Nguyễn Xuân Phước - Bàn về hai chữ "văn minh"

<div class="rightalign"><em>Văn minh nghĩ kỹ còn nhiều việc</em>
- Lý Đông A</div>


<h2>I.</h2>

Sau năm 1975, đảng Cộng Sản Việt Nam thống nhất đất nước,
ngọn cờ "giải phóng" và "dân tộc" được sử dụng
trong thời kỳ chiến tranh lại được vận dụng để thực
hiện sứ mệnh cách mạng vô sản. Đồng thời, một chế độ
độc tài toàn trị được thiết lập trên toàn đất nước.
Yêu nước trở thành yêu chủ nghĩa xã hội. Và trong logic đó,
yêu nước tức là yêu chế độ độc tài.

Với nhiệt tình thôi thúc từ ngọn lửa cách mạng Tháng Mười
của Nga, với kinh nghiệm cải cách ruộng đất miền Bắc năm
1956 học tập từ Trung Cộng, đảng Cộng sản Việt Nam đã
thực hiện chính sách đánh tư sản mại bản, đốt sách để
tiêu diệt văn hoá phẩm được gọi là "đồi trụy" của
miền Nam, tịch thu ruộng đất để tập thể/hợp tác hoá nông
nghiệp, đổi tiền, quốc hữu hoá tài sản nhân dân trên toàn
quốc...

Giấc mơ giải phóng Việt Nam khỏi bàn tay của đế quốc để
xây dựng chế độ "chuyên chính vô sản" tại Việt Nam của
các tiền bối cách mạng cộng sản Việt Nam từ đầu thế kỷ
20 đã trở thành sự thật.

Sau thời kỳ phát động khẩu hiệu "<em>tiến nhanh, tiến
mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội</em>", đảng
cộng sản VN khám phá ra rằng tiến nhanh tiến mạnh lên chủ
nghĩa xã hội là một hành trình khó khăn. Sư thực hiện chủ
nghĩa Cộng Sản chẳng những không làm cho đất nước tiến
được vững chắc, mà còn làm cho đất nước tụt hậu nhanh
chóng. Trong bối cảnh của các quốc gia Á Châu cất cánh kinh
tế bay cao, quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội đã làm cho
đất nước điêu tàn, nhân dân nghèo đói và đưa đất nước
đến bến bờ phá sản.

Để giải quyết tình trạng bế tắc của mâu thuẫn nội tại
xã hội chực chờ bùng nổ tại Liên Sô tổng bí thư Gorbachev
phải đưa ra chính sách Glasnost & Perestroika để cứu vãn đất
nước và hệ thống XHCN ở Đông Âu. Trong giai đoạn thập tử
nhất sinh đó, dưới ảnh hưởng và áp lực của Liên Sô,
đảng Cộng Sản Việt Nam đã phải đưa ra chính sách "đổi
mới" qua Đại hội VI năm 1996 để tìm đường thoát hiểm.

Từ đại hội VI năm 1996, cương lĩnh của ĐCSVN bổ xung thêm
những đặc trưng XHCN mà Mác-Engel chưa từng đề cập tới.
Đặc trưng số một trong tám đặc trưng quan trọng nhất của
cương lĩnh của đại hội VI là "<em>Dân giàu, nước mạnh,
công bằng, dân chủ, văn minh</em>". Cho đến đại hội XI năm
2011 vừa qua, cương lĩnh chính trị của ĐCSVN cũng tái xác
nhận đặc trưng "<em>Dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân
chủ, văn minh</em>" là mục tiêu hàng đầu của đảng, và là
khẩu hiệu để tuyên truyền xây dựng đất nước.

Hãy tạm để qua mục tiêu "<em>Dân giàu, nước mạnh</em>",
khẩu hiệu kêu gọi toàn dân xây dựng đất nước "<em>công
bằng dân chủ văn minh</em>" phản ảnh mơ ước của hằng bao
thế hệ Việt Nam hơn 100 năm nay. Từ mối nhục mất nước vào
tay thực dân Pháp, đến sự tàn phá của chiến tranh giành
độc lập và chiến tranh Quốc Cộng, đến thời kỳ tăm tối
để tiến lên chủ nghĩa xã hội làm đất nước thụt lùi cả
hàng nhiều thập kỷ so với các nước lâng bang, không một
người Việt nào không có giấc mơ được sống công bằng dân
chủ văn minh như các quốc gia tân tiến khác trên trên thế
giới.

Một mặt đảng cộng sản kiên trì bảo vệ nền độc tài
độc đảng để khống chế xã hội và con người; mặt khác
đảng mời gọi mọi người xây dựng một xã hội công bằng
dân chủ văn minh. Sự thể này đặt lại vấn đề rất căn
bản là liệu chế độ cộng sản có thể xây dựng một đất
nước có công bằng dân chủ văn minh hay không?

<h2>II.</h2>


Chúng ta quen sử dụng hai chữ văn minh để chỉ dấu cho sự
tiến bộ của con người và xã hội. Nhưng một con người văn
minh là gì? Một xã hội văn minh là gì?

"Văn" là "đẹp" và "minh" là "sáng". Nguyên nghĩa
của "văn minh" có nghĩa là "sáng đẹp". Nhưng thế nào
là một con người hay xã hội sáng đẹp?

Từ điển bách khoa mở định nghĩa và diễn giải hai chữ
"văn minh" như sau:

"<em>Văn minh là sự kết hợp đầy đủ các yếu tố tiên
tiến tại thời điểm xét đến để tạo nên, duy trì, vận
hành và tiến hoá xã hội loài người. Các yếu tố của văn
minh có thể hiểu gọn lại là di sản tích luỹ tri thức, tinh
thần và vật chất của con người kể từ khi loài người
được hình thành cho đến thời điểm xét đến. Đối nghịch
với văn minh là hoang dã, man rợ, lạc hậu . Khái niệm văn minh
chỉ mang tính tương đối, có tính so sánh tại thời điểm xét
đến mà không có giá trị tuyệt đối.</em>"

Ý niệm "văn minh" do đó, là sự "sáng đẹp" đi liền
với sự duy trì vận động và tiến hoá của xã hội loài
người. Đó là một vận động hướng thượng để đưa loài
người lên một trình độ cao hơn, đẹp hơn, gần với những
giá trị nhân bản hơn, và xa cách đời sống dã man của động
vật trong thiên nhiên hơn.

<h2>III.</h2>

Sự hình thành đời sống người từ thời hồng hoang đến nay
là một một cuộc vật lộn liên tục giữa con người với xã
hội và thiên nhiên. Từ thời kỳ sống trong hang, hái lượm
trái cây, sống lẫn ở lẫn với thiên nhiên và các loại cầm
thú khác, loài người ý thức được nhân tính và dần dà tách
ra khỏi đời sống thiên nhiên để thực hiện đời sống
người.

Nhà cách mạng Lý Đông A trong tài liệu <em>Duy Nhân Cương
Thường</em> cho rằng sự xuất hiện của nhân thể (human form)
chưa phải là sự thành hình đời sống người trong ý nghĩa
đời sống người là đối nghịch với đời sống cầm thú. Do
đó, sự xuất hiện của tập đoàn sinh vật có nhân thể chỉ
là sự xuất hiện của người dự bị, hay ngợm sắp thành
người.

Lý Đông A cho rằng nhân thể trở thành người khi tập đoàn
nhân thể đó biết tái sản xuất sản xuất của tự nhiên như
biết trồng trọt, chăn nuôi, nướng thịt; và biết tu chỉnh
lối sinh sản đực-cái của thú vật để chuyển thành lối
sinh sản chồng-vợ và thành lập gia đình - mà ông gọi là tái
sinh sản cái sinh sản của tự nhiên. Ông cũng cho rằng loài
người tiếp tục tu chỉnh cách sống chung kiểu bầy đoàn thú
vật "mạnh được yếu thua, khôn sống mống chết" để
chuyển thành cách "sống còn, nối, tiến hóa đến vô cùng",
để thành lập xã hội loài người, và luôn luôn tăng tiến
hiệu xuất của xã hội theo chiều hướng thượng, "ngày một
mới" – mà ông gọi là tái hiệu xuất cái hiệu xuất của
xã hội và lịch sử.

Lý Đông A cho rằng chính sự kiện tập đoàn nhân thể thời
hồng hoang biết cải biến thiên nhiên để phục vụ cho mình
chính là cuộc cách mạng đầu tiên đưa bầy đoàn ngợm thành
xã hội người, và lập thành nhân đạo. <span
class="underlined-text">Nhân đạo là cách sống và đường sống
đặc thù của loài người khác loài vật.</span>

Quá trình chung sống thông qua giai đoạn cách mạng nông nghiệp
và xã hội đầu tiên đó của loài người nẩy sinh ra những
qui luật để taọ ra đời sống người. Qua quá trình tiến hóa
đó sinh vật gọi là người trên nhân thể trở thành người
có nhân tính và nhân đạo.

Lý Đông A gọi xã hội đầu tiên có nhân tính đó là 'xã
hội tự tính". "Xã hội tự tính" đó phải trải qua thời
gian và điều kiện không gian để phát huy và phát triển. Lịch
sử, theo Lý Đông A, là lịch sử nhân đạo, là quá trình hiện
thực hóa "xã hội tự tính" qua thời gian và không gian.

Qua cuộc sống thực tiễn, tích lũy kinh nghiêm sống còn, nối,
tiến hóa của hàng triệu năm, con người đã dần dần chuyển
được tính sống còn tự nhiên của mọi loài sinh vật thành
nhân tính đặc thù của loài người. Quá trình đó tạo thành
đường sống đặc thù của loài người mà ngày nay chúng ta
gọi là nhân đạo. Chính sự xuất hiện của nhân đạo và
nhân tính mới làm cho loài người khác với loài vật. Xây
dựng một xã hội văn minh là xây dựng một xã hội Người,
theo nhân đạo, có nhân tính.

Phân tích cụ thể hơn, Lý Đông A thấy rằng, qua thời gian,
nhân tính được thể hiện trên ba mặt: Trinh, Bình, và Hòa:

- Trung thành hay trung trinh là chất keo sơn để kết hợp xã
hội. Do đó từ quan hệ đực cái của loài vật, nhân tính
đòi hỏi vợ chồng phải lấy sự trung thành làm gốc khi thành
lập đời sống người. Và cũng dựa trên nguyên lý trung trinh,
xã hội thiết lập định chế hôn nhân để thực hiện và
bảo vệ sự trung thành đó và để bảo lưu huyết thống
được sinh tồn tục, lâu dài và bền vững. Do đó, nhân tính
đầu tiên là sự trung trinh, và đó là ý nghĩa của nhân tính
<em>Trinh</em>.

- Để giải quyết nhu cầu ăn, mặc, ở, nhân tính chối bỏ quy
luật của thiên tính tự nhiên là mạnh được yếu thua, giành
miếng ăn hay áo mặc. Nhân tính hướng dẫn con người giải
quyết nhu cầu sinh thực bằng sự mãn thích nhu yếu cách đồng
đều. Do đó, con người có nhân tính biết chia cơm xẻ áo cho
người nghèo đói. Đó là ý nghĩa chữ <em>Bình</em>.

- Mâu thuẫn giữa người và người xảy ra khi người không tôn
trọng sự trung thành với nhau, khi loài người không biết tôn
trọng sự bình đẳng trong sự mãn thich nhu yếu, khi thú tính
áp chế nhân tính. Để giải quyết mâu thuẩn loài người có
thể gây chiến tranh, nhưng đồng thời loài người có thể
giải quyết mâu thuẩn bằng sự hoà giải. Chiến tranh là dùng
bạo lực để giải quyết mâu thuẩn là bản năng của thú
tính. Khả năng hoà giải là một đặc tính của loài người.
Đó là ý nghĩa chữ <em>Hoà</em>.

Nhân tính chính là khoảng cách giữa loài người và loài vật.
Cho nên một xã hội văn minh đúng nghĩa là phải thực hiện
được nhân tính trong đời sống người. Một xã hội văn minh
đưa dẫn con người đến chổ hoàn thiện "trinh bình hoà"
trong quan hệ giữa người và người. Và xã hội văn minh chính
là xã hội đã xa rời xã hội dã man của loài cầm thú, luôn
hướng đến và cải tiến cách thực hiện những nhân tính
gốc của xã hội tự tính.

<h2>IV.</h2>

Chủ nghĩa Mác-Ăngghen cho rằng người vượn biến thành người
là do quá trình lao động hàng triệu năm. Chưa nói tới giá
trị của thuyết tiến hoá trong sự hình thành loài người,
chủ nghĩa Mác-Ăngghen lấy một số nguyên tắc xã hội cộng
sản nguyên thủy làm mô hình lý tưởng để hướng đến xây
dựng xã hội Cộng Sản tương lai thông qua sự thiết lập nền
độc tài của giai cấp vô sản.

Mác, vì dựa trên qui luật của tự nhiên, nên chỉ thấy lao
động là xuất phát điểm của đời sống người. Mác không
hề nhận thức được loài người thành lập là do sự xuất
hiện của nhân tính. Trong kinh điển Mác-Engel không có sự mặc
nhận nhân tính như là xuất phát điểm của đời sống
người. Vì thế Mác lấy xã hội cộng sản nguyên thủy làm
xuất phát điểm của xã hội loài người, và xem hành vi hái
lượm của giống người nguyên thủy là nền kinh tế tự
nhiên. Mác không nhận thức được rằng khi nhân tính chưa
xuất hiện thì xã hội nguyên thủy đó đó chỉ là tập hợp
của một bầy đoàn ngợm, hay người dự bị, để chuẩn bị
làm người.

Lý Đông A cho rằng sống theo tự nhiên thì chưa có kinh tế vì
kinh tế là một hành động nhân vi, do con người tác động,
khai thác và cải biến tự nhiên. Chỉ từ khi con người bắt
đầu tu chỉnh lại lối sản xuất theo tự nhiên thì lúc đó
mới có kinh tế. Xã hội mà Mác muốn xây dựng do đó là một
xã hội chưa có con người với nhân tính, và do đó không phải
là xã hội của con người. Triết gia mác-xít Trần Đức Thảo
đã thấy điều này trong bài viết "Vấn đề con người và
chủ nghĩa lý luận không có con người".

Đối với chủ nghĩa Mác trong quan hệ giữa người và người,
sự trung thành với lý tưởng CS và giai cấp vô sản là tuyệt
đối. Người ta không cần đến sự trung thành giữa người và
người. Do đó, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, vợ
chồng, cha mẹ, con cái, anh em, bạn bè, hàng xóm láng giềng,
chủ thợ phải thực hiện đấu tranh quan điểm và đấu tranh
giai cấp đấu tố lẫn nhau. Trinh hay sự trung thành giữa
người và người không bao giờ là nền tảng của chủ nghĩa
Mác.

Một mặt, Mác chủ trương xây dựng một xã hội "bình
đẳng" không có bóc lột để giải quyết nhu yếu cho con
người. Một mặt khác Mác, dựa vào duy vật biện chứng, chủ
trương dùng bạo lực cách mạng để giai cấp vô sản chiếm
lấy phương tiện sản xuất của giai cấp tư sản.

Nhưng đấu tranh giai cấp là sự áp dụng quy luật sinh tồn
trong tự nhiên của động vật vào xã hội. Đó là qui luật
mạnh được yếu thua. Vì vậy trong quá trình xây dựng chủ
nghĩa xã hội, những người cộng sản dùng bạo lực để xoá
bỏ chế độ tư hữu để thành lập "chế độ công hữu"
nhằm thâu tóm tài sản của đất nước và của nhân dân để
làm của riêng. Đồng thời Mác biến giai cấp tư sản cũ thành
giai cấp vô sản mới để xã hội triền miên đấu tranh giai
cấp.

Vì Mác chỉ giải quyết nhu yếu loài người bằng qui luật
của tự nhiên cho nên lý tuởng bình đẳng của Mác khi ứng
dụng vào thực tế chỉ đem lại lợi ích cho một giai cấp
nầy bằng sự hy sinh của giai cấp khác. Do đó, chủ nghĩa Mác
không thể đem bình đẳng cho loài người.

Đấu tranh giai cấp cũng là phương pháp giải quyết mâu thuẩn
giữa người và người, giữa giai cấp và giai cấp. Trong cuộc
chiến "một sống một chết" với chủ nghĩa tư bản,
người cộng sản phải đánh nhau tả tơi với đối phương như
con thú dữ giành miếng ăn cho đến khi một bên ngã gục. Trong
chủ nghĩa Mác hoàn toàn không có ý niệm "hoà" để hoá
giải mâu thuẩn giữa người và người.

Khi mới lên làm tổng bí thư đảng CS Liên Xô Kruschev được
thế giới cộng sản hoan hô vì chủ trương "sẽ chôn sống
chủ nghĩa tư bản". Nhưng khi ông chủ trương "chung sống
hoà bình" với Hoa Kỳ và Tây Phương, ông đã bị những
ngưòi "CS chân chính" chỉ trích kịch liệt là "xét
lại", và cuối cùng ông đã bị lật đổ. Cho đến ngày hôm
nay, nhiều người cộng sản chân chính vẫn sợ hãi hiện
tượng "diễn biến hoà bình" đang xuất hiện trong đảng.

Khi phê phán chủ nghĩa Mác, Lý Đông A cho rằng chủ nghĩa Mác
Lê đã lấy qui luật của tự nhiên áp dụng thẳng tuột vào
đời sống người mà không qua nút điều chỉnh của nhân tính,
và do đó, tội ác của chủ nghĩa Mác là biến loài người
thành lò thí nghiệm xã hội và coi con người như "muối,
sắt".

<h2>IV.</h2>

Nhìn từ góc cạnh Tây phương, và đứng về phương diện ngữ
nghĩa, "văn minh" trong tiếng Pháp và tiếng Anh là
"civilization" . Đó là sự kết hợp của chữ "civil" (dân
sự) và tiếp vĩ ngữ "ization" (trở thành). Trong gốc Latin,
"văn minh" có nghĩa là "trở thành dân sự" hay "dân sự
hoá". Như vậy, "văn minh" nguyên nghĩa của nó có nghĩa là
quá trình trở thành dân sự của một xã hội.

Thoạt đầu "civilization" chưa có ý nghĩa "văn minh". Chữ
"civil" có nghĩa là "dân sự" được dùng sớm nhất trong
tiếng Latin. Ở thế kỷ thứ 6, hoàng đế Justinian của đế
quốc Byzantyne soạn bộ luật dân sự đầu tiên được gọi là
"<a href="http://en.wikipedia.org/wiki/Corpus_Juris_Civilis">Corpus Juris
Civilis</a>". Cho đến thế kỷ thứ 14, chữ "civil" cũng chỉ
có nghĩa là "liên hệ đến người dân". "Civilis" biến
dạng thành "civility" có nghĩa là "lịch lãm."

Do bối cảnh lịch sử của Tây phương, cho đến giữa thế kỷ
thứ 18, chữ civilization (dân sự hoá) mới có ý nghĩa đối
nghịch với "dã man". Các sử gia cho rằng <a
href="http://en.wikipedia.org/wiki/Adam_Ferguson">Adam Ferguson</a> trong
tác phẩm An Essay on the History of Civil Society (Luận đề về
lịch sử xã hội dân sự ) (Edinburgh, 1767 - p. 2) là tác giả
người Anh đầu tiên đã sử dụng "civilization" để chỉ
dấu cho sự tiến bộ của loài người bằng sự hình thành
"xã hội công dân", hay "xã hội dân sự".

Như vậy quá trình hình thành, ý nghĩa chữ văn minh đi từ gốc
Latin có nghĩa là liên hệ tới người dân. Do chữ "văn minh"
trong tiếng Việt không có chứa đựng chữ "người dân" cho
nên trong ngôn ngữ Việt Nam không thấy được giá trị con
người hay người dân trong hai chữ "văn minh".

Tại sao dân sự hoá trở thành văn minh?

Từ thế kỷ thứ 15 lịch sử tây phương bước dần ra khỏi
thời kỳ trung cổ với sự suy tàn quyền lực tuyệt đối của
đế quốc La Mã Thánh - The Holy Roman empire. Xuất hiện đồng
thời với phong trào cải cách giáo hội của Martin Luther là
phong trào độc lập của các vương quốc Âu Châu đối với
giáo quyền Vatican. Xã hội tây phương bắt đầu bước ra khỏi
sự kiềm chế của uy quyền của giáo hoàng và giáo hội để
đi vào thời đại phục hưng.

Từ đó, các tư tưởng tự do dân chủ bắt đầu xuất hiện.
John Locke với ý niệm quyền tự nhiên về đời sống, tự do
và tài sản; Montesquieu với tư tưởng tam quyền phân lập;
Voltaire với quyền tự do tư tưởng; Hobbes và Russeau với ý
niệm khế ước xã hội và quyền lực chính thống đến từ
người dân. Các quốc gia tây phương chuyển mình từ chế độ
phong kiến độc tài sang chế độ dân chủ. Cuộc cách mạng
dân chủ Hoa Kỳ 1776 và cách mạng Pháp 1789 đã lan rộng khắp
Âu Châu đưa tới sự cáo chung của chế độ phong kiến tây
phương và xã hội dân sự ra đời với sự thành hình của
chế độ dân chủ.

Dân sự hoá chính quyền là giải thể chế độ chuyên chính
của chế độ phong kiến, của các vương quyền, và giáo quyền
để người dân được tham gia vào sinh hoạt chính trị. Giải
trừ độc tài là quá trình dân sự hoá xã hội. Đó là chỉ
dấu của sự tiến bộ, của sáng và đẹp. Và đó chính là ý
nghĩa nguyên thủy của hai chữ "văn minh".

<h2>V.</h2>

Độc tài là thể chế chính trị mà quyền lực tập trung vào
một người hay một nhóm người. Quyền lực nầy được duy
trì bằng bạo lực, không bị giới hạn hay chi phối bởi luật
pháp, hiến pháp hay định chế xã hội.

Các những ngưòi khai sinh chủ nghĩa cộng sản chủ trương
phải thiết lập nền độc tài vô sản (proletarian dictatoship)
để xây dựng xã hội mới. Khi dịch ra tiếng Việt, các nhà
Mác-xít Việt Nam gọi chế độ độc tài một cách văn hoa là
"chuyên chính vô sản" .

Trong tác phẩm Phê Phán Chương Trình Gotha, Mác khẳng định
rằng "giữa xã hội tư bản và xã hội cộng sản có một
giai đoạn cách mạng chuyển tiếp từ xã hội nầy qua xã hội
kia. Trong giai đoạn chuyển tiếp chính trị nầy nhà nước coi
như không có, chỉ còn chế độ cách mạng độc tài của giai
cấp vô sản." — Critique of the Gotha Program (1875).

"Tiến lên chủ nghĩa xã hội" chính là thiết lập chế độ
độc tài toàn trị để xây dựng một xã hội dựa trên bạo
lực, tức là đưa xã hội loài người trở về với đời
sống động vật thời kỳ hoang dã man rợ. Đó là xã hội
không có nhân nghĩa, không có nhân tính, càng ngày càng cách xa
với đời sống người. Do đó chế độ độc tài, hay nền
chuyên chính vô sản, tự thân đã phủ định xã hội dân sự
văn minh.

Nói tóm lại, văn minh thể hiện cái đẹp của đời sống
người càng ngày càng thăng hoa. Nội dung của văn minh chính là
đời sống người với đầy đủ nhân tính, nhân bản và nhân
chủ. Một xã hội càng văn minh là xã hội càng tiến gần
đến những giá trị của con người và càng xa rời đời sống
dã man của động vật. Đó là xã hội đã tháo gỡ được
chế độ độc tài, đã được dân sự hoá, và đã hình thành
được xã hội dân sự và chế độ dân chủ.

<h2>VI.</h2>

Nhiều người cho rằng chủ nghĩa Mác không còn giá trị trên
thực tế tại Việt Nam vì những người cộng sản Việt Nam
đã trở thành những nhà tư bản đỏ và xã hội Việt Nam đã
bị tư bản hoá. Đặt lại giá trị của chủ nghĩa Mác Lê là
việc làm không cần thiết.

Nhưng trên thực tế những người cộng sản Việt Nam vẫn còn
bám víu lấy chủ nghĩa Mác Lê để làm "ánh sáng" nhằm xây
dựng xã hội. Vấn đề tham nhũng, cướp đất của dân, cướp
tài sản của các cơ sở tôn giáo, hay mafia hoá chính quyền
không phải là hiện tượng mà là bản chất của chế độ
độc tài chưa được dân sự hoá, của một xã hội được
xây dựng trên ý thức hệ thể hiện bản năng loài cầm thú
chưa được thấy ánh sáng của văn minh của loài người.

Hơn thế nữa, quan điểm"độc tài" của chủ nghĩa Mác Lê
đã được đưa vào đời sống xã hội Việt Nam bằng điều 4
hiến pháp. Cho nên đặt lại những giá trị căn bản của chủ
nghĩa Mác trong mối tương quan với ý niệm công bằng dân chủ
và văn minh là một trong những "điều kiện cần" để phá
vỡ những bế tắc của Việt Nam hiện nay.

Vì dân chủ và công bằng là hiệu suất của xã hội dân sự,
tức là xã hội văn minh, và vì chủ nghĩa Mác-Lê với chủ
trương độc tài vô sản đã phủ định văn minh, cho nên hiệu
quả tất yếu là đảng cộng sản không có khả năng đem lại
công bằng dân chủ và văn minh cho loài người nói chung và cho
người dân Việt Nam nói riêng.

Do đó, khẩu hiệu "xây dựng đất nước công bằng dân chủ
văn minh" trong bối cảnh một chế độ độc tài toàn trị
không những là một khẩu hiệu hoàn toàn vô nghĩa, mà còn đi
ngược lại với những logic "duy vật" của chính chủ nghĩa
Mác.

NGUYỄN XUÂN PHƯỚC
(Mùa Xuân Nhâm Thìn 2012)

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/11465), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét