Nguyễn Trung - Suy nghĩ về sự nghiệp duy tân đất nước. Hay là ảo tưởng? (2)

<h2>II. Lịch sử nói gì? Việt Nam dưới triều đại Gia Long và
Nhật dưới thời Minh Trị</h2>

Từ lâu, mỗi khi nghĩ về thân phận hèn kém ngày nay
của quốc gia và dân tộc mình, tôi băn khoăn với không biết
bao nhiêu câu hỏi "vì sao?". Trong những vì sao? không đếm
xuể như sao trên trời ấy, cộm lên trên tất cả vẫn là
những câu hỏi về vận mệnh đất nước ta trong thế giới
ngày nay.

Đất nước ta không nhỏ, dân tộc ta có cả một bề
dày lịch sử và văn hóa dù chẳng phải là tuyệt đỉnh nhân
loại, nhưng hậu duệ như chúng ta ngày nay chẳng đến nỗi
phải hổ thẹn về tổ tiên và nguồn gốc của mình, kể cả
đối với những ai đó quá nguội lạnh và để quên đâu đó
niềm tự hào về cội nguồn. Đấy là chưa nói hậu duệ chúng
ta ngày nay có không ít thua kém tổ tiên mình trong những giai
đoạn tổ quốc đứng trước những thách thức quyết liệt
nhất, nợ các bậc tiền bối của mình về không biết bao
điều!

Một đất nước như thế, một dân tộc như thế, vì
sao đến hôm nay vẫn đứng trong hàng ngũ các nước nghèo và
lạc hậu trên thế giới?[4] Bài 1 và trong một số bài viết
khác tôi đã đưa ra những số liệu so sánh nước ta đi như
vừa qua là quá chậm so với thiên hạ.

…Nhất là trong thế giới đương đại ngày nay, chỉ
tính từ sau chiến tranh thế giới II, ở cả 5 châu lục cộng
lại, đã có tới hàng chục nước từ hoàn cảnh tương tự
như nước ta, nay đã vượt lên bỏ xa nước ta về trình độ
phát triển. Trong những nước này, một số đã đứng vào nhóm
các nước phát triển, một số đã tham gia tổ chức OECD
(Organization for Economic Cooperation and Development), một số nước
là thành viên của "G" nọ "G" kia có vai trò nổi bật
đối với sự phát triển của cả thế giới.… Vì sao?

Điểm lại, Việt Nam thời Gia Long là một quốc gia
phát triển hoàn chỉnh nhất trong lịch sử của mình, và đấy
cũng là diện mạo của nước ta ngày nay. Việt Nam thời triều
đại Gia Long có thể được coi là một nước mạnh trong khu
vực của lịch sử đương thời. Có lẽ ngoài Trung Quốc giữ
vị thế lịch sử là "thiên quốc", thời ấy nước ta nếu
không phát triển hơn thì có lẽ cũng không thua kém các quốc
gia còn lại khác trong khu vực châu Á bao nhiêu.

Thế nhưng, sau khi triều đại Gia Long củng cố vững
chắc địa vị thống trị quốc gia của mình khoảng hơn 5
thập kỷ, ở châu Á vào những năm 1866-1869 xuất hiện cuộc
cách mạng Thiên Hoàng Minh Trị[5], đưa nước Nhật đi hẳn về
một ngả khác, bỏ lại bơ vơ "Thiên Quốc" mà Nhật đã
từng chịu không ít ảnh hưởng, bỏ lại cả châu Á lạc lõng
phía sau - trong đó có nước ta.

Không thể không hỏi: Điều gì đã làm nên sự khác
biệt giữa Nhật và Việt Nam như giữa trần gian và địa ngục
thế này?

Không có nước nào giống nước nào trên thế giới.
Nhưng so sánh tương đối mọi mặt, sự khác biệt giữa Việt
Nam và Nhật đại thể không đến nỗi một trời một vực.
Nói theo ngôn ngữ cổ, từ khi vua Gia Long lên ngôi năm 1802 đến
khoảng giữa đời vua Tự Đức (trị vì 1847- 1883) (nghĩa là
khi xảy ra cách mạng Thiên Hoàng Minh Trị 1866-1869), nếu hai
nước không được kẻ tám lạng kẻ nửa cân[6], chí ít ta
cũng được năm, sáu lạng hoặc nhỉnh hơn chút chút, nghĩa là
đều có sự phát triển kinh tế, chính trị và nội trị - bao
gồm cả văn hóa – na ná ngang nhau, có những vấn đề về
phát triển phải giải quyết trong đối nội và đối ngoại
gần như giống nhau.

Sử liệu mách bảo, cái mà lúc ấy nước ta không có
hoặc khác hẳn so với Nhật là ở những điểm:

<div class="special_quote">Sức ép mở mang thương mại của các
nước "Tây dương" từ đầu thế kỷ XIX (đặc biệt là
cuộc tiến công của tầu chiến Mỹ do đô đốc Perry chỉ huy
bắn phá Yokohama 1853), có thể được coi như làn sóng cuối
cùng dẫn tới sụp đổ triều đại Mạc Phủ, mở đường cho
thời đại Thiên Hoàng Minh trị. Từ đây nước Nhật được
thúc đảy cải cách, nhằm phát triển mở mang kinh tế theo con
đường công nghiệp hóa. Trước đó, tại Nhật đã có những
làn sóng, lúc âm thầm, lúc dữ dội, thường xuyên xói mòn mãi
đến tận gốc rễ chế độ chính trị phong kiến Tống Nho
của Nhật. Đó là quá trình hình thành từng bước và liên
tục qua nhiều thế kỷ kinh tế đô thị của các tầng lớp
trên, thường trực tạo ra sức ép về văn hóa và tư tưởng.
Sức ép này chỉ rình chờ bắt lấy cơ hội thay đổi. Và khi
cơ hội đến, chính nó đã trở thành động lực của sự thay
đổi nước Nhật[7]. (Sức ép văn hóa tư tưởng này chính là
điều đã bị triệt tận gốc ở nước ta suốt triều đại
các vua Nguyễn).</li>

Nhật tranh thủ điều kiện này mở rộng tầm nhìn ra toàn thế
giới.

Từ đây Nhật đặc biệt chú trọng cải cách giáo dục; đề
cao học tập nhiều cái mới, ứng dụng khoa học và công nghệ
phương Tây, xây dựng được một chính thể với mục tiêu duy
nhất là tạo mọi điều kiện cần thiết để phát triển
nước Nhật.</div>

Song cách phản ứng của nước ta thời ấy là:

<div class="special_quote">Bế quan tỏa cảng, coi mở rộng thương
mại với bên ngoài chỉ làm hỏng đất nước. Các sứ thần
của ta như Nguyễn Hiệp, Lê Đĩnh, Phan Lương…đi các nơi về
báo cáo nhà vua là các nước đều làm khác, khuyên phải thay
đổi, nhưng nhà vua đều cho là không hợp, mặc dù suốt toàn
bộ sự nghiệp thành vương của mình Gia Long tiếp xúc nhiều
với thế giới bên ngoài, không chi riêng với nước Pháp;
khoảng năm 1839 vua Minh Mạng đã cho sứ bộ của mình đi một
số nước châu Âu để nắm tình hình... Đã thế, sử liệu
còn cho thấy nhìn chung triều đình chủ trương phó thác việc
buôn bán cho Hoa kiều, Hoa kiều hầu như đứng ngoài luật
pháp...[8] Không ít các trí giả như Nguyễn Đức Hậu, Nguyễn
Trường Tộ, Nguyễn Điểu… đã từng đi du học phương Tây,
đưa ra nhiều kiến nghị cải cách, song tất thảy đều bị
bỏ xó. Mọi điều mới mẻ được tâu lên, các cận thần
thường bác bỏ trước – vì cho đấy là những gì "khác
đời" và trái với đạo lý và triết lý của triều đình,
sau đó đến lượt nhà vua tán thành các cận thần của mình.
Không ít trường hợp nhà vua trực tiếp bác bỏ cái mới.
Thực tế này đã triệt bỏ mọi khả năng canh tân của Việt
Nam khi thách thức và thời cơ đến (Georges Condominas)[9]

Thế giới và thế giới quan của triều đình nước ta ở giai
đoạn này chỉ có Trung Quốc và là Trung Quốc, mặc dù triều
đại Gia Long ý thức rất rõ Trung Quốc như một mối nguy xâm
lược thường trực. Nho giáo và Khổng giáo không những được
tiếp thu nguyên vẹn mà còn được nâng lên thành nền tảng
trí tuệ, đạo lý và kỷ cương cho đất nước mình, thậm chí
còn được vận dụng là chất liệu cho tầm cao văn hóa nước
nhà… Tất cả chỉ để nuôi dưỡng lề thói cũ như một
giường cột tinh thần gìn giữ sơn hà xã tắc, thực chất
chỉ là để gìn giữ triều chính tồn tại. Có thể xem đấy
là một dạng ý thức hệ nguy hiểm, được nâng lên tới mức
như lẽ sống, một quốc đạo của triều đại này.

Giáo dục chẳng những hầu như không đếm xỉa gì đến khoa
học - công nghệ, càng không quan tâm mở mang dân trí, tri thức,
mà chỉ tập trung vào dùi mài kinh sử làu làu theo kiểu trích
cú tầm chương (chủ yếu là Tứ thư Ngũ kinh, Sử Tàu…), với
mục tiêu duy nhất là đào tạo ra các tầng lớp quan lại giúp
vua cai trị đất nước. Nguồn lực quốc gia thực hiện mục
tiêu này chủ yếu lấy từ thuế đánh vào đất đai rất hạn
chế, đương nhiên với mọi hệ quả hủ bại của tình trạng
một đất nước kém phát triển; quan liêu tham nhũng tệ hại
trở thành tất yếu[10].</div>

Kết quả hai nước gặt hái được cũng hoàn toàn trái
ngược nhau:

<ul><li>Nhật trở thành nước đế quốc trong khoảng thời gian
rất ngắn, chỉ vài thập kỷ sau đã cùng nhiều đế quốc
khác tham gia cuộc chiến tranh nha phiến… Sau hơn 3 thập kỷ,
năm 1895, Nhật đã có chiến thắng đầu tiên chống Trung Quốc
và chiếm được Đài Loan, thập kỷ tiếp sau đó lại chiến
thắng đế quốc Nga Hoàng trong thủy chiến ở Hoàng Hải năm
1905 giành được Mãn Châu; tháng 12-1941 – nghĩa là chỉ sau 7
thập kỷ kể từ cách mạng Thiên Hoàng - Minh Trị, Nhật đánh
trận Chân Châu Cảng làm nước Mỹ bàng hoàng và trở thành
một đế quốc gây chiến tranh thế giới II…</li>

<li>Khi quân Pháp nổ súng chiếm Đà Nẵng 1858, Việt Nam từ
đỉnh cao của triều đại Gia Long phải ký Hòa ước Nhâm Tuất
(1862) nhượng địa Nam Kỳ, rồi lần lần sau nhiều diễn biến
khác, phải gông trên người mình ách thuộc địa Pháp cho đến
tận 1945, với không biết bao nhiêu hệ lụy.</li></ul>

Những điều kiện địa lý tự nhiên và tình hình
thời sự mọi mặt thời đó trong khu vực châu Á cho phép giả
định là sức ép mở mang thương mại từ các nước Tây Dương
dội vào Nhật lúc bấy giờ đại thể cũng tương đương như
tác động vào nước ta. Chỉ có cách tiếp cận và sự lựa
chọn giải pháp cho thách thức của hai nước lúc đó khác nhau.

Nguyên nhân chủ yếu dẫn tới hai kết quả trái
ngược nhau của hai nước có lẽ bắt đầu từ tầm nhìn.

Nhận thức thế giới một cách khác, Nhật đã mau
chóng học hỏi và tự tạo ra cho mình động lực mạnh mẽ đi
vào con đường công nghiệp hóa, bắt kịp sự phát triển của
chủ nghĩa tư bản và vươn lên rất nhanh. Trong khi đó các
triều đại vua Việt Nam thay nhau tự trói mình vào tầm nhìn
thủ cựu của chính mình để tự vệ, và qua đó tự biến
mình trở thành kẻ nô lệ của quá khứ, trước khi bị ngoại
bang áp đặt ách thuộc địa.

Rất nên có những công trình nghiên cứu tìm hiểu kỹ
thêm khía cạnh Việt Nam thời ấy đã tự trói mình vào triết
lý hủ bại để tự làm suy yếu mình, trước khi Pháp có thể
dốc ra lực lượng chưa hẳn là mạnh áp đảo về mặt quân
sự để khuất phục được Việt Nam thành thuộc địa. Từ
điểm này của lịch sử, nên chăng tự hỏi: Ngày nay ta đang
tự trói mình như thế nào?

Trước hết phải nói tới bộ máy quan liêu cai quản
đất nước ta quá bất cập của thời ấy, được đào tạo ra
trên cơ sở một thế giới quan lỗi thời và từ một nền
giáo dục lạc hậu như đã nói trên. (So với ngày nay thế
nào?) Ngoài việc xây dựng lăng tẩm, khó mà nói rằng các
vương triều thời đại Gia Long đã để lại tiến bộ mới
nào đáng kể về kinh tế, khoa học công nghệ, hay kết cấu
hạ tầng của đất nước… – giữa lúc thế giới phương
Tây đã chuyển sang thời kỳ công nghiệp hóa, và chủ nghĩa tư
bản đang trên đường trở thành chủ nghĩa đế quốc.

Trên cơ sở một nền kinh tế ngày càng sa sút nhanh
chóng do sự kìm hãm của bộ máy cai trị quan liêu, và với
triết lý quốc gia lấy Nho giáo - Khổng giáo làm gốc như thế,
đã hình thành một thượng tầng kiến trúc "gia cố" không
ngừng sự lạc hậu của đất nước, làm cho đất nước ngày
một nghèo đi và tích tụ những mâu thuẫn xã hội mới. Sức
ép thương mại từ bên ngoài và sự thâm nhập của công giáo
(được vận dụng là những hình thức mở đường cho chủ
nghĩa thực dân) làm cho nội trị đất nước phức tạp thêm,
đồng thời làm cho triều đình càng tự trói mình chặt hơn
nữa, càng bảo thủ lạc hậu để cố thủ; từ đó quan liêu
gia tăng, mâu thuẫn xã hội và loạn lạc ở các địa phương
cũng gia tăng. Cuối trào – kể từ Tự Đức, đất nước còn
phải chịu thêm gánh nặng loạn các "giặc cờ" (các nhóm
giặc cờ đen, cờ vàng khác nhau là tàn dư tan vỡ của cuộc
cách mạng Thái bình thiên quốc ở Trung Quốc).

Có thể nói, đến triều Tự Đức đất nước thật
sự kiệt quệ, mục nát, triển vọng để phát triển không có,
sức đề kháng không còn lại bao nhiêu. Chúng ta trân trọng và
tôn vinh ý chí hy sinh chiến đấu của Nguyễn Tri Phương trong
bảo vệ thành Hà Nội. Song cũng cần chú ý một chi tiết của
lịch sử thành Hà Nội bị hạ năm 1882 (thất thủ lần thứ
nhất), được viên lãnh sự Pháp tại Hà Nội thời đó là
Kergaradec báo cáo về nước, Tsuboi đã sưu tầm được và đưa
vào luận văn tiến sỹ của mình: "…188 thủy thủ hay binh
sĩ Pháp và 24 người châu Á, với chỉ 8 họng súng (đại bác
hay súng trường?- NT) đủ đánh chiếm một tỉnh thành được
bảo vệ bởi những lực lượng thiện chiến nhất của Việt
Nam, từ Huế ra, gồm 7000 người, dưới quyền lãnh đạo của
viên tướng tài nhất của họ.."[11]. Một số sử liệu chi
tiết khác còn ghi, khi tướng Nguyễn Tri Phương từ Huế ra
đến nơi để giữ thành, nhiều súng thần công đã hoen gỉ
không dùng được, kỷ cương trong thành mục nát… Có lẽ một
chi tiết này cũng đủ cho chúng ta thấy tận bên trong mọi hệ
quả mọt luỗng sâu xa của một triều chính quốc gia tự trói
mình làm nô lệ quá khứ.

Trong phần nói về đình thần – nghĩa là về các
tầng lớp quan lại kế cận triều đình của các vương triều
thời Nguyễn, sử gia Trần Trọng Kim nhận xét: Nhà vua cai trị
đất nước qua đình thần nên hầu như xa rời và không nắm
được thực trạng đất nước; đình thần vừa bảo thủ,
tranh giành lẫn nhau về ảnh hưởng và quyền lợi, vừa rất
sợ những ai hơn mình, coi bất kể cái gì mới đều là không
hợp và có nguy cơ làm bộc lộ yếu kém của mình… Sử gia
kết luận đau sót: "Đến khi nước Pháp đã sang lấy đất
Nam Kỳ, đã ra đánh Bắc, tình thế nguy cấp đến nơi rồi,
thế mà cứ khư khư giữ lấy thói cổ, hễ ai nói đến sự gì
hơi mới một tí, thì bác đi. Như thế thì làm thế nào mà
không hỏng việc được."[12] Còn sứ Pháp tại Huế P. Rheinart
báo cáo về thống đốc Pháp ở Nam Kỳ năm 1875 "…Con số
những người muốn chống đối vì mất độc lập công nhiên
của đất nước Việt Nam sẽ rất nhỏ không thể lôi cuốn
nhân dân. Dân chúng biết là chẳng còn có thể mất gì thêm
nữa, sẽ chỉ có thể được lợi trong sự đổi thay, bất kể
đổi thay thế nào khỏi tình trạng hiện tại…"[13] Tâm thế
dân tình như vậy, làm sao nước không mất?!

Sự tranh giành diệt lẫn nhau trong nội bộ đình thần
rất quyết liệt, như xưa và nay thường thấy ở bất kỳ một
triều chính chuyên chế nào trên thế giới – nghĩa là không
có ngoại lệ. Càng mục nát càng tranh giành nhau. Đỉnh cao của
sự vận động này trong lịch sử các triều vua Nguyễn theo các
sử liệu Tsuboi sưu tầm được có lẽ là sự việc nhân vật
quan đại thần Trương Đăng Quế loại bỏ các kình địch của
mình, tự tay tiến hành âm mưu phế con cả của vua Thiệu Trị
là Hồng Bảo (An Phong), để đưa con thứ của vua là Hồng
Nhậm lên ngôi – vua Tự Đức. Hậu họa là đất nước đã
kém, nát, lại không bao giờ được yên do những chống đối
phát sinh sau đó.

Cuối đời, vua Tự Đức cũng tiến hành một số thay
đổi: cải cách thuế ruộng đất 1875, cải cách quân đội
1876, cải cách thi cử 1879… Tsuboi nhận xét: "…Tuy nhiên mọi
cải cách đều hỏng chỉ vì bản thân chế độ không đặt ra
một vấn đề nào cho cả Tự Đức lẫn các quan; họ thấy
chính quyền của họ điều hành tồi tệ, nhưng họ không ngờ
vực gì hết đối với những khuôn phép Nho giáo đang là nền
móng của triều đại. Sự tin tưởng mù quáng của họ vào
hệ thống đó đã ngăn cản họ…"[14] (người trích dẫn tô
đậm). Một nhận xét nhức buốt còn nguyên tính thời sự cho
hôm nay.

Chỉ có thể kết luận: Chính vì sự mù quáng này,
chung cuộc Việt Nam mất nước vào tay thực dân Pháp ở thời
điểm Việt Nam phát triển hoàn chỉnh nhất trong lịch sử của
mình và là một nước mạnh trong khu vực. Đấy cũng là cảm
nghĩ chua xót của tôi khi ngồi vào bàn phím viết "Thời cơ
vàng – Hiểm họa đen" năm 2006.

Vì vậy vẫn chưa hết, vẫn nhoi nhói các câu hỏi:

- Vì sao Nhật thời Minh Trị có được cách nhìn khác,
dẫn tới tầm nhìn khác và sự lựa chọn khác, trong khi đó
Việt Nam dưới triều đại các vua thời Gia Long không có
được?

- Vì sao Nhật thời Minh Trị thực hiện được cái mà
tầm nhìn mới mở ra cho họ, còn Việt Nam các triều đại Gia
Long cuối cùng cũng nhận ra phải cải cách nhưng hoàn toàn bất
lực?[15]

- Vân vân…

Sử gia Trần Trọng Kim còn ghi chuyện này nữa: Nước
sắp mất, triều đình ta còn cử sứ Phạm Thận Duật sang cầu
cứu nước Tàu, mà không biết là chính Tàu lúc này ốc không
mang nổi mình ốc, cho nên chỉ rước thêm hậu họa. Tổng
đốc Lưỡng Quảng lúc ấy là Trương Thụ Thanh báo cáo về
Bắc Kinh: "Nước Nam và nước Tàu tiếp giáp với nhau mà thế
lực nước Nam thật suy hèn, không có thể tự chủ được
nữa, vậy ta nên mượn tiếng sang đánh giặc mà đóng giữ các
tỉnh thượng du. Đợi khi có biến thì ta chiếm lấy những
tỉnh phía Bắc sông Hồng Hà…"[16]

Chuyện ngày xưa là như vậy.

Tôi tin rằng kìm hãm kinh tế phát triển qua việc bế
quan tỏa cảng đã trực tiếp giữ Việt Nam đứng lại trong
chế độ phong kiến nông nghiệp lạc hậu. Song có lẽ chưa
đủ. Đến nay tôi thực sự chưa có câu trả lời nào thuyết
phục được chính mình về khúc quanh lịch sử này. Chắc chắn
còn phải có các yếu tố gì khác nữa sâu xa hơn thuộc phạm
trù văn hóa. Xin thỉnh cầu mọi người lý giải.

Trong hầu hết những bài tôi viết gần đây có liên
quan, tôi vẫn chưa giải thoát được mình khỏi câu hỏi:
Chẳng lẽ dân tộc ta chỉ thông minh dũng cảm, chỉ cố kết
được với nhau khi bị ngoại xâm, còn trong thời bình thì…?
Xin nói ngay, sự cố kết để tự vệ, để tồn tại như thế,
cho dù anh dũng đến thế nào đi nữa, vẫn là dạng thấp hơn
so với cố kết để phát triển và để từ đó tạo ra văn
hóa của phát triển của dân tộc, của quốc gia. Có phải như
vậy không? Tự nhận diện lại dân tộc mình và vai trò của
thể chế chính trị – rõ ràng là một vấn đề rất trọng
đại của kịch bản duy tân.

Ngoài đời phong phú những đàm tiếu: Một người
Việt Nam nếu không hơn, không bằng, không hẳn thua một người
Nhật; ba người Việt Nam thường thua một người Nhật; ba
người Việt Nam chắc chắn thua ba người Nhật!..

Rồi đây, đàm tiếu hay không đàm tiếu, duy tân hay không duy
tân… sẽ có thể tranh luận nổ trời với nhau. Song trước
hết xin hãy để lịch sử là tấm gương soi lại mình khởi
đầu cho cuộc tranh luận này.

Cuối cùng, dựa vào sử, tôi muốn đặt ra ở đây câu
hỏi cũ kỹ đã bao nhiêu người đặt ra và vẫn đang tìm câu
trả lời: Có hay không nguy cơ đất nước ta ngày nay lại lỡ
hẹn với con tầu thời đại, như triều đại Gia Long đã từng
lỡ hẹn? Lịch sự gợi ý cho ta những gì?

<h2>III. Những hòn đá tảng và hố đen trên con đường</h2>

Có nhiều lắm. Từ lịch sử để lại, và từ những
hậu quả do thể chế chính trị - kinh tế - xã hội của đất
nước hôm nay gây ra. Chẳng có cách nào khác, ngoài ý chí nhìn
thẳng vào sự thật và chân cứng đá mềm.

Không thể đề cập hết được mọi chuyện trong bài
viết này, dù là chỉ lựa chọn những vấn đề lớn. Trong
phần III này tôi chỉ xin lẩy ra 2 vấn đề mà tôi cho là nóng
bỏng nhất:

1. Quán tính lịch sử,

2. Tình trạng đoàn kết dân tộc hôm nay.

<h3>III.1. Quán tính lịch sử</h3>

Đây là một trong những chủ đề lớn, tôi đã đề
cập đến trong tiểu thuyết "Dòng đời" - xuất bản năm
2006[17]

Gọi là quán tính lịch sử, tôi hiểu đơn giản đấy
là những gì lạc hậu vốn có trong quá khứ của đất nước,
cách mạng đã tìm cách xóa bỏ hay thay đổi rất triệt để.
Nhưng vì nhiều lý do và nguyên nhân khác nhau, hôm nay những cái
cần và phải xếp vào kho lưu trữ của lịch sử như thế cứ
tự nó sống lại, hoành hành dữ dội, như thể theo một chu
kỳ nào đó của quán tính.

Cái quán tính lịch sử này rất oái oăm và gây ra
không ít đau khổ cho đất nước, đã được dân ta bao đời
dưới chế độ phong kiến khái quát trong một câu ca dao cửa
miệng:

<em>Con vua thì lại làm vua
Con lão sãi chùa lại quét lá đa</em>

Đơn giản là vì cái quán tính lịch sử này thường
đảo lộn hay băng hoại hầu hết mọi giá trị hay những nỗ
lực tốt đẹp của xã hội, mà trước đó nhân dân và những
lực lượng tinh túy của mình phải đổ xương máu mới giành
lại hay mới xây dựng nên được, ví dụ chiến đấu dẹp bỏ
một triều đại thối nát để dựng lên một triều đại lành
mạnh mới. Một khi cái quán tính lịch sử này trỗi dậy, có
nghĩa là một chu kỳ mới của cái vòng đời oái oăm đầy đau
khổ của đất nước lại bắt đầu…

Tôi vấp phải cái quán tính lịch sử này, đơn giản
vì ngày càng cảm thấy, đất nước độc lập thống nhất
vừa mới đây thôi, nghĩa là cả một quá khứ hào hùng đấu
tranh vũ trang chống ngoại xâm còn nóng hổi, biết bao nhiêu giá
trị cao quý rèn luyện được trong quá trình này còn đang nóng
bỏng con tim, thế nhưng sao những tiêu cực trong cuộc sống
mọi mặt của đất nước hôm nay cứ như cỏ dại khắp nơi
không sao diệt được, càng ngày càng khó diệt. Tất cả chẳng
dính dáng gì đến chủ nghĩa xã hội hay định hướng xã hội
chủ nghĩa được chọn lựa là mục tiêu phấn đấu.

Tôi nhờ các nhân vật trong truyện làm người phát
ngôn cho nỗi lo của mình:

…"...bi kịch lớn nhất của cuộc đời ở mọi
quốc gia thường là thắng lợi của một cuộc cách mạng trở
thành một thứ chiến lợi phẩm! Kẻ thắng xô sát nhau chia
quả thực! Ai nhặt được cái gì thì nhặt! Ai giành được
cái gì thì giành!.." (tập II).

"…tệ nạn tham nhũng... Sự bóc lột này lớn hơn
hàng trăm lần, hàng nghìn lần, hàng nhiều nghìn lần so với
sự bóc lột thặng dư giá trị còn đang tồn tại trong xã hội
nước ta..." (tập III). Tất yếu dẫn đến câu hỏi "Đất
nước này bây giờ là của ai?"

Hệ quả của những tiêu cực này lớn lắm. "...30
năm xây dựng rồi mà vẫn chưa bước ra khỏi nhóm quốc gia
nghèo nhất thế giới! Vẫn còn là một quốc gia lạc hậu!.."
"...Chẳng lẽ đã giành lại đất nước rồi, bây giờ lại
chịu để mất nước vào cái kiếp nô lệ của nghèo hèn và
lệ thuộc?.." (tập IV) Làm gì? Làm như thế nào chặt đứt
vĩnh viễn các vòng xoáy của quán tính lịch sử hành hạ đất
nước?..

Truyện kết thúc, vợ của nhân vật chính nhắc nhủ
chồng – thương binh đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam,
đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam, Phạm Trung Nghĩa,: "Anh
chưa hiểu hết bao nỗi lo này đâu… Anh và các đồng chí của
anh đang phải bắt tay vào nhiệm vụ khó nhất trong đời
mình!.."[18]

Sao? Suốt một đời người trực tiếp trải qua 4 cuộc
chiến tranh rồi, bỏ lại một chân trên chiến trường, tóc
bạc răng long hết cả với nhau rồi, thế mà bây giờ lại
phải cùng với những chiến hữu của mình bắt tay vào nhiệm
vụ khó nhất của đời mình?.. Thế là thế nào?!..

Thăm thẳm nỗi lo khủng khiếp về cái quán tính lịch
sử, nỗi lo lại phải làm lại từ đầu!…

Từ cái chân giả làm bằng gỗ của đại tá thương
binh Nghĩa, trăm ngàn tiếng thét của những người đã ngã
xuống vang lên như búa bổ liên hồi trong đầu đại tá:

- "Không được phản bội một hy sinh nào!"

- "Không một mất mát nào được bỏ qua!.." [19]

- …

Trên đây là những thứ từ ngoài đời, được chắt
lọc gửi gắm vào truyện.

Truyện mới ra mắt bạn đọc được dăm sáu năm nay,
nhưng cái quán tính lịch sử hiện hữu trong đời sống hôm nay
yêu quái hơn, hiện đại hơn nhiều lần trong truyện; tinh vi,
đau buốt, đồi bại, tàn phá hơn nhiều lần trong truyện…
Đất nước cũng đang oằn lên hơn nhiều lần – chỉ cần xem
tầm vóc các vụ tham nhũng đổ bể ngày càng lớn hơn, xem các
chỉ số lạm phát dăm năm trở lại đây, xem báo chí bị bưng
bít gắt gao hơn, quyền của người dân bị xâm phạm, bị
tước bỏ nhiều hơn, môi trường bị tàn phá nghiêm trọng…
Chưa nói đến tình trạng tội phạm hình sự quá trầm trọng
và số tuổi trẻ phạm trọng tội ngày càng nhiều. Lại còn
thêm nỗi lo thâm nhập của quyền lực mềm!..

Câu chuyện trong Bài 2 này không còn bàn về sự hiện
hữu của cái quán tính lịch sử nữa, mà chuyển sang xoay quanh
cái đang lên ngôi của nó, với tất cả những mầm mống sẵn
có của nó từ cái xã hội phong kiến trước kia, ủ kỹ trong
môi trường sống của đất nước, đang được thời thi nhau
trỗi dậy, nảy nở, bây giờ lại được cộng nhập vào cái
mới có hôm nay, với tất cả dây mơ rễ má chằng chịt trên
dưới ngang dọc chéo, mang đủ mọi màu sắc xanh đỏ tím vàng,
được sản sinh ra từ cái thượng tầng kiến trúc mới
tạp-pí-lù đang được hiện đại hóa một cách tạp-pí-lù
trong quá trình hội nhập hôm nay…

Một quốc gia vốn mang sâu trong mình tàn dư phong kiến
lạc hậu như thế, nhưng lại không có đủ bản lĩnh chăm lo
được cho mình có một cơ thể lành mạnh với sức đề kháng
tốt để hội nhập, làm sao có khả năng hấp thụ có chọn
lọc và sáng tạo? Cho nên cái du nhập và thâm nhậm tạp-pí-lù
vào phần xác và phần hồn cơ thể quốc gia mình hôm nay như
đang diễn ra là hệ quả tất yếu.

(Cái "chết" của nước ta bây giờ có lẽ là ở
chỗ trong thời hội nhập ngày nay nước ta cái gì cũng có,
cũng giành được chút xíu, song trong mỗi cái chút xíu ấy cái
của chính ta, cái trở thành là ta, không bao nhiêu; mà trong khi
đó cái lai căng, cái rởm thường là quá nhiều, lấy đi của
ta quá nhiều, lấn át đi quá nhiều cái là chính ta và cái
thành là ta. Không kể đến những cái không mời,những cái
không muốn mà tự nó cứ ùn ùn đổ vào nước ta… Trạng
thái này đều có trong kinh tế, trong nghiên cứu khoa học công
nghệ, trong đời sống văn hóa, trong giáo dục, trong tư duy,
trong lựa chỗ đứng cho đất nước trên thế giới, trong tầm
nhìn xây dựng và bảo vệ đất nước, trong đối ngoại…
Kết cục hiện nay cái ta là ta và thành là của ta còn quá
khiêm tốn, chưa tạo ra được bao nhiêu sự phụ thuộc lẫn
nhau cần phải có, mà chủ yếu hiện nay cái ta lệ thuộc vẫn
nặng hơn.

Không thể đổ lỗi cho yếu kém, mà phải nhìn nhận ta
chưa có bao nhiêu cái ý chí giác ngộ sự yếu kém của mình.
Trên đời này không gì buồn hơn khi ta tồn tại mà lại không
hẳn chính ta là ta! Trong thâm tâm tôi cứ vấn vương câu hỏi:
Kể từ khi nước ta tiếp xúc với thực dân Pháp giữa thế
kỷ thứ 19 cho đến nay, khoảng một thế kỷ rưỡi trôi qua,
nhưng vì sao nước ta vẫn cứ ở trạng thái chung chiêng, lơ
mơ, không biết người biết ta cho đến nơi đến chốn trong
cái thế giới chẳng dung tha chút nào cái lơ mơ thế này? Hình
như ta vẫn cứ phải mượn kính của người mà đọc cái thế
giới này, mượn được cái kính nào thì đọc như thế. Ta
đọc được cái xu thế tất yếu của thời đại, nhưng lại
chưa sao thấy rõ được cái xu thế phát triển của cái thế
giới đương đại, cách ta nhìn cái thế giới hiện hữu quanh
ta càng lôi thôi…Và cho đến hôm nay, hình như ta vẫn chưa sao
đọc chính xác được mình! Trong khi đó hòa nhập, hội nhập
vào thế giới đòi hỏi phải thực sự biết người biết ta...
Nghĩa là ta đến hôm nay – hết thập kỷ đầu tiên của thế
kỷ 21 này rồi, thế mà vẫn còn lúng ta lúng túng chưa sao tạo
ra được vị thế cần phải có cho đất nước. Đổ bao xương
máu từ thế hệ này sang thế hệ khác mà đất nước hôm nay
sao vẫn còn bị uy hiếp nhiều bề: Sư uy hiếp của lệ thuộc,
của vị trí quốc gia nghèo và thua kém, của tình trạng rất
dễ bị chấn thương từ bên ngoài bằng đủ mọi thứ quyền
lực!.. Cứ nhìn các bước đi của thiên hạ như thế nào,
để không thể nào dửng dưng, lại càng không thể cứ dương
dương tự đắc mãi không chán là đã từng đánh thắng mấy
đế quốc to!.. Đất nước phải thay đổi quyết liệt để
sang một trang khác…)

Từ Cách Mạng Tháng Tám đến nay, đất nước chưa bao
giờ có nhiều như bây giờ những thứ có tên gọi như chức
tước, danh tước, chức sắc, quân hàm, huân chương, bằng
cấp, cấp bậc, cấp ủy, trật tự dọc trên dưới… Chưa bao
giờ có nhiều như bây giờ sự phân chia lợi - quyền ngang dọc
chéo, hoạt động lễ nghi, lễ lạp, hội hè, cúng bái, mê tín
dị đoan, có quá nhiều ma chay, cưới xin, bói toán… Chất
lượng của những thứ bên trong mỗi cái tên gọi này nhìn
chung thấp, lẫn không ít của giả, có những thứ có thể mua
được. Danh sách những tên gọi này khá dài, trong khi đó văn
hóa lai căng tràn lan.

Chỉ cần hình dung mỗi một cái tên gọi như thế chứa đựng
bên trong những gì, rồi tập hợp những cái tên gọi ấy lại
trong một hệ thống ma trận (matrix) cấu trúc hệ thống kinh
tế, chính trị, xã hội, văn hóa của đất nước, cũng có
thể hình dung ra toàn bộ cái linh hồn, cái thượng tầng kiến
trúc, các hệ thống, bộ máy, cỗ máy, đơn vị vận hành hay
là phục vụ cho sự vận hành của sơn hà xã tắc nước ta hôm
nay. Sẽ thấy được tất cả những thứ này cồng kềnh,
nhiễu nhương, phức tạp, riêm rúa, ít chất lượng và kém
hiệu quả như thế nào. Cũng không biết bao nhiêu hủ tục rơi
rớt lại từ ngàn xưa khắp chốn trong nước, nay bỗng dưng
được phục hồi, được nâng cao đến tầm nhìn nhận nó là
văn hóa, hay là cố ý nhầm lẫn nó là văn hóa… – và xa hơn
nữa là làm những việc này nhân danh gìn giữ truyền thống,
gìn giữ văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc… Các bước đi
của đất nước vì thế rất chậm chạp, hoặc có khi một
bước tiến vài bước lùi, tiến chỗ này lùi chỗ khác…

Khái quát lại về thực trạng thượng tầng kiến trúc
đất nước và ảnh hưởng của nó, tôi muốn ký hoạ một
hình ảnh thế này: Từ khởi sự đổi mới đến năm 1995, nền
kinh tế nước ta là một thanh niên tràn đầy sức sống, trên
mình anh ta là bộ quần áo rách toác vì các cơ chế chính sách
chạy theo không kịp sức lớn và hoạt động năng động của
anh ta. Hình ảnh kinh tế nước ta hôm nay là một người có
nhiều biểu hiện già trước tuổi, sử dụng quá nhiều thuốc
"ICOR" tăng lực, trên mình anh ta có quá nhiều xiêm áo, khung,
mũ mão hàng mã và các đồ trang sức hàng tạp hóa, anh ta bây
giờ đi đứng chậm hẳn và khó có khả năng tung hoành dọc
ngang!..

Ví von là như vậy.

Cái chất phong kiến còn sót lại khá đặm đặc như
vậy trong phần xác phần và phần hồn cơ thể đất nước hôm
nay sao có những nét hao hao đáng sợ so với những gì sử gia
Trần Trọng Kim đã ghi lại về triều chính các vua nhà Nguyễn
và những gì có thể đọc được trong Hoàng Lê Nhất Thống
Chí. Quả thực đã hai thế kỷ trôi qua, nhưng đất nước
chưa tiến xa cái quá khứ đau buồn của mình được bao nhiêu.

Bác sỹ P. H…, Thành phố Hồ Chí Minh, mổ xẻ: "Cho
dù là người lạc quan nhất bạn cũng cảm thấy bi quan và
phẫn nộ khi nhìn chung quanh mình. Phải nhìn nhận rằng tình
hình đất nước không khả quan. Biên giới bị kẻ thù xâm
lấn. Ngư trường bị kẻ thù chiếm đoạt và kiểm soát. Kinh
tế suy thoái. Lòng người ly tán. Cái ác lên ngôi. Đạo đức
suy đồi. Hệ thống giáo dục và y tế rối beng. Nhìn chung,
nền tảng xã hội bị lung lay đến tận gốc. Tất cả những
nét vẽ đó làm cho bức tranh xã hội Việt Nam ảm đạm. Nghèo.
Hèn. Câu hỏi là "tại sao". Tại sao nên nông nỗi này?... Ai
cũng có thể tìm cho mình câu trả lời. Có thể nhiều câu trả
lời. Nhưng quan điểm cá nhân, tôi nghĩ đến một câu trả
lời đơn giản nhất. Lãnh đạo. Nói chính xác hơn là do lãnh
đạo bất tài nên đất nước mới ở trong tình thế nghèo hèn
như hôm nay…"[20]

Xin tất cả - người dân và người cầm quyền đất
nước - cùng nhau ngẫm nghĩ cho kỹ, để nhìn thẳng được,
nhìn thấu được thực trạng đất nước hôm nay, nhận diện
chuẩn xác nó, cùng nhau hành động xoay chuyển nó. Đây chính
là công việc của cải cách, của dấy lên trong đất nước
một cao trào duy tân.

Người dân không đứng lên giành lấy cho mình sự giác
ngộ như thế, sao tránh khỏi hoạt động thụ động theo kiểu
bày đàn? Vâng, người dân phải vượt qua nỗi sợ của mình,
đứng lên giành lấy. Vì không thể trông chờ vào bất kỳ sư
ban cho hay lòng bác ái nào.

- A ha, thế là duy tân đang xúi giục dân đứng dậy?

- Đúng. Nhưng với sự giác ngộ tự giành lấy. Một khi sự
giác ngộ như thế của dân được tạo mọi điều kiện để
trở thành tiếng nói phải được lắng nghe, phải được chấp
thuận, phải được thực hiện, có lẽ có thể tránh được
các cuộc nổi dạy, và như thế sẽ sang trang được lịch sử.

Người cầm quyền không giác ngộ như vậy, khác gì
tự tay xây đắp cho chính mình sự đổ vỡ không thể đảo
ngược được? Trên hết cả, người cầm quyền, lại do
Đảng lãnh đạo, không đi với dân thì đi với ai? Không vun
đắp cho cái giác ngộ của dân, không tạo ra tiếng nói như
thế của dân từ sự giác ngộ này thì làm gì? Lãnh đạo là
gì?

Vì vậy, xin người dân và người cầm quyền đều
phải cùng nhau ngẫm nghĩ, cùng nhau ai phải thực hiện trách
nhiệm nấy, không nhầm việc nhầm chỗ. Để sau này đừng
một ai nói rằng: "Tôi không biết!".

Xin nói thêm một ý khác nữa:

Có nhận xét "dân nào, chế độ ấy". Điều này
cũng có cái lý của nó. Tình trạng đất nước như hôm nay, có
một phần nhất định do dân ta vốn như vậy, chấp nhận như
vậy, cam chịu như vậy.

Xin nói thực thà với nhau thế này để cả người dân và
người cầm quyền cùng nghe: Tình trạng như hiện nay ở nước
ta mà rơi vào các nước khác như Ai Cập, Tuy-ni-di.., có lẽ
phải xảy ra đến hai hay ba mùa "hoa lan hoa nhài" rồi. Ở
nước ta không. Vì dân ta tốt quá, cái đó đúng. Vì dân ta còn
thương Đảng lãnh đạo quá, cái đó đúng… Vì nhiều thứ
nữa… Song còn vì một phần là dân ta vốn như thế… Tôi
trạnh nhớ đến anh Hoàng Ngọc Hiến: "Cái nước mình nó
thế…"

Tuy nhiên, phải công bằng. Trong bài viết về vấn đề
hiền tài, tôi cho rằng: "Một xã hội chịu tác động như
thế ngày này qua ngày khác, cùng với nền giáo dục như đang
được tiến hành, dần dà cũng tạo nên một thứ văn hóa cần
thiết cho sự tồn tại hàng ngày của chính xã hội ấy."[21]
Cho nên, ngày nay "cái nước mình nó thế" còn là hệ quả,
là sản phẩm tất yếu của chế độ chính trị nước ta hiện
nay. Nhẹ nhàng hơn thì cũng phải nói: Chế độ chính trị
nước hiện nay góp phần không ít nuôi dưỡng và làm trầm
trọng thêm trạng thái "cái nước mình nó thế".

Đây chính là một khía cạnh khác nữa vô cùng quan
trọng của cái quán tính lịch sử mà duy tân sẽ phải đối
mặt!

Có ý kiến viện dẫn câu nói của J. P. Sartre để lý
giải, đại ý: Sống trong xã hội gian dối, người không biết
nói dối trở thành kẻ vô lại. Cuộc sống cũng thừa nhận có
hiện tượng này. Song tôi muốn thiên về ý: Nhận biết thực
trạng này, là để khắc phục nó. Vì vậy duy tân phải làm
được vai trò đánh thức dân đối với thực trạng này. Cụ
Phan Chu Trinh đặt vấn đề khai dân trí trước tiên, có lẽ vì
coi nhiệm vụ duy tân trước hết là như vậy. Tôi mong duy tân
thay đổi được "cái nước mình nó thế".

<h3>III. 2. Tình trạng đoàn kết dân tộc hôm nay </h3>

Xin nói rõ, trước bước ngoặt định mệnh của đất
nước, đoàn kết dân tộc trước hết phải là vì nhau và cùng
nhau xả thân cho một Việt Nam là tổ quốc ngay trong tim của
mỗi người con trong cộng đồng dân tộc Việt Nam ta, là cùng
nhau xây dựng một thể chế dân chủ vận hành đất nước có
phẩm chất gần như đồng nghĩa với tổ quốc – nghĩa là
không thể để cho việc xây dựng một nhà nước của dân, do
dân vì dân chỉ là một khẩu hiệu.

Đoàn kết dân tộc với nội dung như vừa trình bầy
là sự cố kết của ý chí, trí tuệ, tâm huyết với dân tộc,
với đất nước, là cố kết của các giá trị chân chính và
của đạo đức, của sự khác biệt sáng tạo và phẩm chất
của từng cá nhân được tiếp tục trau giồi, rèn luyện, để
từng người và toàn dân tộc phấn đấu về một hướng cho
một Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và
giàu mạnh.[22]

Đoàn kết dân tộc với nội dung mới như thế không
thể chỉ là "xóa bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ,
thành phần giai cấp, chấp nhận những điềm khác nhau không
trái với lợi ích chung của dân tộc.., đề cao tinh thần dân
tộc, truyền thống nhân nghĩa khoan dung…"[23].

Đoàn kết dân tộc như vậy vượt ra ngoài cả liên
minh công nông và trí thức, vì nó là cố kết lại với nhau
của sự giác ngộ của từng người Việt Nam dù là ai – sự
giác ngộ về thực trạng đất nước, về vị thế yếu kém
hiện nay của Việt Nam trong thế giới này, về những thách
thức đất nước đang phải đối mặt, và từ đó quyết tâm
cùng nhau phấn đấu đưa đất nước mình vươn lên thành một
quốc gia văn minh trên thế giới. Bên cạnh một Trung Quốc bá
quyền và muốn siêu cường, dân tộc ta càng phải cố kết
lại với nhau như thế.

Đoàn kết dân tộc như thế còn vượt xa rất nhiều
cả "khép lại quá khứ, không ngoái lại quá khứ"[24] để
cùng nhau giương cao ngọn cờ dân tộc – dân chủ đã từng
làm nên mọi thắng lợi và thành tựu của nước ta từ Cách
Mạng Tháng Tám đến nay. (Đáng lo là đến nay cái việc "khép
lại quá khứ, không ngoái lại quá khứ" vẫn chưa làm xong,
về nhiều mặt là chưa làm được!)

Đoàn kết dân tộc như thế từ nay về sau trước hết
phải được xây dựng, phải được vun đắp thường xuyên và
liên tục đời này sang đời khác bởi một nền giáo dục chân
chính.

Ngay sau 30-04-1975, nhiệm vụ đoàn kết hòa hợp hòa
giải dân tộc đã được đề ra, song vì có quá nhiều cái tha
hóa, cái bất cập, nhất là vì nhìn nhận sai về đòi hỏi
phải thống nhất dân tộc trên nền tảng của dân chủ, về
chiến lược phát triển đất nước.., cho nên đến nay nhiệm
vụ này chưa thực hiện được bao nhiêu, và trên thực tế là
còn đứng xa đòi hỏi cố kết dân tộc trong giai đoạn mới
của đất nước.

Đoàn kết dân tộc với nội dung như vậy là điều
kiện tất yếu phải có cho tồn tại và phát triển đất
nước, được đặt ra trước bước ngoặt định mệnh hôm
nay.

Từ các phần trên của Bài 2 này, mở rộng ra một
chút là từ những vấn đề có liên quan tôi đã trình bày trong
Bài 1 và trong bài viết trước nữa về vấn đề hiền tài,
tôi kết luận: Chúng ta chủ yếu mới đạt được cố kết
dân tộc cho sự tồn tại, cho bảo vệ đất nước, chưa có bao
nhiêu yếu tố quan trọng này cho phát triển đất nước trước
bước ngoặt mới, cho việc xây dựng truyền thống và văn hóa
mới cho phát triển lâu dài sau này. Đấy là kết luận 1.

Xem xét thực trạng đất nước hiện nay như đã trình
bày trong bài này và Bài 1 – trước hết là xem xét tác động
của tha hóa dẫn tới những biểu hiện của trạng thái mất
phương hướng, mất niềm tin, vô cảm, tâm lý bi quan chán
trường, tâm lý thực dụng không cần đến ngày mai… trong tâm
tư của đại bộ phận nhân dân, tôi đi tới kết luận 2:
Hiện nay trong xã hội nước ta đang tồn tại cuộc khủng
hoảng tinh thần lớn nhất kể từ Cách mạng Tháng Tám đến
nay – cuộc khủng hoảng các giá trị.

Song ngay trong Báo cáo chính trị tại Đại hội XI cũng
chỉ nêu lên đơn giản đại đoàn kết là đường lối chiến
lược và diễn giải nội dung rất công thức, song phần đánh
giá thực hiện chỉ nêu "dân chủ và sức mạnh đại đoàn
kết dân tộc chưa được phát huy đầy đủ.., …chưa được
thể chế đầy đủ thành pháp luật, hoặc đã thể chế hóa
nhưng chưa được thực hiện nghiêm túc…"[25], nghĩa là nhận
thức của đảng cầm quyền còn rất xa thực tế cuộc sống
và những đòi hỏi hiện nay, chưa làm rõ những vấn đề mới
đặt ra. Đây là kết luận 3.

Trong tình hình có 3 đặc điểm như vậy, lại đang lúc
đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế kéo dài từ nhiều
năm nay, thách thức bên ngoài rất lớn, nhiệm vụ đoàn kết
dân tộc cho giai đoạn này vừa càng trở nên khó khăn, đồng
thời càng vô cùng quan trọng, có ý nghĩa quyết định vận
mệnh đất nước. Nghĩa là thành hay bại, sớm thoát ra được
khỏi khủng hoảng hiện nay để đi vào một giai đoạn phát
triển mới, hay lún sâu vào những bước khủng hoảng tiếp
trong nước và thất bại trước những thách thức mới từ bên
ngoài, phụ thuộc rất nhiều vào thực hiện ra sao nhiệm vụ
đoàn kết dân tộc lúc này.

Tôi nghĩ và hy vọng trong vòng vài năm nữa có thể ra
khỏi khủng hoảng kinh tế hiện nay để đi vào ổn định,
phát triển, nếu… Nhưng tôi chưa thấy trong vòng vài năm tới
có thể ra khỏi cuộc khủng hoảng các giá trị, cũng chưa
biết bao giờ có thể khắc phục được cuộc khủng hoảng
này. Điều này có nghĩa: Giả thử ra khỏi được khủng hoảng
kinh tế hiện nay mà không có cải cách chính trị đi trước
một bước, thì nguy cơ quay lại nó khá lớn và rất sớm theo
kiểu ngựa quen đường cũ[26], chưa kể đến tình hình xảy ra
những đột biến bất khả kháng (tỷ như dịch bệnh, tsuinami,
động đất…), hoặc tình trạng xảy ra một domino nào đó,
bắt đầu từ … - ví dụ, nước Hy-lạp vỡ nợ chẳng hạn...
-, dẫn tới những cơn địa chấn kinh tế ngoài tầm kiểm
soát của con người…

Ví dụ, sau khi ra khỏi khủng hoảng kinh tế rồi, mà
cái dối trá vẫn ở thế áp đảo trong đời sống mọi mặt
– có nghĩa là cái yếu kém vẫn có dinh lũy kiên cố để ẩn
nấp, cái ăn thật làm giả vẫn có đất sống, cái giả vẫn
có khả năng thắng cái thật..; trong một tình hình như thế,
xin hỏi cái trật tự mới vừa giành lại được hay hình thành
được sau khủng khoảng, rồi các thể chế, luật pháp, chính
sách đã được cải tiến, rồi một số cái tốt khác vừa
mới tạo ra được… – vâng, nghĩa là cứ giả định rằng
có nỗ lực (hay có phép tiên) đạt được một trạng thái như
thế sau khi ra khỏi khủng hoảng, song những cái tốt đẹp vừa
mới giành được ấy sẽ bền vững được bao lâu?

Các văn kiện chính thức của BCHTƯ ĐCSVN khóa XI lần
đầu tiên chính thức nêu đích danh và lên án các hiện tượng
"chạy ghế" và "nhóm lợi ích", một tiến bộ rõ rệt
so với trước đó (cũng có nghĩa là hôm nay những cái "ác"
này đã quá trắng trợn, quá lộng hành, không thể lặng thinh
được nữa). Tuy nhiên, nhiều phát biểu – kể cả của
người có cương vị cao – thừa nhận đến nay chưa phát hiện
được một trường hợp "chạy ghế" nào, kêu gọi mọi
người chỉ giùm để trừng trị. Sờ mó vào các "nhóm lợi
ích" càng không dễ, báo chí đã nói công khai các đoàn kiểm
tra, kiểm toán của Quốc hội, Chính phủ nhiều khi không lấy
được số liệu cần phải có của các tập đoàn. Bộ trưởng
Kế hoạch – Đầu tư có lần phải thừa nhận không kiểm
soát hay không nắm được hoạt động của tập đoàn… - nghĩa
là căn bệnh đã nặng đến mức cái đầu không vãy được
cái đuôi. Vân vân… Cuộc sống thực đến giờ phút này đang
là thế.

Như vậy, tiếng nói của đạo đức, của giá trị có
được sức nặng bao nhiêu?

Bên trong sự "vô cảm" của những cái "ác" này
– đúng hơn có lẽ nên gọi đấy là sự "lỳ lợm" (để
tiếp tục vụ lợi), làm gì có có chỗ đứng cho ý niệm về
"accountability" (tạm dịch: tính trách nhiệm, tính tin cậy
được)? Tính khả thi nào của kỷ cương, luật pháp, chính
sách… có thể địch nổi sự lỳ lợm này?

Đến nay, âm thầm hay lộ liễu, sự lỳ lợm vẫn đang thắng.
Đồng minh của sự lỳ lợm này là tình trạng bất cập, tình
trạng tác trách không thể nào chấp nhận được của một bộ
phận không ít những người thuộc biên chế bên Đảng hay bên
chính quyền sống ăn lương bằng tiền của dân đóng thuế -
một hệ quả tất yếu của toàn bộ chính sách tổ chức –
cán bộ và của nền giáo dục nước nhà (bao gồm cả công tác
đào tạo cán bộ cho hệ thống chính trị của đất nước).
Nơi nương trú của sự lỳ lợm này là bộ máy nhà nước
cồng kềnh, chồng chéo và kém hiệu quả. Chỉ một ví dụ
mỗi đêm mất 2000 tấn khoáng sản đem đi xuất tại một cửa
khẩu ở Cao Bằng mà không gây nhức nhối gì trong toàn bộ hệ
thống điều hành đất nước và cứ để cho nó ngang nhiên
tồn tại dai dẳng, đủ minh chứng tình hình này[27].

Bây giờ xin nói vài điều về sự vô cảm trong dân,
một hình thái phản kháng thụ động hiện nay, một hiện
tượng đang mầm mống không biết bao nhiêu hậu họa. Bàn
điều này, chí ít để thấy ngay được rằng mọi bưng bít,
trấn áp, che đậy, khỏa lấp, mỵ dân, xoa dịu… sẽ chẳng
khác gì mấy việc lấy một miếng vải bẩn băng bó một vết
loét trầm trọng, tất yếu dẫn đến nguy cơ hoại tử.

Hiện nay tâm trạng dân ta chưa đến nỗi như viên sứ
Pháp tại Huế, P. Rheinart, năm 1875 báo cáo cho cấp trên ông
ta[28]. Song hiện nay tâm lý chán trường, bi quan, mất lòng tin,
thờ ơ, tránh né, quay về tự lo thậm chí tự làm luật, quay
về chỉ quan tâm cho mình, quay về chỉ biết mình… trong dân
không thể xem thường. Phổ biến vẫn là câu chuyện ngàn xưa
"đấu tranh – tránh đâu?" nhưng ngày nay ở mức độ trầm
trọng hơn nhiều, giữa lúc ngoài đời đang xảy ra không biết
bao nhiêu việc xấu, việc nghiêm trọng, có bao nhiêu việc không
thể bàng quan được[29]. Sự thật của bức tranh toàn cảnh
ngoài đời này khác rất xa so với những gì có thể thấy
được, nghe được, những gì được phản ánh qua các buổi
truyền hình "các đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri" –
dù là ở ngay thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, hay ở
bất kỳ một tỉnh nào, một khu vực bầu cử nào trong cả
nước. Có thể nhận xét: Bức tranh toàn cảnh ngoài đời là
sự thật, còn cách tiếp cận và xử lý sự thật theo kiểu
như trên tivi nói trên chỉ là "chuồn chuồn đập nước" –
chủ yếu vẫn là làm cho có làm, sờ mó được bao nhiêu vào
sự thật để xử lý? Nghĩa là cái dân chủ đại diện trong
thể chế chính trị của nước ta chỉ có thể đạt được
kết quả có tính hình thức như vậy. Làm thế nào bây giờ?

Đang xảy ra hiện tượng một số nước ngừng nhận
tiếp lao động Việt Nam sang làm việc, trước hết vì số lao
động theo hợp đồng bỏ trốn việc để cư trú bất hợp
pháp tại nước chủ nhà lớn quá, tình hình còn tiếp diễn.
Số phụ nữ ta lấy chồng nước ngoài ngày càng nhiều, có quá
nhiều bi kịch đau thương, có quá nhiều trường hợp biến
thành việc buôn bán phụ nữ một cách ghê sợ.., song tình hình
này vẫn tăng lên ở nhiều tỉnh. Có doanh nghiệp, có người,
đã lo "để" tài sản của mình ở nước ngoài, không phải
là vì kinh doanh hay là "tuồn ra ngoài" do gian lận, mà - có
người đã nói thẳng với tôi là - vì "tâm lý chợ
chiều"…

Ngoài bao chuyện đau lòng về "hình ảnh người
Việt" ra, đằng sau, sâu xa bên trong tất cả những hiện
tượng vừa nêu trên là gì, là trạng thái gì của đất nước
ta hôm nay? Làm sao không lo lắng được trước những hiện
tượng như vậy? Cố kết dân tộc lại với nhau như thế nào
bây giờ trong tình hình như vậy?

Nhưng lúc này đất nước không thể không thực hiện
đoàn kết dân tộc. Chẳng lẽ cứ phải chờ đến lúc Trung
Quốc gây hấn ở Biển Đông ta mới thức dạy cụm lại?

Song rõ ràng, chỉ có thực thi luật pháp, thực thi dân
chủ (giả thử là thực hiện được) mà không đồng thời duy
trì, phục dưỡng và tôn vinh các giá trị, làm sao có đoàn
kết dân tộc? Mà không có cái này thì cũng chẳng có cái kia.

Hiển nhiên, như thế để bảo vệ và xây dựng đất
nước ngày nay đi lên văn minh hiện đại, nhất thiết phải
kinh qua một cuộc cải cái triệt để, sâu rộng thể chế
chính trị và thượng tầng kiến trúc của đất nước, thậm
chí cuộc cải cách này phải đi trước một bước. Bởi vì,
đoàn kết dân tộc để bảo đảm giành thắng lợi trước
hết là thực hiện sự cố kết các giá trị của dân tộc,
chẳng cố kết giai cấp nào thay thế được nó cả. Làm sao
thiếu được một cao trào duy tân cho một cuộc cải cách như
thế?

Trí thức nước nhà và những người nắm quyền lãnh
đạo đất nước nghĩ gì?

<h2>IV. Phần kết: Thay đổi cách nhìn </h2>

<h3>IV. 1 Thay đổi cách nhìn </h3>

Thiết nghĩ nên bắt đầu công việc bằng thay đổi
cách nhìn.

Nên vượt qua nỗi sợ của chính mình, với tinh thần
không cam chịu, để thay đổi cách nhìn. Có ý chí, ai cũng có
thể làm được, kể cả những người ít hay không có điều
kiện được học hành nhiều. Quyết tâm và giúp đỡ lẫn nhau,
chắc chắn ai cũng làm được, cả nước làm được; hệ
thống chính trị và bộ máy nhà nước cũng có thể làm được
hay sẽ được thúc đẩy. Dân chủ, công khai minh bạch, xây
dựng – làm như thế, chắc chắn sẽ làm được.

Thay đổi cách nhìn, sẽ thấy nhiều cái khác, nhiều
cái mới.

Ví dụ, tái cấu trúc kinh tế để chuyển sang phát
triển năng động và bền vững đang được đặt lên bàn nghị
sự quốc gia. Nếu chúng ta thay đổi cách nghĩ, cách nhìn về
công nghiệp hóa như đã tiến hành hơn 2 thập kỷ vừa qua, rút
ra kết luận phải tận dụng tốt hơn nữa lợi thế nước đi
sau, phải phát huy hơn nữa nguồn lực lớn nhất của đất
nước là con người, tận dụng lợi thế lớn nhất (phần nào
còn là các thách thức nữa) của đất nước là đất đai, khí
hậu, vị trí địa lý tự nhiên trong hội nhập kinh tế thế
giới, lại phải nhằm vào phát triển một nền kinh tế có hàm
lượng khoa học công nghệ ngày càng cao, tiến tới một nền
kinh tế của tri thức, của văn hóa.., chắc chắn thay đổi
cách nhìn như thế, chúng ta sẽ tìm ra cách xắp xếp lại nền
kinh tế nước ta, thay thế cái gì bằng cái gì, bỏ bớt cái
gì và bỏ như thế nào, duy trì cái gì, phát triển cái gì
mới… – nhất là trong lúc bản thân cấu trúc kinh tế thế
giới và phương thức vận hành của nó đang thay đổi. Tôi đã
có dịp trình bày một số suy nghĩ riêng về chủ đề này trong
các bài viết trước.

Ở đây, tôi chỉ xin lưu ý thêm:

- Thay đổi cách nhìn trong kinh tế, trước hết nên khắc
phục bằng được cái nôn nóng, manh mún cục bộ (ít nhiều
mang tính tranh thủ, chụp giật, chia chác), cái tư duy dễ làm
trước, khó bỏ lại sau.., mà phải kiên định chuyển sang cách
nhìn chiến lược, bài bản, có tính quy hoạch cao hơn, bước
trước chuẩn bị bước sau. Cần thay cách nhìn quá thiên về
tăng trưởng để chú trọng hơn về phát triển. Hiện nay không
thế.

- Nên chú ý phát triển một nền kinh tế của văn hóa nữa
– văn hóa về sản xuất/tiêu dùng theo những chuẩn mực của
văn minh, về chất văn hóa trong sản phẩm, về môi trường tự
nhiên, về phương thức kinh doanh, về sự hài hòa các lợi ích,
về thân thiện với con người và phục vụ con người, về
đặc thù văn hóa và cái bản sắc riêng của đất nước ta,
về hòa nhập và hội nhập. Chí ít đấy là việc làm ra những
sản phẩm kinh tế mang tải nét văn hóa hay giá trị tạo ra sự
khác biệt của Việt Nam… Vân vân… Nó còn là gì nữa, tiến
hành như thế nào..? Là nước đi sau, ta nên chú ý bỏ công
sức bàn vỡ câu hỏi quan trọng này. Nó có thể góp phần quan
trọng làm nên sự khác biệt mà nền kinh tế nước ta phải có
để có chỗ đứng trong kinh tế thế giới.

- Trong chiến lược công nghiệp hóa, nên đặc biệt quan tâm
phát triển tốt hơn nữa 2 ngành kinh tế rất quan trọng của
nước nhà: (1) nông nghiệp, (2) dịch vụ. Vì nước ta có lợi
thế lớn nhiều mặt cho 2 ngành này. Nói ngắn gọn ở đây là:
Học hỏi và hình thành cả một chiến lược lâu dài xây dựng
bằng được 2 ngành này theo những hình mẫu tiên tiến và đã
thành công trên thế giới. Ta có lợi thế nước đi sau và thị
trường rất triển vọng cho 2 ngành này, nhất là kinh tế thế
giới đang thay đổi sâu sắc.

Tôi đã đôi ba lần có dịp nói tới và bây giờ xin
nhấn mạnh: Giáo dục trước hết, chứ không phải công nghiệp
hóa – hiện đại hóa sẽ là yếu tố hàng đầu quyết định
số phận nước ta trong thế kỷ 21. Nghĩa là giáo dục phải
tiến nhanh và trở thành một trong những yếu tố nền tảng
phải có cho công nghiệp hóa. Trước sau, nền giáo dục nước
nhà cần nhằm vào cái đích hình hài, xây dựng nền tảng và
nuôi dưỡng một quốc gia dân chủ của những công dân là con
người tự do.

Không thể nói hết chung quanh câu chuyện thay đổi cách
nhìn. Về quá khứ, hiện tại, và tương lai. Về thế giới.
Về ta và thế giới. Về quan hệ Việt – Trung. Về chính
nước ta và mỗi bản thân chúng ta… Về từ thế giới nhìn
lại chúng ta… Ở đây tôi xin được nhắc lại để nhấn
mạnh một điểm: Nên nhìn rõ những thách thức mới của thế
giới hôm nay, đặc biệt là khu vực Châu Á –Thái Bình Dương,
trong đó có nước ta. Chỉ có cách nhìn mới, có đoàn kết dân
tộc, có sự dấn thân cùng đi với cả trào lưu tiến bộ của
thế giới, nước ta mới tạo ra được chỗ đứng cần phải
có tại địa bàn năng động, không ít nóng bỏng và rất
quyết liệt này.

Thay đổi cách nhìn về ta, rất nên mạnh dạn nhìn
thấu những yếu kém của ta. Nhất là nên từ các bài học
của lịch sử, cố nhìn thấu những yếu kém của ta. Đương
nhiên không phải để tự ti, mà là để không cam chịu, trước
hết là để khiêm tốn, để có ý chí giải phóng mình ra khỏi
các thứ bệnh cản trở sự tiến bộ của đất nước, ví
dụ: "tâm lý tiểu nông đậm mùi hủ nho" (manh mún, thiển
cận coi trời bằng vung, hẹp hòi, bảo thủ, đố kỵ, hợm
hĩnh, nhiều khi khôn vặt đến lưu manh nhưng lại dễ bị lừa
trong chuyện lớn…), "nếp nghĩ mì ăn liền và bóc ngắn cắn
dài" (trong Đảng còn có tư tưởng"nhiệm kỳ"), thói ỷ
vào chi viện, thói tự huyễn theo kiểu "nhất thế giới..,
nhất Đông Nam Á" và những thứ "xấu xí" khác, …
(người Trung Quốc ngày xưa mắc nặng chứng bệnh "AQ", bây
giờ có nhiều thứ bệnh thời nay của "Người Trung Quốc
xấu xí"[30]). Tôi rất xin lỗi nếu bị khép tội phỉ báng
người mình.

Sông có lúc, người có khúc. Người ít hay người
nhiều, con người bao giờ cũng là người, không bao giờ là
thánh. Thiết nghĩ, muốn phát huy những phẩm chất dân tộc ta
đã tạo dựng nên được suốt chiều dài lịch sử hàng nghìn
năm của mình, nhất thiết phải khắc phục những yếu kém nói
trên, đồng thời cần bền bỉ xây dựng cho mình những giá
trị và phẩm chất mới phải có, để có thể cùng đi với
trào lưu tiến bộ của thế giới, nhất là tính trung thực,
sự khoan dung lẫn nhau và ý chí dấn thân vì sự thật, vì
tiến bộ. Tạo ra chuyển biến này càng phải là nhiệm vụ
của duy tân.

Đang viết, điện thoại reo. Bạn tôi, một nhà giáo
tạm thời tử thần ung thư đang điểm danh, xúc động chia sẻ:
Học trò anh, cũng là một nhà giáo, khi giải thích cho học sinh
của mình lý do xin nghỉ dạy 2 ngày để đi thăm thày cũ, học
sinh thích quá vỗ tay hoan hô vì được nghỉ học. Tôi hiểu
được các em và nghĩ chắc là các em tôi cũng vui như thế.
Nhưng không biết vì sao, tôi vẫn thoáng rùng người nhớ lại
đã được đọc, hay được nghe ở đâu đó câu chuyện một
phụ huynh học sinh là thương binh già…Trong một buổi họp
trường ông ta phê phán (nói cho đúng hơn là mắng) thầy hiệu
trưởng, đại ý: …Tôi đã đi qua nhiều chiến trường và
chết chóc, đã chứng kiến nhiều người thân thể bị bom
đạn làm rách nát song vẫn có cơ may chữa chạy lành lặn…
Nhưng nếu một ai đó để linh hồn mình rách nát, thì khó cơ
chữa khỏi và hoàn toàn không có đồ thay thế (kiểu như chân
tay giả)! Tại trường này, cái khẩu hiệu "tiên học lễ,
hậu học văn" ở tường treo trên đầu ông kia kìa, nó chỉ
là "lễ" trước tiên! Nhà trường của ông làm ăn như thế
này là đang đào tạo ra những linh hồn như thế!..

Có thể hình dung nhiệm vụ giải phóng khỏi thứ di
sản văn hóa cần bỏ lại phía sau, lại còn phải nuôi dưỡng
cái chân, thiện, mỹ, cái mới nữa.., quả thực là sự nghiệp
khó nhất và vô cùng quan trọng, nhất là lúc này và thường
xuyên mãi mãi về sau đối với dân tộc ta, sau khi từ nay trở
đi Việt Nam là một quốc gia độc lập.

<h3>IV.2. Thử nghĩ về được và mất</h3>

Thay đổi cách nhìn, cũng nên thay đổi cách nghĩ về
được/mất. Có lẽ phải ý chí, trí tuệ và dũng cảm lắm,
dám vì mục tiêu trong sáng, dám vì chân lý, mới có thể đụng
chạm được vào nhìn lại và thay đổi cách nghĩ về
được/mất. Được – mất đã xảy ra. Được – mất cần
và phải lựa chọn cho hiện tại và tương lai.

Ví dụ, thành quả cách mạng đã giành được là cái
được lớn lắm; song cứ mài cái được rất vinh quang đã
thành lịch sử này ra mà hưởng thụ, mà sống, sẽ có nghĩa
là mất, rồi sẽ có lúc mất hết vì tha hóa. Cuộc sống của
đất nước hôm nay, nói cụ thể hơn nữa là cuộc sống tinh
thần, đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa của đất nước
hôm nay, đã có ở mức hơi quá nhiều cái trạng thái mài cái
được rất vinh quang đã thành lịch sử này ra mà hưởng
thụ, mà sống tiếp. Xin kể lại ở đây, lúc sinh thời cố
Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nhiều lần phải nhắc nhở,
khuyến cáo điều này một cách có ý tứ, kể cả trong những
dịp quốc lễ lớn.

Mặt khác, sự thật cuộc sống đất nước có nhiều
cái được bị đánh mất đến bây giờ vẫn chưa biết sao
lấy lại được. Nhiều lắm. Những cái mất ấy đang gây ra
không biết bao nhiêu khó khăn cho đất nước hôm nay, và có
thể mai sau nữa, nhất là mất niềm tin. Cứ nhìn lại những
giá trị đã xây dựng được nhưng ngày nay đang mai một hoặc
bị đảo ngược sẽ rõ, bao giờ làm lại được? Một trong
những cái được rất lớn ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám
thành công nay bị mất (thoạt đầu có thể là mất do hoàn
cảnh chiến tranh), đến giờ chưa có cách gì lấy lại được,
đó là Hiến pháp năm 1946. Cứ đem ra thảo luận công khai trong
cả nước, chắc sẽ thấy rõ tổn thất này đối với hôm nay
lớn như thế nào, và từ đó có thể sẽ có được nhiều
gợi ý cho công việc sửa đổi Hiến pháp sẽ phải thực
hiện. Sau khi đất nước thống nhất, có nhiều cơ hội lớn
tuột tay, đấy là những cái mất vô cùng xót xa, nhất thiết
phải nhìn lại.

Thay vì nuôi dưỡng niềm tự hào chính đáng là động
lực phấn đấu của hôm nay, nhằm đưa đất nước ra khỏi
số phận nghèo hèn, lại đi ngược dòng, muốn lấy cái được
đã thành lịch sử làm chân lý, làm giường cột, làm khuôn
vàng thước ngọc cho hiện tại và tương lai, thì trên thực
tế - dù thừa nhận hay không thừa nhận – là đã chủ động
tự quy hoạch và thực hiện cho mình cái mất hết. Phải chăng
không ít thứ đã mất hết rồi? Đối với sự nghiệp của
Đảng cộng Sản Việt Nam tôi cũng nghĩ như vậy, xin trở lại
vấn đề này trong Bài 3.

Trong cuộc sống, trong phấn đấu, trong xây dựng đất
nước luôn luôn có được và mất. Mất mà có được bài học
và chung cuộc là tạo ra được khả năng xoay chuyển tình thế,
thì thực chất và cuối cùng là được. Nhưng được mà phải
trả giá lớn, làm hỏng cái được và chung cuộc là số âm
với nhiều hệ lụy xấu, thì chắc chắn đấy là mất. Con
người ta không phải là ông thánh, lại thêm những yếu kém
vốn có của chính nó; đồng thời cuộc sống luôn luôn đi theo
bản đồ riêng của nó mà con người khó biết hết được,
nên hành động có đúng, có sai là đương nhiên, có được có
mất là tất yếu. Tôi nghĩ, nếu có cái tâm và ý chí Tổ
quốc trên hết, có trí tuệ dẫn dắt, chắc chắn sẽ có khả
năng xử lý đúng đắn cái được/mất đã xảy ra cho hiện
tại và tương lai.

Trong lịch sử cận đại, nước ta có nhiều cái được/mất
vô cùng quan trọng, người cầm quyền và người dân nhất
thiết phải trấn tĩnh xem lại để quyết định đường đi
nước bước của tương lai đất nước. Phải như thế, nếu
muốn đất nước sang trang, đổi đời.

Trong Dòng đời, má Sáu Nhơn, một cơ sở cách mạng tại Sài
Gòn, đã cất gữ một bản viết tay in litho Tuyên Ngôn Độc
Lập 02-09-1945 ngay từ những ngày đầu Nam Bộ kháng chiến
(23-09-1945). Thế nhưng chỉ vài năm sau ngày 30-04-1975, một đêm
má phải dứt ruột tiễn con cháu mình đi di tản. Trở lại
nhà, ngay đêm ấy, má xé bản Tuyên Ngôn Độc Lập, vừa xé
vừa khóc. Song vì tiếc xương máu của nhân dân mình – trong
đó có xương máu chính con cháu ruột thịt mình, má lại cất
bản Tuyên Ngôn rách vào chỗ cũ. Rồi một ngày, trăng trối
trước giờ phút lâm chung, má gọi bầy cháu nội của mình
đến và trao tận tay bản Tuyên Ngôn rách: "Các con phải giữ
lấy! Bảo nhau cha truyền con nối thực hiện bằng được!.."
Còn cụ Phạm Trung Học, chú ruột của đại tá thương binh
Phạm Trung Nghĩa phải thốt lên: "Cái giá phải trả cho độc
lập thống nhất đất nước đắt lắm!.. Đắt quá!.."

Ai dám nói những gì nước ta đã đạt dược trong 35 năm đầu
tiên của quốc gia độc lập thống nhất là không đắt?

Để giành thắng lợi phía trước, nhất thiết phải học
được từ quá khứ bài học được/mất.

<center>♦</center>

Khi tôi viết đến đây, trên thế giới sôi nổi những
tin tức về các cuộc biểu tình Chiếm lấy phố Wall ở nhiều
nơi phát triển nhất trên thế giới này. Động cơ (motivation)
và mục tiêu của hành động này là chính đáng: Nhất thiết
phải sửa chữa những khuyết tật của phát triển. Cụ thể
ở đây là sự chênh lệch giàu nghèo quá lớn và việc phân
bổ gánh nặng của khủng hoảng quá nặng lên vai tầng lớp thu
nhập thấp hơn trong xã hội. Biểu tình như thế không phải là
phương thức sửa chữa khuyết tật, nhưng nó đặt ra được
vấn đề phải sửa chữa, nó thúc đẩy sự quan tâm và những
nỗ lực cho công việc sửa chữa.

Các nước phát triển này, - tư bản hay đế quốc,
muốn gọi thế nào thì tùy - lúc này khác có những cuộc biểu
tình rất lớn như thế. Vừa mới đây nhất là các cuộc biểu
tình ở Mỹ chống chiến tranh Iraq giữa lúc cuộc chiến đang
nóng bỏng. Những cuộc biểu tình này ở Mỹ cùng với nhiều
thể chế khác nữa của hệ thống pháp quyền Mỹ không phải
là không có tác động đối với chính quyền Obama bây giờ.
Những sự việc này cho thấy hệ thống chính trị những quốc
gia này được thiết kế sao cho có khả năng vạch ra quyết
liệt các điều cần vạch ra (dù rằng không phải khuyết tật
nào cũng vach ra được), và có khả năng điều chỉnh, sửa
chữa những khuyết tật được vạch ra (dù không hiếm trường
hợp là không thể, là bất lực). Làm gì có chế độ chính
trị tiên thánh nào trên thế giới luôn luôn sửa chữa được
100% khuyết tật xảy ra.

Coi cuộc biểu tình Chiếm phố Wall là sự giãy chết
của chủ nghĩa tư bản, là những "triệu chứng" hay "bằng
chứng" cho việc xã hội loài người nhất định tiến lên
chủ nghĩa xã hội… là tuỳ cách nhìn của mỗi người. Tôi
quan tâm đến một khía cạnh khác: Mong muốn thể chế chính
trị ở nước ta có được sức mạnh như thế vạch ra và sửa
chữa các khuyết tật. Một cỗ xe hiện đại thế nào đi nữa
cũng phải có cái thắng (cái phanh) mới đắc dụng được. Còn
hơn thế, phong trào duy tân đất nước tôi muốn xới xáo lên
trong Bài 2 này, để gợi ý, để xin được bàn luận.., không
phải chỉ có mỗi một việc là làm ra cái thắng cần phải
có, nó còn phải nhằm vào cải thiện và xây lại cả bộ máy.

Như đã nêu trên, điểm khởi động là người dân
phải đứng lên tự giải phóng. Nên thông qua thực hiện dân
chủ và công khai minh bạch để khuyến khích người dân tự
đứng lên giải phóng. Cả nước, ngoài Đảng cũng như trong
Đảng, xin cùng nhau vắt óc tìm cách thực hiện sự khởi
động này.

- Suy nghĩ về duy tân như vậy, tôi ảo tưởng?

- Gần như chắc chắn. Nhất là ảo tưởng về khả năng
thực hiện.

- Vậy nêu ra con đường duy tân để làm gì?

- Vì theo cách nhìn của tôi, muốn thực hiện được cải
cách triệt để đất nước thì có lẽ nên có một phong trào
duy tân như thế làm động lực. Tôi tin đấy là con đường
cải cách thành công lâu dài, bền vững, để đất nước
đoạn tuyệt hẳn với cái quán tình lịch sử tai ác, đi vào
giai đoạn phát triển mới. Để đừng tái diễn cái cảnh sau
25 năm đổi mới, cái quán tính lịch sử bây giờ lại lên
ngôi! Tôi hy vọng như vậy!.. Con đường ấy có thể người
dân và người cầm quyền không thể đi được trong trạng thái
hiện nay… Hoặc là, con đường ấy người dân muốn đi,
người cầm quyền không dám, không muốn… Hoặc là, con
đường ấy người cầm quyền không muốn, chưa muốn, hoặc
phải cân nhắc trong, ngoài nhiều thứ, nhất là vào thời khắc
nhạy cảm như hiện nay. Hoặc là, con đường ấy người cầm
quyền tự thấy không thể đi được. Hoặc là, người cầm
quyền dứt khoát bác bỏ nó… Hoặc là cuộc sống còn có con
đường khác?.. Hoặc có thể tôi nghĩ sai… Vân vân… Tôi hy
vọng sẽ đến gần sự thật tôi đang đi tìm.

Nguyễn Trung
Võng Thị, ngày 20 tháng 10, 2011


<h2>Chú thích</h2>

[1] Cách nhìn này của tôi không giống quan điểm có cái tên
gọi là "giải phóng lực lượng sản xuất" như đã từng
thực hiện ở nước ta.

[2] Ví dụ: (1) Chúng ta chắc sẽ rất khó hình dung nổi những
cố gắng lặng lẽ, bền bỉ, tự thân – nghĩa là hầu như
không có một sự trợ giúp nào có cái tên gọi là "quốc
doanh" của Hội Doanh nghiệp hàng Việt Nam chất lượng cao,
những nỗ lực giành chỗ đứng cho sản phẩm Việt Nam ngay
trên thị trường Việt Nam và nước ngoài. Năm này qua năm
khác, Hội này tìm mọi cách đưa các sản phẩm ấy đến các
chợ, các vùng khắp cả nước hoặc ra bên ngoài, giới thiệu
chúng, vận động người tiêu dùng hiểu và yêu thích tiêu
thụ, vận động các doanh nghiệp cùng nhau bảo vệ nhãn hiệu
và thương trường của mình chống lại thị trường lậu và
nạn cướp nhãn hiệu... (2)Khó mà nói hết những khó khăn do
nghèo thiếu và những khó khăn do những cái đầu chật hep từ
bên ngoài NXB gây ra mà Nhà xuất bản Tri thức phải vượt qua
để dịch và mang đến bạn đọc chúng ta những bộ sách quý
giá của văn minh nhân loại đang vô cùng cần thiết cho nước
ta lúc này. Khỏi phải nói người đọc chúng ta vui như thế
nào khi có trong tay các cuốn sách như Bàn về tự do, Nền dân
trị Mỹ … Còn rất rất nhiều những ví dụ làm ấm lòng
người như thế, vân vân…

[3] Tìm đọc các bài viết "Biển Đông, cái biển hay cái
ao?", "Tô-tem sói…" vân vân… trên tạp chí Thời Đại
Mới các số trong năm 2011.

[4] Ngày nay Việt Nam được đánh giá là nước đang phát triển
có mức thu nhập trung bình, song cách diễn đạt như vậy vẫn
không thay đổi vị trí nước ta đứng xa về phía cuối trong
bảng xếp hạng quốc gia tính theo GDP p.c.

[5] Theo sử liệu,

[6] Đơn vị đo lường cũ của ta: 1 cân ta = 16 lạng ta.

[7] Xem: Cao Huy Thuần, Từ bao giờ và bằng cách nào người
Nhật thoát ra khỏi quỹ đạo tư tưởng của Trung Quốc? , tạp
chí Thời đại mới, số 19 – xuất bản tháng 7-2011. Trong bài
này, dựa vào tìm hiểu những công trình nghiên cứu của những
học giả lỗi lạc của Nhật, Cao Huy Thuần cho rằng sức ép
về văn hóa, tư tưởng thay đổi nước Nhật có trước cả
thời kỳ khai sáng ở châu Âu.

[8] Xem Trần Trọng Kim, "Việt Nam sử lược", NXB Đà Nẵng
2001; Yoshiharu Tsuboi, "Nước Đại Nam đối diện với Pháp và
Trung Hoa 1847 - 1885", MXB Nhã Nam & NXB Tri thức, 2001

[9] Xem thêm Tựa cho sách của Tsuboi, Tsuboi - sách đã dẫn.

[10] Tham khảo thêm (a) những sử liệu và những lời bình của
Trần Trọng Kim, trong "Việt Nam Sử Lược"; (b) những sử
liệu rất phong phú của các giáo sỹ ngoại quốc, các quan
chức và nhà buôn các nước, trước hết là Pháp, được
Yoshiharu Tsuboi sưu tầm, hệ thống hóa và lý giải trong luận
văn tiến sỹ của mình, bảo vệ tại Pháp năm 1982, sau đó đã
xuất bản thành sách với tựa đề "Nước Đại Nam đối
diện với Pháp và Trung Hoa" – đã được dịch ra tiếng
Việt và xuất bản tại Việt Nam.

[11] Xem Y Tsuboi, sách đã dẫn, trang 255, bản dịch của Nguyễn
Đình Đầu, do 2 NXB Nhã Nam và Tri Thức đồng phát hành năm
2011.

[12] Xem Trần Trọng Kim, sách đã dẫn, trang 420, bản do NXB Đà
Nẵng in và phát hành năm 2002.

[13] Xem Y Tsuboi, sách đã dẫn, trang 136.

[14] Tsuboi, sách đã dẫn, trang 339.

[15] Nên tham khảo thêm bài viết của anh Cao Huy Thuần, nêu trong
chú thích (4).

[16] TRần Trọng Kim, sách đã dẫn, trang 522.

[17] Nguyễn Trung, tiểu thuyết Dòng đời, NXB Văn nghệ, TPHCM,
2006.

[18] Nguyễn Trung, "Dòng đời", sách đã dẫn, tâp IV, tr 857,
858.

[19] Tìm xem thêm: Trần Bạch Đằng, "Vài suy nghĩ về tiểu
thuyết Dòng đời"

http://www.viet-studies.info/NguyenTrung/DongDoi_TranBachDang.htm

[20] Tôi chưa xin phép tác giả trích dẫn, nên xin viết tắt tên
tác giả như vậy.

[21] Nguyễn Trung, trong Tạp chí Thời đạ mới, số 22, xuất
bản tháng 8-2011.

[22] Gần đây và tại Đại hội XI, cái đích của dân tộc mà
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tinh túy trong Di Chúc của người
được viết lại là: xây dựng một "Việt Nam hòa bình, độc
lập thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giầu nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh". Viết chi tiết và viết dài ra
như thế vẫn là cái đích của dân tộc mà Chủ tịch Hồ Chí
minh đã đúc kết nên. Điều cốt yếu là phấn đấu thực
hiện thành công cái đích này.

[23] Văn kiện Đại hội XI, NXB Chính trị Quốc gia, tr. 240.

[24] Xem Nguyễn Trung, bài về vấn đề Hiền tài, TĐM số 22,
đã dẫn.

[25] Văn kiện Đại hội XI, NXB Chính trị Quốc gia, tr. 171.

[26] Theo dõi trong 25 đổi mới, cũng thấy chu kỳ các cuộc
khủng hoảng kinh tế ở nước ta có biểu hiện ngắn lại,
nội dung cũng ngày càng phưc tạp hơn, cuộc khủng hoảng hiện
nay là phức tạp nhất vì chủ yếu là khủng hoảng cơ cấu
kinh tế.

[27] Trên thực tế bộ máy nhà nước của hệ thống chính trị
nước ta là hai bộ máy song trùng, dính vào nhau, đan xen nhau,
chồng lấn nhau ờ mọi cấp mọi ngành giữa hai bên đảng và
chính quyền. Nếu gọi mọi người làm việc ăn lương ở cả
hai bộ máy này dưới cái tên chung là viên chức, hầu như
chắc chắn nước ta có tỷ lệ này tính theo số dân cao nhất
Đông Nam Á và vào loại rất cao trên thế giới. Song điều nguy
hiểm nhất là nó rất kém hiệu quả, tính trách nhiệm và tin
cậy được thấp (accountability), rất khó cải cách, một trong
những nguyên nhân làm cho chống tham nhũng trở thành gần như
không thể. Cách đào tạo, tuyển chọn và sử dụng đội ngũ
viên chức này càng làm trầm trọng thêm vấn đề.

[28] Tìm xem Tsuboi, sách đã dẫn.

[29] Báo cáo Chính trị tại Đại hội XI đã phải nêu khá rõ
thực trạng này. Xem Văn kiện Đại hội XI, sách đã dẫn, tr,
173.

[30] Tên quyển sách "Người Trung Quốc xấu xí", của Bá
Dương.

<em>Lên trang viet-studies ngày 25-10-11</em>

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/10381), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét