Nguyễn Ngọc Giao - Lời chúc đầu xuân cho Xã hội Công dân

Vượt khỏi những sự vụ dồn dập xảy ra trong những ngày
cuối năm, có thể nói dữ kiện quan trọng nhất ở Việt Nam
năm 2011 là sự xuất hiện đa dạng của xã hội dân sự, hay
xã hội công dân.

Xã hội dân sự ấy ít nhiều đã từng có trong lịch sử Việt
Nam. Trong thời quân chủ, giới nho sĩ gắn liền mục tiêu, lẽ
sống, quyền lợi với chính quyền phong kiến, nhưng ở làng
mạc cũng như thị thành, những nho sĩ không ra làm quan (vì
không đỗ đạt hay đã treo ấn từ quan), và những nho sĩ làm
quan về hưu, đã tạo thành một đối trọng trước cường
quyền, một chuẩn mực quy chiếu về văn hóa, đạo lý cho toàn
bộ xã hội, mà những từ ngữ "nho lâm", "sĩ khí", "sĩ phu Bắc
(và không chỉ Bắc) Hà" biểu thị khá rõ sự tồn tại và
sức mạnh. Trong thời Pháp thuộc, sau thất bại của phong trào
Văn thân và trước khi ra đời các chính đảng đấu tranh cho
độc lập dân tộc, phong trào Duy Tân (trường Đông Kinh nghĩa
thục, thành lập các công ti kinh doanh...) là một biểu hiện
mạnh mẽ của xã hội dân sự. Vào những năm cuối của thập
niên 1930, Hội truyền bá quốc ngữ là một tiếp nối đầy
hứa hẹn (thoạt đầu là sáng kiến của những nhân sĩ, trí
thức như Nguyễn Văn Tố, Hoàng Xuân Hãn -- tác giả câu lục
bát tưởng như ca dao I Tờ có móc cả hai, I ngắn có chấm Tờ
dài có ngang ; rồi sau Cách mạng tháng Tám, đã huy động hàng
triệu người)...

Ở miền Nam, từ 1954 đến 1975, bất chấp sự đàn áp của
chế độ độc tài Ngô Đình Diệm và những chính quyền quân
phiệt tiếp theo, xã hội dân sự / công dân vẫn tiếp tục
tồn tại, không những làm chỗ dựa cho phong trào đấu tranh
chính trị ở đô thị của Đảng cộng sản và Mặt trận dân
tộc giải phóng, của phong trào Phật giáo, phong trào Công giáo
tiến bộ, các lực lượng vẫn được gọi là "thành phần ba",
mà còn là cơ sở quy chiếu tinh thần cho một xã hội bị
chiến tranh và "văn hóa đồi trụy" hủy hoại. Các chính quyền
Việt Nam cộng hòa không triệt tiêu được xã hội công dân
thầm lặng mà mạnh mẽ ấy, một phần cũng nhờ hai nhân tố
khách quan : (1) kế thừa chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ, khác
với chế độ bảo hộ ở Bắc và Trung Kỳ, với truyền thống
tự do báo chí (tất nhiên là tương đối và hạn chế, nhưng
có thực) ; (2) chính sách thực dân kiểu mới của Washington
buộc chính quyền miền Nam phải để dành một không gian "tự
do", dù chỉ là tượng trưng, để "quốc hội (Mỹ) trông thấy,
quốc tế trông vào" (có thế mới nhân danh "Thế giới Tự Do"
để chống Cộng).

Ở miền Bắc trong thời gian ấy, và trên cả nước từ ngày
thống nhất, xã hội dân sự / công dân đã bị tìm cách triệt
tiêu có hệ thống. Nghịch cảnh ấy có nhiều nguyên nhân, có
lẽ không cần tranh luận cũng có thể nhận dạng và liệt kê
những yếu tố chính. Trước hết, là những nguyên nhân có
tính chất "ý thức hệ" (hệ tư tưởng) : như mọi đảng cộng
sản lên cầm quyền, ĐCSVN đã áp dụng đường lối tổ chức
xã hội theo mô hình Stalin và biến thể Á châu của nó là chủ
nghĩa Mao (có tìm mỏi mắt trong các tác phẩm của Marx cũng
không ra bóng dáng của mô hình này). Điều nghịch lý là trong
thời kỳ đấu tranh giành độc lập, ĐCS rất giỏi phát hiện
và phát huy sức mạnh của xã hội dân sự (điển hình là Hội
truyền bá quốc ngữ) ; đến khi nắm được chính quyền, thì
nó vội vàng và thô bạo "mặt trận hóa" xã hội dân sự, như
muốn "trừ hậu họa", quên rằng một xã hội dân sự chân
chính và lành mạnh chỉ có thể tồn tại và phát triển khi nó
độc lập với các bộ máy quyền lực (nhà nước, tôn giáo,
kinh tế...). Một chính đảng cầm quyền, đảng viên của nó
nên và có quyền tham gia các tổ chức của xã hội dân sự,
nhưng với tư cách thành viên tự nguyện, chứ không thể tự
phong là lãnh đạo, nhất là lãnh đạo có ăn lương Nhà nước,
khác nào mấy ông bà công chức của Ngô tổng thống được
cử làm cán bộ "Phong trào Cách mạng Quốc gia" hay "Phong trào
Liên đới Phụ nữ" ngày xưa.

Chính chủ trương sai lầm tự gốc rễ này khiến cho xã hội
dân sự / công dân trong suốt mấy chục năm trời, đã bị
trấn áp nặng nề, đôi khi với tất cả sự hăng say của
những con người lẽ ra phải là thành viên năng nổ của xã
hội. Xã hội công dân Việt Nam giống như nàng công chúa ngủ
trong rừng sâu, còn được Nhà nước cẩn thận bịt miệng
bịt mắt một cách "quán triệt". Tất nhiên, thi thoảng, nàng
cũng cựa quậy, ú ớ như trong mùa xuân, mùa thu 1956, trong "đề
cương" Hội nhà văn của Nguyên Ngọc năm 1979... Nhưng không
thể hơn, khi bản thân Xã hội dân sự đã bị trói chặt trong
chiều kích kinh tế của nó : chế độ bao cấp quan liêu, nhân
danh chủ nghĩa tập thể, không cho phép bất cứ cá nhân nào
tồn tại một cách độc lập (về kinh tế).

Chính những "cựa quậy" ở nông thôn (Vĩnh Phú, Hải Phòng),
"phá rào" ở thành thị, trong bối cảnh sự phá sản của "chủ
nghĩa xã hội hiện thực" ở trong nước, và sức ép quốc tế
(sự thù địch của Trung Quốc, perestroika ở Liên Xô) đã dẫn
tới cuộc đổi mới cuối năm 1986.

Về một ý nghĩa nào đó, sự từ bỏ tham vọng quản lý từ A
đến Z đời sống kinh tế của người dân là tiền đề để
xã hội dân sự Việt Nam tồn tại về mặt kinh tế. Cuộc
khủng hoảng tư tưởng của hệ thống xã hội chủ nghĩa,
cuộc khủng hoảng xã hội, văn hóa của đất nước đã thúc
đẩy xã hội dân sự từng bước ý thức "tự cứu lấy mình".
Rồi tiếp theo là cuộc cách mạng internet (Việt Nam nối mạng
từ năm 1997), mạng lưới xã hội (điện thoại di động, FB,
Tweeter...), nhờ đó, một số ngày càng lớn công dân có thể
tiếp cận những thông tin mà Nhà nước không thể bịt kín,
thậm chí chất lượng thấp kém của "thông tin lề phải" càng
tăng thêm hào quang của những "thông tin lề trái" (ngay cả khi
những thông tin này cũng nhảm nhí không kém thông tin của Nhà
nước). Trong bối cảnh thay đổi nhanh chóng ấy, sự hung hăng
và láo xược của nhà cầm quyền Trung Quốc (nhất là ở vùng
biển Đông Nam Á) đã đánh thức dậy chủ nghĩa yêu nước (mà
tuyên truyền của Nhà nước đã làm xói mòn vì nó dùng tình
yêu nước để lừa mị và bịt miệng). Xã hội dân sự đã
mang thêm chiều kích công dân của nó : khi Nhà nước tỏ ra
bạc nhược trước ngoại bang, người dân tất nhiên phải
đảm nhiệm vao trò công dân của mình, kể cả khi Nhà nước
ngăn cấm nó. Và như thế, bước sang thế kỉ 21, xã hội dân
sự / công dân Việt Nam đã triển khai cả hai chiều kích (dân
sự : độc lập với Nhà nước ; công dân : chủ thể chính
trị, độc lập với việc hình thành các tổ chức chính trị
trong một chế độ dân chủ).

2011, với những cuộc biểu tình công dân, ôn hòa trước đại
sứ quán và tổng lãnh sự quán Trung Quốc, sau đó là những
cuộc tuần hành ở Bờ Hồ, xã hội dân sự Việt Nam, tiếp
nối những bản kiến nghị đòi chấm dứt việc để cho Trung
Quốc khai thác bô-xít ở Tây Nguyên -- mái nhà Đông Dương --,
đã triển khai chiều kích công dân, hòa mình vào quan niệm
hiện đại của xã hội dân sự (civil) / công dân (civic) của
thế giới.

Tất nhiên, không ai có thể nuôi dưỡng ảo tưởng về sức
mạnh hiện nay của xã hội công dân ở Việt Nam. Con đường
đi tới một xã hội công dân hoàn chỉnh ở nước ta còn gian
nan và đòi hỏi thời gian. Khó khăn trước mắt và trung hạn
là trình độ và quán tính của bản thân tập đoàn cầm quyền
nhân danh Đảng cộng sản, cấm đoán cả đảng viên, nhất là
đảng viên có chức có quyền, tham gia các hoạt động xã hội
"không được phép", là phản xạ "đâu cũng thấy địch", "cái
gì không do ta chủ trương là do âm mưu của địch" đã trở
thành bản chất thứ nhì trong suốt nửa thế kỷ đấu tranh bí
mật và chiến tranh. Khó khăn còn nằm trong bản thân xã hội
Việt Nam, phải tự mình bước qua thời kỳ "tiền sử" của xã
hội dân sự, xây dựng một xã hội công dân trong một bối
cảnh chính trị khó khăn, kinh tế khủng hoảng, cục diện
quốc tế gay go, Nhà nước bất cập. Thêm vào đó, hơn một
nửa xã hội, những thế hệ ra đời sau năm 1975, do hệ thống
giáo dục tha hóa, đã trở thành những thế hệ "không có ký
ức lịch sử", không biết dân tộc mình đã kinh qua thế kỉ 20
ra sao, cùng lắm chỉ biết là nó không như người ta viết trong
sách giáo khoa về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới.

Song cũng chính trong bối cảnh đen tối ấy mà xã hội công dân
Việt Nam đã khẳng định sự tồn tại của mình trong mấy năm
qua, nhất là trong năm Tân Mão 2011. Vả lại, triển khai xã hội
công dân là con đường tất yếu để dân chủ hóa đất
nước, cũng là điều kiện không thể không có để bảo đảm
sự ổn định của tình hình trong mọi tình huống, và sự bền
vững của mọi thể chế dân chủ. Con đường ấy sẽ bớt
chông gai, sẽ thuận lợi hơn nếu trong nội bộ Đảng cộng
sản, nhất là ở cấp lãnh đạo, có nhận thức và dũng cảm
để góp phần vào sự phát triển của xã hội công dân. Bằng
không, nó cũng không có cách nào khác hơn là "lừng lững" đi
tới.
Trước thềm năm Nhâm Thìn, chúng ta hãy cầu chúc cho những
bước tiến mới của xã hội công dân Việt Nam. Lời cầu
chúc, tất nhiên, thể hiện bằng lời nói và hành động thiết
thực, an nhiên.

Nguyễn Ngọc Giao
Florida, 22.1.2012

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/11426), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét