Aung San Suu Kyi - Vượt lên sợ hãi

<strong>Tham, giận, ngu, sợ </strong>

Quyền lực không làm con người hư hỏng như thường được
nghĩ, con người chỉ thực sự hư hỏng vì sợ hãi.

Kẻ bề trên đang nắm quyền trong tay có thể hư hỏng vì sợ
mất quyền lực.

Kẻ bé mọn bên dưới có thể hư hỏng vì sợ đòn thù của
kẻ có quyền thế bên trên.

Phần lớn người dân Miến Điện đều biết đến bốn lầm
lạc sau đây:

Tham, Chanda-gati, sự hư hỏng do lòng tham gây ra, khiến con
người bỏ đường nẻo chính và chạy theo lợi lộc vật chất
hoặc bị cuốn vào mê lộ chỉ vì yêu mê ai quá mức.

Sân, Dosa-gati, sự hư hỏng do nóng giận, đi vào con đường sai
lầm để làm hại người mình có ác cảm.

Si, Moga-gati, tức ngu si, lạc đường vì ngu dốt.

Nhưng có lẽ tệ hại nhất trong bốn sai lầm chính là Úy,
Bhaya-gati, tức sợ hãi, vì sợ hãi không chỉ bóp nghẹt và
lần hồi hủy diệt ý thức về đúng và sai, mà sợ hãi còn
là gốc gác của ba sai lầm kia nữa.

Tính hám lợi không là gốc duy nhất của lòng tham, mà nỗi lo
sợ rằng mình có thể bị thiếu thốn, sợ rằng người mình
say mê không tin yêu mình nữa, cũng là gốc của tham lam..

Cũng vậy, nỗi sợ thất bại, sợ bị làm nhục, sợ bị tổn
thương, một cách nào đó, cũng là gốc của nóng giận và ác
ý.

Bên cạnh đó, sợ hãi cũng là gốc của ngu si khi con người
chỉ vì sợ hãi mà đánh mất quyền tự do theo đuổi sự
thật.

Vì sợ hãi có thể bào mòn con người như thế nên chẳng lạ
gì ở một xã hội mà sợ hãi tràn lan từ trong ra ngoài thì
sự suy đồi, nhũng nhiễu, hư hoại nhân cách cũng sẽ đầy
dẫy từ trên xuống dưới.

<strong>Khổ và nhục </strong>

Quần chúng bất mãn khi chật vật đối đầu với kinh tế khó
khăn được xem là nguyên nhân chính dẫn đến phong trào đòi
dân chủ ở Miến Điện do sinh viên châm ngòi bằng các cuộc
xuống đường năm 1988.

Đúng là sau nhiều năm quản lý tồi tệ, với những chính sách
phi lý, những biện pháp xử lý không hiệu quả, lạm phát leo
thang và thu nhập thật của người dân giảm sút đã đẩy
đất nước vào thảm họa kinh tế.

Nhưng không phải chỉ vì khó làm ăn sinh sống, dù sinh sống
tối thiểu, mà sự nhẫn nhục của một dân tộc vốn dĩ hiền
hòa cam chịu bị sói mòn. Quần chúng còn mất kiên nhẫn vì
nhục. Nhục khi thấy cuộc sống quanh mình nhếch nhác, đầy
rẫy những tham nhũng, suy đồi, sợ hãi.

Sinh viên xuống đường không chỉ vì những người bạn đã
ngã xuống trong đấu tranh, mà còn để đòi quyền sống đã
bị chế độ độc tài khước từ, một chế độ đã làm
cuộc sống hiện tại trở thành vô nghĩa và khiến tương lai
cũng mịt mù vô vọng.

Và khi cuộc đấu tranh của sinh viên phản ảnh được nỗi
tuyệt vọng của quần chúng nói chung thì những cuộc xuống
đường đã nhanh chóng trở thành một phong trào lan rộng toàn
quốc.

Một trong những người ủng hộ phong trào mạnh nhất là giới
doanh nhân, những người đã tự tạo cho mình nhiều kỹ năng
và mối quan hệ để không chỉ tồn tại mà còn thành đạt
giữa xã hội thời độc tài.

Nhưng sự thành đạt, giàu có cũng không mang lại cho họ cảm
giác an tâm hay thỏa mãn, và họ cùng mọi công dân khác, bất
kể thuộc tầng lớp kinh tế nào, đều thấy rằng để thực
sự có một cuộc đời đáng sống, thì tối thiểu phải có
một chính quyền có trách nhiệm. Đó là điều kiện cần, dù
chưa đủ.

<strong>Nước và thủy tinh </strong>

Người dân Miến Điện đã khổ đau và mỏi mòn vì sống cảnh
cá chậu chim lồng, có thể nói họ giống như nước trong hai
bụm tay của kẻ cầm quyền, như được mô tả trong lời thơ
sau:

Trong xanh đó, ta có thể trong xanh đó

Như nước trong bụm tay người.

Nhưng kìa, ta cũng có thể trở thành

Những mảnh thủy tinh bén ngót

Cũng trong bụm tay kia.

Những mảnh thủy tinh, rất bé nhỏ nhưng luôn có độ bén
nhọn để tự vệ chống lại bàn tay đang hăm hở bóp nát
mình, có thể được xem như biểu tượng của đốm lửa dũng
cảm, luôn nhen nhóm trong lòng những người muốn giải phóng
mình khỏi ách áp bức.

Tướng Aung San, người gánh vác trách nhiệm như một nhà cách
mạng, đã không mệt mỏi tìm kiếm giải pháp cho những vấn
đề đang bủa vây Miến Điện trong thời kỳ thử thách. Và
ông đã khơi dậy lòng dũng cảm trong dân chúng. Ông nói:

"Đừng dựa dẫm vào lòng can đảm và sự dũng cảm của
người khác. Mỗi người và mọi người phải biết hy sinh để
trở nên can đảm và dũng cảm. Chỉ đến khi đó, chúng ta mới
được hưởng tự do thực sự."

<strong>Luật và nhân phẩm</strong>

Người may mắn sống trong những nước có nền pháp trị đúng
nghĩa khó có thể hiểu được người dân sống trong những xã
hội độc tài, nơi sợ hãi là một phần cuộc sống hàng ngày,
đã phải khó khăn ra sao để sống cho tử tế, không sai trái.

Luật lệ công bằng không chỉ ngăn ngừa sự hư hỏng bằng
những hình phạt áp dụng không thiên vị cho bất cứ ai phạm
luật. Chúng còn giúp tạo ra một xã hội trong đó con người
có những điều kiện căn bản để duy trì một cuộc sống
hợp nhân phẩm mà không cần phải làm những việc sai trái.

Khi xã hội không có những luật lệ như vậy, thì gánh nặng
bảo vệ những nguyên tắc công bằng và sự tử tế trở thành
việc của từng con người bình thường, của bạn, của tôi.

Và khi mỗi người đều cố gắng kiên trì sống trong công
bằng và tử tế, thì cộng dồn lại, họ sẽ thay đổi cả
một đất nước. Một đất nước đang bị sự sợ hãi bóp
méo, cả lý trí lẫn lương tâm, sẽ trở thành một đất
nước được luật pháp bảo vệ, giúp con người thực hiện
giấc mơ an hòa và công bằng, cùng lúc làm giảm những thói hư
tật xấu trong bản tính người.

<strong>Nửa vời</strong>

Trong thời đại mà những kẻ có quyền lực nhưng phi nhân tính
có thể dùng các loại vũ khí giết người tối tân, do kỹ
thuật vượt bực tạo ra, để khống chế kẻ yếu đuối và
không thể tự vệ, thì chính trị và đạo đức lại càng cần
phải tiến lại gần nhau hơn, cả ở phạm vi quốc gia lẫn
phạm vi quốc tế.

Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc
khẳng định rằng: "Mọi cá nhân và mọi thành phần của xã
hội" cần cố gắng hết sức để giành cho được những
quyền tự do căn bản mà bất cứ ai cũng cần được hưởng,
dù họ thuộc chủng tộc nào, quốc tịch nào, theo đạo nào.

Nhưng chừng nào vẫn còn có những chính quyền lấy trấn áp
dân chúng làm quyền lực thay vì được dân chúng tín nhiệm
ủy quyền, và chừng nào vẫn còn các nhóm lợi ích đặt
quyền lợi trước mắt của mình lên trên hòa bình và thịnh
vượng lâu dài của toàn xã hội, thì chừng đó các nỗ lực
quốc tế nhằm bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền cũng sẽ chỉ
là một cuộc đấu tranh nửa vời mà thôi.

Và như thế, sẽ vẫn còn những hình thức đấu tranh mà trong
đó nạn nhân của đàn áp sẽ phải dùng đến với sức mạnh
tinh thần để bảo vệ những quyền bất khả xâm phạm mà
một người con trong gia đình nhân loại xứng đáng được
hưởng.

<strong>Cách mạng tinh thần </strong>

Cuộc cách mạng lý tưởng chính là cuộc cách mạng tinh thần,
xuất phát từ niềm xác tín rằng con người cần phải thay
đổi thái độ sống và thang giá trị, nếu muốn góp phần
thúc đẩy dân tộc phát triển.

Một cuộc cách mạng nếu chỉ nhắm thay đổi chính sách và
guồng máy nhà nước, nếu chỉ nhắm cải thiện nhu cầu vật
chất của người dân thì sẽ khó có thể thành công đúng
nghĩa.

Không có cuộc cách mạng tinh thần nói trên, thì những lực
lượng tạo ra bất công trong trật tự cũ sẽ vẫn tiếp tục
hoành hành, tạo nên chướng ngại liên tục trên con đường
cải tổ và tái tạo.

Không phải chỉ hô hào cho tự do, dân chủ và nhân quyền là
đủ, mà phải có sự đồng tâm nhất trí để đấu tranh bền
bỉ, chấp nhận hy sinh cho sự thật vĩnh cửu được sáng tỏ,
và để chống lại cả tác hại của tham lam, giận ghét, ngu si
và sợ hãi nữa.

<strong>Thánh nhân và tội nhân</strong>

Thánh nhân, có thể nói, cũng chỉ là một tội nhân nhưng là
một tội nhân luôn cố gắng thay đổi.

Cũng thế, người tự do cũng chỉ là người bị đàn áp nhưng
lại không ngừng cố gắng sống tự do.

Và trong khi thực hành như thế, họ đã biến mình trở thành
những con người có thể gánh vác trách nhiệm và duy trì kỷ
cương, vốn là những điều kiện cần có cho một xã hội tự
do.

Trong những quyền tự do căn bản giúp con người cảm thấy
đầy đủ, trọn vẹn, thì quyền tự do không còn phải sợ hãi
nổi bật lên, vừa như phương tiện, vừa như mục đích.

Một dân tộc nếu muốn xây dựng một quốc gia hùng cường,
với những định chế dân chủ được bắt rễ sâu như một
bảo đảm chống lại quyền lực đen có bàn tay nhà nước
nhúng vào, thì dân tộc đó trước hết phải học cách giải
phóng mình khỏi vòng luẩn quẩn giữa một bên là sự thờ ơ,
sống chết mặc bay, còn bên kia là sự sợ hãi, co cụm, bất
động.

<strong>Quốc bảo </strong>

Là người luôn làm những gì mình nói, bản thân tướng Aung San
luôn cho thấy sự can đảm của mình, không chỉ ở ngoài mặt,
mà còn là sự dũng cảm để ông nói lên sự thật, trung thành
với lời mình nói, chấp nhận phê bình, tự nhận những lỗi
lầm, biết sửa chữa sai phạm, tôn trọng đối lập, nói
chuyện với kẻ thù, và đặt dân chúng làm quan tòa phán xét
xem mình có xứng đáng với vai trò lãnh đạo hay không.

Chính vì sự dũng cảm đầy đạo đức đó mà ông luôn được
người dân Miến Điện yêu mến và tôn trọng, không chỉ như
một chiến sĩ anh hùng, mà còn là nguồn cảm hứng và lương
tâm của cả một đất nước.

Có lẽ những lời của Jawaharlal Nehru nói về Mahatma Gandhi cũng
có thể được dùng cho trường hợp tướng Aung San:

"Cốt lõi giáo huấn của Ganhdi là Không Sợ Hãi và Sự Thật,
là những hành động phù hợp với hai giá trị này, trong khi
vẫn phải luôn quan tâm tới lợi ích của quần chúng".

Gandhi, người truyền bá vĩ đại của đường lối bất bạo
động, và Aung San, người thành lập quân đội quốc gia, là hai
người có tính cách rất khác nhau. Nhưng nếu những thách thức
của chế độ toàn trị ở bất kỳ đâu và lúc nào cũng có
nét giống nhau, thì phẩm chất của những người đứng lên
đối đầu với những thách thức ấy cũng có những tương
đồng nhất định.

Nehru – người cho rằng việc gieo trồng tâm dũng cảm trong
lòng người Ấn Độ là một trong những thành tựu vĩ đại
nhất của Gandhi – là một chính khách hiện đại, nhưng khi
đánh giá các nhu cầu của phong trào đòi độc lập trong thế
kỷ 20, ông lại tìm về với triết học Ấn Độ cổ đại và
nói rằng:

"Khả năng quý nhất của một con người chính là sự vô úy
(abhaya), và quốc bảo của một đất nước chính là những con
người không còn sợ hãi. Những người ấy không chỉ dũng
cảm trong phong cách bên ngoài, mà trong tâm họ sợ hãi cũng
không còn."

<strong>Rèn luyện</strong>

Không sợ hãi có thể là một khả năng thiên phú, nhưng có lẽ
còn quý giá hơn nếu lòng can đảm là kết quả của nỗ lực
rèn luyện.

Lòng can đảm đến từ việc rèn luyện thói quen không để cho
sợ hãi sai khiến dẫn dắt mình.

Đó là 'sự bình tâm trước thử thách', và mỗi khi người
có lòng can đảm đương đầu với một áp lực lớn lao và dai
dẳng thì sự bình tâm kia lại được làm mới thêm lần nữa.

Trong một xã hội mà hệ thống chính trị không cho người dân
hưởng những quyền làm người căn bản, thì sự sợ hãi lan
tràn khắp nơi. Ai nấy sợ bị bắt đi tù, sợ bị tra tấn,
sợ chết, sợ mất bạn bè, sợ gia đình tan nát, sợ tài sản
hoặc phương tiện kiếm sống bị tịch thu, sợ nghèo đói, sợ
cô lập, sợ thất bại.

Hình thức sợ hãi tinh vi và nguy hiểm nhất chính là khi ai nấy
đều xem những việc làm nho nhỏ nhưng đầy can đảm mỗi
ngày, giúp con người giữ gìn lòng tự trọng và nhân phẩm, là
những việc làm ngu xuẩn, vớ vẩn, bất cập, vô ích. Không
những thế, họ còn coi sự phủ nhận kia là lẽ tự nhiên,
thậm chí còn là sự khôn ngoan, hiểu biết nữa.

Người dân sống lâu ngày trong sợ hãi, nơi lý lẽ thuộc về
kẻ mạnh, nơi kẻ yếu bị xem là giặc, sẽ rất khó tự giải
thoát mình khỏi sức công phá của sợ hãi.

Tuy vậy, dù bị chà đạp dưới bộ máy dữ tợn nhất, lòng
can đảm vẫn cứ xuất hiện, lan từ người này đến người
kia, vì sợ hãi không phải là thuộc tính tự nhiên của con
người văn minh.

<strong>Niềm tin</strong>

Nguồn gốc của lòng can đảm và sự kiên định trước bạo
quyền thường là một niềm tin vững chắc vào sự thiêng liêng
của những chuẩn mực đạo đức, kết hợp với cảm quan về
lịch sử rằng dù có trắc trở thế nào, loài người cũng sẽ
tiếp tục dấn bước trên con đường tiến bộ để trở thành
những con người tốt hơn, cả về tinh thần lẫn vật chất.
Chính nhờ khả năng tự cải thiện và tự giải cứu này mà
con người khác xa loài vật.

Bắt rễ sâu trong trách nhiệm của con người là ý thức về
sự hoàn hảo, là lòng khát khao đạt tới hoàn hảo, là sự
thông minh biết tìm ra con đường đi đến hoàn hảo, và là
lòng quyết tâm đi trên con đường dẫn đến hoàn hảo.

Nếu không thể đến đích thì ít nhất cũng đi được một
khoảng cần thiết, để vượt lên trên những giới hạn của
bản thân và chướng ngại do môi trường đặt ra.

Nhờ tầm nhìn về một thế giới nhân bản, văn minh và hợp
lý mà loài người dám chấp nhận thử thách và hy sinh, đau
khổ để xây dựng những xã hội tự do, không còn thiếu
thốn, không còn sợ hãi.

Không ai nên xem thường những giá trị như Sự Thật, Công
Bằng và Tình Thương khi những giá trị này chính là thành trì
duy nhất có thể chống lại bạo quyền.

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/12867), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét