Phan Minh Ngọc - Phác đồ trị 'bệnh' cho hệ thống ngân hàng (2)

(VEF.VN) - Phương pháp tái cấu trúc hệ thống ngân hàng để
ngăn ngừa một sự đổ vỡ trước mắt và phục hồi lòng tin
thì có nhiều, nhưng quan trọng là chúng không ảnh hưởng xấu
hoặc đảo ngược tiến trình cải cách và lành mạnh hóa hệ
thống ngân hàng trong dài hạn.

<h2>Khi nào thì cần tái cấu trúc?</h2>

Trước khi bắt đầu, cần nói qua một chút về khái niệm.
Cụm từ "tái cấu trúc hệ thống ngân hàng" chỉ dùng khi có
bằng chứng mất khả năng thanh toán của một bộ phận trong
hệ thống ngân hàng thương mại ở một quy mô nhất định nào
đó, mà theo như một số tác giả thì tương đương với 20%
tổng lượng tiền gửi trong hệ thống ngân hàng. Nếu ở quy
mô nhỏ hơn thì cụm từ "tái cấu trúc ngân hàng" là chính xác
hơn, liên quan đến việc xử lý khả năng mất thanh khoản của
từng ngân hàng riêng biệt.

Ở Việt Nam, vì chưa/không có những số liệu đáng tin cậy
về rủi ro mất thanh khoản của từng ngân hàng và cả hệ
thống ngân hàng nên sự cần thiết phải tiến hành "tái cấu
trúc hệ thống ngân hàng" đã chưa được minh chứng đầy
đủ, gợi cho ta thấy cái gì đó như có tính phong trào, cũng
như kiểu gần đây rộ lên cụm từ "tái cấu trúc nền kinh
tế", mặc dù không có nhiều người hiểu đúng thế nào là
tái cấu trúc nền kinh tế và, quan trọng hơn, là nên bắt
đầu từ đâu, làm như thế nào, bằng phương tiện gì v.v...

Giả thiết rằng hệ thống ngân hàng Việt Nam đang trên bờ
vực khủng hoảng, mất khả năng thanh toán do nợ xấu tăng
mạnh và thiếu hụt thanh khoản (ở một số ngân hàng, và có
khả năng lây lan rộng và nhanh chóng), cần phải thực thi ngay
việc tái cấu trúc nó. Lúc này, tình hình đã vượt khỏi
phạm vi trách nhiệm và can thiệp của NHNN.

Chính phủ cần phải đưa ra một gói chính sách và giải pháp,
bao gồm chuẩn đoán ở tầm vĩ mô các nguyên nhân gây ra rủi
ro đổ vỡ hệ thống cũng như các giải pháp ở tầm vi mô
để tăng cường giám sát hoạt động ngân hàng, sửa chữa
những thiếu sót trong hệ thống pháp lý, luật lệ và trong
công tác kế toán, kiểm toán, và cứu vớt hay giải thể các
ngân hàng mất khả năng thanh toán. Sự thành công của việc
tái cấu trúc hệ thống ngân hàng phụ thuộc rất nhiều vào
một chiến lược toàn diện xử lý hữu hiệu tất cả các
vấn đề này.

<h2>Mất khả năng thanh toán - Khó thấy, khó thừa nhận</h2>

Trở ngại đầu tiên khi tái cấu trúc ngân hàng, cho dù là tái
cấu trúc một ngân hàng hay cả hệ thống, là sự thiếu động
lực cho cả giới quản lý ngân hàng lẫn giới giám sát ngân
hàng để nhận ra và xử lý các ngân hàng mất khả năng thanh
toán. Mặc dù người ta đã cố gắng áp dụng các chuẩn mực
vốn theo khuyến nghị của Ủy ban Giám sát ngân hàng Basle (Basle
Committee) để đánh giá rủi ro tài sản ngân hàng nhưng sẽ
vấn rất khó để giới quản lý và giám sát ngân hàng nhận ra
và thừa nhận rằng một ngân hàng nào đó đang phải đối
mặt với thua lỗ không thể khắc phục được trong một thời
gian định trước theo luật định hiện hành.

Lý do đằng sau việc này một phần là bởi sự thiếu vắng
các chuẩn mực kế toán dẫn đến các khoản vay xấu tiếp
tục được gia hạn, một phần là bởi người ta e ngại rủi
ro chính trị khi phải tuyên bố dùng tiền thuế của dân để
cứu vớt ngân hàng phá sản, và phần nữa là do các ông chủ
ngân hàng cũng như Chính phủ muốn duy trì một ngân hàng nào
đó để cấp vốn cho một nhóm lợi ích hoặc một bộ phận
kinh tế nào đó bằng mọi giá cho đến lúc nào có thể. Điều
không may là việc không nhận ra và có hành động kịp thời
đối với một ngân hàng có vấn đề nào đó thường dẫn
tới sự tích tụ các tài sản xấu và ở trong các ngân hàng
làm tăng khả năng đổ vỡ cho toàn hệ thống, để rồi
người ta lại càng tìm cách che đậy và do đó vòng xoáy che
giấu - tích tụ tài sản xấu - che giấu càng ngày càng tăng
mãnh liệt đến lúc sụp đổ cả hệ thống.

Ở Việt Nam, trong tình hình tù mù thông tin với những lời
đồn đoán, người ta chỉ được nghe những lời tuyên bố
của giới quản lý ngân hàng nào đó rằng ngân hàng của họ
chỉ có tỷ lệ nợ xấu dăm ba phần trăm gì đó, còn lâu mới
đạt đến giới hạn nguy hiểm. Hy vọng rằng tình hình thực
tế không giống như những gì mô tả ở đây.

<h2>Các kịch bản đối phó</h2>

Chính phủ nếu không muốn đóng cửa các ngân hàng phá sản
thì thường sử dụng đến mấy giải pháp như: (i) gửi tiền
vào tổ chức ngân hàng có vấn đề, biến nó thành vốn góp
chủ sở hữu. Việc này thường dẫn đến tổn thất lớn về
ngân sách và dự trữ ngoại hối quốc gia; (ii) sáp nhập dưới
bàn tay đạo diễn của Chính phủ. Chính sách này đặc biệt
hay được dùng khi Chính phủ bị hạn chế bởi nguồn vốn
dùng để xử lý hậu quả của việc đóng cửa ngân hàng và
khi toàn hệ thống ngân hàng có đủ lực tài chính để hấp
thu ngân hàng phá sản. Tuy nhiên, khi phần lớn hệ thống bị
suy sụp thì việc sáp nhập trở nên bất khả; và (iii) Chính
phủ trực tiếp hỗ trợ. Có một số hình thức hỗ trợ, tùy
thuộc vào mức độ khủng hoảng thanh khoản của các ngân
hàng. Nếu tình hình chưa đến mức độ nghiêm trọng thì chính
phủ có thể hỗ trợ thanh khoản, áp đặt trần lãi suất huy
động (để chuyển một phần tổn thất vốn do nợ xấu cho
người gửi tiền gánh chịu), kết hợp với việc cấm chuyển
tiền gửi ra nước ngoài hoặc mở rộng loại hình kinh doanh
hợp pháp cho ngân hàng (với hy vọng rằng các ngân hàng sẽ
thành công ở những mảng kinh doanh phi ngân hàng này hơn là ở
những mảng kinh doanh ngân hàng truyền thống). Dường như Chính
phủ và NHNN đã có một số kinh nghiệm áp dụng cả 3 biện
pháp này trong một vài thời điểm ở Việt Nam.

Khi tình hình thiếu hụt thanh khoản ở mức khủng hoảng thì
các biện pháp can thiệp và hỗ trợ trực tiếp của Chính phủ
phải nhằm xử lý các vấn đề về thiếu hụt vốn (điều
lệ) và mất cân đối trên bảng cân đối tài sản của các
các ngân hàng. Điển hình của các biện pháp này là sự bơm
vốn trực tiếp của Chính phủ vào ngân hàng có vấn đề
thông qua việc mua lại các tài sản xấu và cổ phần của các
cổ đông (chính) và đưa người của mình vào các vị trí
quản lý chủ chốt. Kèm theo đó, Chính phủ cũng có thể tuyên
bố bảo lãnh cho tất cả các khoản tiền gửi (theo đó là
tăng rủi ro đạo đức, như nói ở phần trên).

<h2>Bốn bước tái cấu trúc</h2>

Như vậy, phương pháp tái cấu trúc hệ thống ngân hàng để
ngăn ngừa một sự đổ vỡ trước mắt và phục hồi lòng tin
thì có nhiều, nhưng điều quan trọng hơn là việc sử dụng
chúng không được làm ảnh hưởng xấu hoặc đảo ngược
tiến trình cải cách và lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng
trong dài hạn. Để tái cấu trúc thành công trong dài hạn cần
sử dụng các phương pháp thỏa mãn được các tiêu chí: tiết
kiệm tối đa phí tổn, đơn giản khi thực hiện, phân bổ tổn
thất một cách công bằng, giảm thiểu gánh nặng tài chính cho
khu vực công, tránh tạo ra thêm các rủi ro đạo đức, và nâng
cao chất lượng quản trị ngân hàng.

Khó có thể biết những biện pháp tái cơ cấu một hay một
số ngân hàng có vấn đề nào đó của NHNN từ trước cho
đến nay có thỏa mãn được các tiêu chí này không, cũng do vì
sự không công khai thông tin từ NHNN. Thậm chí, theo lời nguyên
Thống đốc NHNN Lê Đức Thúy, khi ông tại vị đã tiến hành
một loạt các vụ sáp nhập các ngân hàng thương mại với nhau
mà người ta chỉ biết được khi ông tiết lộ gần đây.

Về mặt pháp lý, quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng
sẽ bao gồm 4 công việc có liên quan đến nhau:

1. Phục hồi lòng tin vào hệ thông ngân hàng (thông qua bảo
lãnh tiền gửi, củng cố cơ cấu thể chế, thi hành các chuẩn
mực kiểm toán và kế toán quốc tế, nhất là chi tiêu phân
loại tài sản, thắt chặt công tác giám sát tuân thủ luật
lệ, đào tạo cán bộ thanh tra giám sát của Chính phủ và nhân
lực kiểm toán.

2. Thiết lập một khuôn khổ pháp lý cho can thiệp của Chính
phủ nhằm đảm bảo rằng hệ thống bảo hiểm tiền gửi có
đủ vốn để xử lý khủng hoảng và có thể được sử dụng
một cách nhanh chóng và hiệu quả, và Chính phủ có được
một quy trình toàn diện về theo dõi và đánh giá liên tục
tình trạng nợ xấu và mất thanh khoản trong hệ thống ngân
hàng, tránh được tình trạng bị động.

3. Thiết lập một khuôn khổ pháp lý cho can thiệp của Chính
phủ vào ngân hàng mất khả năng thanh toán. Quá trình can thiệp
của Chính phủ sẽ làm nảy sinh một số vấn đề về pháp lý
liên quan đến việc nắm giữ cổ phần của các cổ đông
hiện tại và vì thế cần có luật tương ứng để điều
chỉnh. Ví dụ, khi Chính phủ bơm vốn vào cho một ngân hàng và
nếu muốn các cổ đông hiện tại phải rút bớt cổ phần
tương ứng để Chính phủ trở thành cổ đông chính có quyền
bổ nhiệm người của mình vào các vị trí quản lý thì cần
phải có một luật cho phép Chính phủ làm như vậy nếu họ
không tự nguyện xin rút.

4. Thiết lập một cơ cấu để phục hồi tối đa các khoản
nợ xấu. Phần nợ xấu (đáng kể) sau khi đã được phân
loại thì chuyển giao xử lý cho (i) một bộ phận độc lập
trong ngân hàng, chuyên trách về việc phục hồi tài sản; hoặc
(ii) một cơ quan chuyên trách của Chính phủ như công ty quản
lý tài sản (ACM) chuyên tiếp nhận, quản lý và thanh lý tài
sản xấu.

Như vậy, có thể thấy quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân
hàng là một quá trình lâu dài, bao gồm nhiều biện pháp pháp
lý triển khai theo từng bước từ những biện pháp khẩn cấp
lập lại lòng tin đến việc tạo dựng những cơ chế để xử
lý những ngân hàng đổ vỡ và giải quyết tài sản tồn
đọng của chúng.

Bên cạnh tính pháp lý, yếu tố con người cũng rất quan
trọng. Những cán bộ thanh tra giám sát ngân hàng cần phải
được đào tạo và trang bị các kỹ năng để thực thi các
luật định, và các nhà quản lý ngân hàng cần phải thấy
được các lợi ích thiết thực khi tuân thủ nghiêm túc các
luật định phòng ngừa rủi ro và thi hành các tiêu chuẩn kế
toán, kiểm toán quốc tế. Nói cách khác, khuôn khổ pháp lý
xung quanh viêc tái cấu trúc ngân hàng cần đảm bảo một cơ
cấu thưởng phạt nhất quán để trừng trị các hành động
gian lận, đầu cơ, đồng thời tưởng thưởng thái độ tuân
thủ pháp luật về phòng ngừa rủi ro.

Rất mong là trên thực tế NHNN và rộng hơn là Chính phủ đã
có những bước chuẩn bị và đã xây dựng được những thể
chế và khuôn khổ pháp lý cần thiết, áp dụng và thực thi
được các chuẩn mực quốc tế trong phòng ngừa rủi ro, và
xây dựng được đội ngũ nhân lực chuyên môn để sẵn sàng
phục vụ cho quá trình tái cấu trúc ngân hàng khi cần thiết,
và trên hết hiểu rõ được nguyên nhân và cách xử lý vấn
đề v.v... là những thứ mới nêu được một phần trong bài
này.

Cũng mong rằng những bên hữu quan trên thực tế đã thực
hiện được một số công việc cần làm liên quan đến tái
cấu trúc mà không chỉ dừng lại ở việc tranh luận xem tái
cấu trúc thì cần xóa bỏ ngân hàng nào, xóa bỏ bao nhiêu ngân
hàng thì là đủ, xóa bỏ xong rồi thì làm gì... như đang diễn
ra sôi nổi hiện nay, vốn chỉ làm cho người ta nghi hoặc rằng
rốt cuộc hiểu biết về vấn đề tái cấu trúc còn quá hạn
chế, mâu thuẫn, bất nhất, trong khi chưa có nhiều việc cần
làm đã làm xong để sẵn sàng đối mặt với nguy cơ của một
cuộc khủng hoảng thật sự có thể diễn ra nay mai.

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/10378), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét