũng không đáng sợ. Tàu cũng không đáng sợ. Đáng sợ
nhất là các chú.' Ông Hồ trả lời như vậy".

Ngẫm ra đây cũng là một tiên đoán thiên tài của Hồ Chí
Minh. Ngày nay Pháp, Mỹ đều rút hết rồi. Đất nước nếu
còn khốn khổ thì đúng là do "các chú".

Một câu hỏi khác đặt ra: cụ Hồ có ý thức tự thần thánh
hoá mình không? Đã nói ông Hồ không thích làm ông thánh, nay
lại nói ông có ý thức thần thánh hoá? Tôi cho hai chuyện có
chỗ khác nhau. Vì yêu cầu chính trị, có khi phải dùng mưu
mẹo, có khi phải diễn kịch nữa – Về mặt này, ông Hồ
cũng khá "siêu" đấy. Dân tộc Việt Nam là dân tộc nông
dân nên có tâm lý trọng người già và sùng bái thần thánh,
chứ không tin ở người trẻ, người thường. Cho nên ông Hồ,
năm mươi tuổi đã để râu dài và xưng là Già Hồ. Và cũng
không phản ứng gì khi người ta gọi là cha già dân tộc. Theo
Trần Quốc Vượng, hồi kháng chiến chống Pháp, Trung ương có
giao cho ông Trần Huy Liệu bình tán những câu sấm Trạng Trình
ứng vào cụ Hồ rồi cho truyền đi để tạo thành dư luận
quần chúng. Đó là chủ trương của Hồ Chí Minh hay chỉ là
"sáng kiến" của Đảng ngoài ý kiến của ông Hồ? Nhưng
ông Trần Dân Tiên viết <em>Những mẩu chuyện về đời hoạt
động của Hồ Chủ tịch</em>, có chỗ ví cụ Hồ như con rồng
ẩn hiện trong mây. Mà Trần Dân Tiên chính là ông Hồ chứ ai!

Như đã nói, vì lí do chính trị, Hồ Chí Minh nhiều khi phải
diễn kịch, sống cứ phải "diễn" như thế, kể cũng khổ.
"Không có gì quý hơn độc lập tự do." "Diễn" tức là
bị tước đi của mình quyền sống tự do chứ còn gì nữa!
Liệu đã ai hiểu cho ông cụ nỗi khổ này?

Những trò diễn của Hồ Chí Minh nói chung có tác dụng chính
trị rất tốt đối với tầng lớp bình dân. Nhưng đối với
trí thức, có khi lại phản tác dụng. Năm 1946, Hồ Chí Minh ở
Hội nghị Fontainebleau về nước có Trần Hữu Tước và một
kỹ sư tên là Quang theo về. Trên tàu, cụ Hồ diễn trò nhẩy
son lá son với các thuỷ thủ. Quang thấy thế lấy làm khó
chịu, mất tin tưởng. Ông ta bỏ không theo Hồ Chí Minh nữa.
Theo Tô Hoài, ông ta sau này về sống ở Nha Trang. Nhưng Hoàng
Ngọc Hiến lại đưa ra một thông tin khác: Trần Hữu Tước sau
này có gặp Quang rửa xe máy ở Sài Gòn.

Cuối cùng là ngày sinh và ngày mất của Hồ Chí Minh. Ngày sinh
cũng do ông tự đặt ra, ai cũng biết rồi. Còn ngày mất? Đúng
cái ngày ông đọc Tuyên ngôn Độc lập (2/9).

Theo Hoàng Ngọc Hiến, ông Hồ chủ động chết vào cái ngày
lịch sử ấy. Ông ấy đáo để lắm đấy! Một người quyết
lấy lại <a
href="http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=10781&rb=0302">họ Hồ
là dòng máu thật của mình</a> (Hồ Sĩ Tạo) thì cũng có thể
quyết chết vào đúng ngày sinh của cả nước, ngày mà ông
đọc Tuyên ngôn Độc lập.

"Nhưng chủ động chết làm sao được khi người ta luôn chầu
chực quanh mình" – Tôi cãi lại Hiến.

"Thì cũng có lúc người ta ra ngoài chứ. Lúc ấy chỉ cần
dứt hết những dây dợ của cái ống thở ôxy là chết luôn
chứ sao!" – Hiến khẳng định thế.

Một phán đoán không phải là không có lý!

Hà Nội, ngày 6.7.2006

(Toàn văn chương VII trong phần III hồi kí chưa xuất bản của
Nguyễn Đăng Mạnh)

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/12808), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét