có danh phận hàng đầu của chế độ họp để góp ý cho đại
hội đảng cũng khẳng định từ Đại Hội XI, Đảng và chế
độ cộng sản sẽ bắt đầu giai đoạn sụp đổ. Đại Hội
XI của Đảng Cộng Sản Việt Nam vừa qua đã xác nhận điều
đó.
Đại Hội XI đã không đạt tới được đồng thuận về một
định hướng hay một dự án nào, mà chỉ nhắc lại một cách
ngược ngạo là tiếp tục "phát triển Cương lĩnh năm 1991 để
làm nền tảng chính trị, tư tưởng cho mọi hoạt động của
Ðảng và Nhà nước". Nhưng cương lĩnh năm 1991 là gì? Đó là
quyết định của Đại Hội 7 chặn đứng đà đổi mới chính
trị khởi đầu từ Đại Hội 6 cuối năm 1986 để cầu hòa
với Trung Quốc và rập khuôn theo Trung Quốc với hy vọng có
thể cố thủ và tồn tại. Nhưng làm sao có thể tiếp tục
một chính sách đã được quyết định cách đây 20 năm trong
một thế giới thay đổi dồn dập hàng ngày? Không một chính
đảng nào trên thế giới, dù là đảng cầm quyền hay đảng
đối lập, có thể tuyên bố như thế mà không sợ biến thành
trò cười, Đảng Cộng Sản Việt Nam đúng là một ngoại lệ.
Đồng thuận duy nhất của đại hội, và được nhắc lại
trong mọi phát biểu, là phẩm chất cán bộ của đảng đã sa
sút nghiêm trọng. Trong một tình trạng như vậy dĩ nhiên vấn
đề nhân sự lãnh đạo không thể giải quyết. Việc chỉ
định Tổng Bí Thư và Bộ Chính Trị vừa qua không phải là
giải đáp mà chỉ chứng tỏ sự thiếu vắng giải đáp, hay
tệ hơn nữa một bế tắc không lối thoát. Liên minh Đỗ
Mười – Lê Đức Anh, đã bảo đảm sự ổn định chính trị
trong đảng trong hai thập niên qua, không còn nữa. Hai ông này
đã chia rẽ nhau và đều đã bất lực. Ông Lê Đức Anh không
đưa được ông Nguyễn Tấn Dũng vào chức Tổng Bí Thư, cũng
như ông Đỗ Mười không áp đặt được ông Trương Tấn Sang,
và cả hai ông đều không ngăn cản được ông Nguyễn Phú
Trọng.
<div class="boxright300"><img
src="http://danluan.org/files/u1/NguyenPhuTrong.jpg" width="281" height="317"
alt="NguyenPhuTrong.jpg" /><div class="textholder">Nguyễn Phú Trọng,
một Tổng Bí Thư hình thức bởi vì không ai đủ hậu thuẫn
và uy tín để giữ chức vụ này</div></div>
Nhưng không phải vì thế mà ông Trọng trở thành người lãnh
đạo thực sự của đảng, ông là người có số phiếu thấp
trong số những người được bầu vào Bộ Chính Trị và chỉ
là một Tổng Bí Thư hình thức bởi vì không ai đủ hậu
thuẫn và uy tín để giữ chức vụ này. Thực ra ĐCSVN không có
Tổng Bí Thư. Mặc dù nó vẫn tiếp tục đàn áp thô bạo chế
độ cộng sản chỉ còn là một hư cấu và sẽ không thể
thích nghi với trật tự thế giới hậu khủng hoảng đang hình
thành. Nó thiếu cả ý kiến và lẫn lãnh đạo. Nó không có ý
kiến vì nó không thể có ý kiến, vì mọi ý kiến đúng đắn
đều dẫn tới kết luận hiển nhiên là chế độ này vô lý
và phải chấm dứt. Nó không thể có những người lãnh đạo
đúng nghĩa vì bộ máy sàng lọc của nó đã loại bỏ hết
những con người có trí tuệ và đạo đức.
Tình trạng xuống cấp của ĐCSVN là hậu quả tự nhiên của
chính sách mở cửa kinh tế. Một chế độ độc tài mở cửa
về kinh tế bắt buộc phải bị đào thải. Đào thải sớm hay
muộn và nhường chỗ cho cái gì là một câu hỏi khác nhưng
bắt buộc phải bị đào thải. Tại sao? Bởi vì nó áp đặt
lên một xã hội ngày càng có sức mạnh và được thông tin
đầy đủ những chịu đựng ngày càng không thể chấp nhận.
Mất tự do thực ra đồng nghĩa với mất phẩm giá và tư cách
con người, đó là những điều mà người ta chỉ có thể quên
đi trong một hoàn cảnh thiếu thốn cùng cực. Chế độ độc
tài áp đặt sự nhục nhằn đó nhân danh mục tiêu phát triển
kinh tế, trong nhiều trường hợp chỉ có nghĩa là ra khỏi tình
trạng nghèo khổ mà chính nó là nguyên nhân. Vì thế nó phải
bị đào thải dù thành công hay thất bại trong mục tiêu này.
Nếu thất bại nó không có lý do gì để tiếp tục tồn tại,
nếu thành công nó đã làm xong sứ mệnh và cũng phải chấm
dứt vì xã hội đã thay đổi trong quá trình mở cửa. Kinh tế
càng tăng trưởng, cuộc sống càng thoải mái hơn thì sự
tước đoạt tự do càng khó chấp nhận; những nhu cầu vật
chất ngày càng nhường chỗ đứng ưu tiên cho những đòi hỏi
tinh thần, con người càng bớt lệ thuộc vào chính quyền và
càng có khả năng đòi hỏi hơn. Họ cũng được thông tin đầy
đủ hơn để nhận ra sự tầm thường của những người cầm
quyền. Người ta cũng ngày càng rời nông thôn về thành thị,
mội trường tự nhiên của dân chủ. Chính sách mở của kinh
tế đã được thực hiện từ gần ba mươi năm rồi, trong hầu
hết mọi quốc gia thời gian đó đủ để chế độ độc tài
bị đào thải nhường chỗ cho một chế độ dân chủ. Tuy
vậy, theo một nghiên cứu của tổ chức Freedom House, mà chúng
ta chỉ có thể đồng ý, Việt Nam đã không hề có tiến bộ
nào đáng kể về mặt dân chủ trong hai mươi năm qua. Chúng ta
quả là một ngoại lệ, và một ngoại lệ đáng buồn. Tại
sao?
Cần gạt ngay một lập luận hoàn toàn sai theo đó Việt Nam
chưa có dân chủ vì dân trí Việt Nam kém. Tất cả các nước
dân chủ đều đã có dân chủ vào lúc dân trí của họ còn
rất thấp so với Việt Nam hiện nay. Mỹ và các nước Châu Âu
đã thiết lập chế độ dân chủ vào lúc mà đa số dân chúng
là những nông dân không biết đọc biết viết, chưa có radio,
tivi, điện thoại di động, internet, cũng chưa có ngay cả xe
đạp, xe máy. Dân chủ là một bước tiến trí tuệ do các trí
thức đề xướng và thiết lập. Các nước dân chủ đã có
dân chủ nhờ có được một đội ngũ trí thức xứng đáng.
Thay vì biện luận một cách xúc phạm là dân trí Việt Nam
thấp, trí thức Việt Nam nên lương thiện nhìn nhận là chính
mình kém. Trí thức Việt Nam quả là một ngoại lệ. Và một
ngoại lệ lớn đến nỗi cần phải đặt lại câu hỏi chúng
ta có những trí thức đúng nghĩa hay không.
Người trí thức dĩ nhiên cần có một vốn liếng hiểu biết
nào đó, nhưng đó không phải là điều quan trọng nhất. Điều
quan trọng hơn nhiều là người trí thức phải biết tự đặt
cho mình những vấn đề và tự tìm giải đáp của mình cho
những vấn đề đó. Bộ nhớ của một máy vi tính có thể
chứa đựng rất nhiều kiến thức và lý luận cao siêu nhưng
không phải vì thế mà chiếc máy vi tính là một trí thức. Cái
không bình thường của đa số trí thức Việt Nam là chỉ học
để có kiến thức, trong nhiều trường hợp chỉ là để
được coi là có kiến thức qua bằng cấp, và để lặp lại
những lý luận có sẵn, với mục đích là để có được một
địa vị trong xã hội. Suy nghĩ độc lập, bằng cái đầu của
chính mình, không phải là sở trường của trí thức Việt Nam.
Nhưng nói rằng trí thức Việt Nam chỉ có kiến thức chứ
không biết suy nghĩ cũng không đúng hẳn. Có ít nhất một lãnh
vực mà trí thức Việt Nam hầu như không biết gì mà còn có
những thành kiến rất sai, đó là chính trị, tư tưởng chính
trị cũng như đấu tranh chính trị. Không phải là vì chính
trị khó mà là vì trí thức Việt Nam không chịu học hỏi. Sự
từ chối học hỏi này có nguyên nhân từ di sản văn hóa và
lịch sử. Trong suốt dòng lịch sử kẻ sĩ, rồi trí thức, coi
học là cốt để làm quan hay để có được một địa vị
trong xã hội, nói cách khác để làm dụng cụ cho một quyền
lực sẵn có chứ không phải để thay đổi xã hội. Trong cách
học này không có chỗ cho chính trị, bộ môn có mục đích phê
phán và thay đổi chính quyền. Trong cách học này người ta
chỉ cần nhắc lại một cách thật đúng những gì được coi
là chính thống. Thêm vào đó trí thức Việt Nam lại còn là
sản phẩm của một hệ thống giáo dục và đào tạo trong đó
nhưng người thi đậu những khóa thi thơ phú được bổ nhiệm
làm quan cai trị dù tuyệt đối không biết gì về chính trị.
Hệ thống này để lại một di sản mà có lẽ chỉ có trí
thức Việt Nam và Trung Quốc không thấy là kỳ cục, đó là
tưởng rằng có thể làm chính trị mà không cần học học
chính trị. Sự kiện ngày nay nhiều người có bằng thạc sĩ
kinh doanh – hay nha sĩ hay cử nhân hóa học – tự cho là có
thẩm quyền để nói về chính trị, thậm chí có thể làm bộ
trưởng, là một tiếp nối tự nhiên của truyền thống bổ
nhiệm những cử nhân, tiến sĩ ngày xưa làm quan chức. Do trực
tiếp chịu đựng hậu quả của những "chính trị gia" như thế
quần chúng Việt Nam phần nào cũng bị nhiễm độc. Trong một
thời gian, đặc biệt là tại hải ngoải, không thiếu gì
những người không có bất cứ một sự hiểu biết nào hay
một kinh nghiệm nào về chính trị thình lình hứng chí nhảy ra
thành lập tổ chức đấu tranh. Nếu có một điều cần được
nghĩ lại thì đó là chính trị đòi hỏi một cố gắng học
hỏi rất quan trọng. Không học thì không biết là điều đúng
cho mọi trường hợp nhưng càng đúng cho chính trị.
Di sản lịch sử còn để lại cho trí thúc Việt Nam một tật
nguyền nghiêm trọng khác: nguỵ biện. Do tập quán trong hàng
nghìn năm phải phục tùng tuyệt đối và không điều kiện các
vua chúa, sau đó là Đảng, không những phải chấp hành mà còn
phải ca tụng những mệnh lệnh bất nhân bất nghĩa, kẻ sĩ,
rồi trí thức, Việt Nam có thể vì những lý do hoàn toàn cá
nhân, như quyền lợi hoặc khiếp sợ, chấp nhận những chọn
lựa mà trong thâm tâm mình cũng biết là sai rồi biện luận
để bào chữa cho chúng như là những chọn lựa đúng. Tập
quán tệ hại này ngăn cản mọi thảo luận nghiêm chỉnh.
Một thí dụ điển hình về sự hụt hẫng của trí thức Việt
Nam là có rất nhiều người cho rằng con đường đúng nhất
để dân chủ hóa đất nước là phục tùng chế độ, hợp tác
với nó và cải tiến nó từ bên trong. Lập trường này lôi
kéo được đa số trí thức Việt Nam vì sự tiện nghi của nó,
nhưng nó sai hoàn toàn. Thay đổi xã hội là một vấn đề đã
được nghiên cứu rất đầy đủ và mọi nghiên cứu đều
kết luận ngược lại. Muốn thay đổi một chính quyền xấu
thì phải phản kháng nó, phản kháng một cách ôn hòa và xây
dựng nếu có thể được nhưng phải phản kháng. Phục tùng và
hợp tác với một chế độ bạo ngược và tham nhũng chỉ
củng cố nó chứ không thay đổi được nó, trái lại người
ta sẽ đánh mất chính mình và bị lưu manh hóa. Hàng triệu kẻ
sĩ Trung Quốc và Việt Nam trong hàng ngàn năm đã quỳ mọp
trước các vua chúa để tâu đạo lý thánh hiền nhưng đã
không thay đổi được các chế độ quân chủ mà chỉ khiến
chúng trở thành khắc nghiệt hơn với thời gian. Nếu trí thức
Việt Nam chịu bỏ ra một chút thời giờ, chỉ một chút thời
giờ thôi, để học hỏi và suy nghĩ thì cái lập luận "hợp
tác để cải tiến từ bên trong" đã không thể có.
Một thí dụ khác là lập luận cho rằng cứ gác lại những
đòi hỏi chính trị và tập trung cố gắng vào phát triển kinh
tế (và như vậy nên hợp tác với chính quyền hoặc ít nhất
không phản đối) rồi tăng trưởng kinh tế tự nó sẽ đưa
đến dân chủ. Lập luận này có vẻ có bài bản vì quả nhiên
trong nhiều trường hợp người ta đã thấy dân chủ và phát
triển đi song song với nhau và mọi nghiên cứu đều ghi nhân
điều này. Nhưng chỉ cần nhìn sâu hơn một chút thôi thì ta
cũng thấy đây hoặc là một nguỵ biện hoặc là một ngộ
nhận. Dân chủ đưa đến phát triển kinh tế là điều chắc
chắn không ai chối cãi và mọi nghiên cứu đều xác nhận,
nhưng điều ngược lại không đúng; nói rằng tăng trưởng kinh
tế đưa đến dân chủ là lẫn lộn nguyên nhân với hậu quả.
Điều chắc chắn là mở cửa kinh tế, và tăng trưởng kinh tế
sau đó, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh giành
dân chủ, như phần trên của bài này đã trình bày, với điều
kiện là có tranh đấu. Nếu không có đấu tranh chính trị đủ
mạnh thì cũng không có gì thay đổi cả. Có nhiều triển vọng
là những người sử dụng lập luận này không thành thực mà
chỉ ngụy biện bởi vì trong hơn hai mươi năm qua mặc dù kinh
tế đã tăng trưởng nhiều nhưng chế độ độc tài vẫn không
thay đổi và sự kiện này không hề làm họ phiền lòng. Sự
lố bịch của lập luận "tăng trưởng kinh tế tự nó đưa
đến dân chủ" thể hiện rõ ràng trong trường hợp mà các nhà
nghiên cứu chính trị gọi là "tai họa dầu lửa" (the oil curse)
các nước có dầu lửa tăng trưởng kinh tế rất nhanh chóng
nhưng đều là những nước không dân chủ, đôi khi, như tại
Nga và Venezuela, ngân khố dồi dào còn cho phép chính quyền bóp
nghẹt dân chủ. Một lần nữa, nếu trí thức Việt Nam chịu
bỏ chút thời giờ để đọc những nghiên cứu về dân chủ,
lập luận này đã bị gạt bỏ từ lâu rồi.
Các nghiên cứu về dân chủ và tiến trình dân chủ hóa rất
nhiều. Điều này dễ hiểu vì dân chủ và dân chủ hóa là
những vấn đề quan trọng nhất trên thế giới từ một nửa
thế kỷ qua, đồng thời cũng là những vấn đề quyết định
tương lai của mỗi quốc gia. Không thể và cũng không cần
đọc hết những nghiên cứu này bởi vì tựu chung, qua những
cách tiếp cận và lý luận khác nhau, chúng đều đi đến
những kết luận giống nhau. Điều này có tầm quan trọng đặc
biệt vì chứng tỏ những kết luận này đáng được coi là
chắc chắn. Những kết luận này chúng ta đều có thể cảm
nhận hoặc dự đoán, đóng góp của những nghiên cứu này là
chúng được thực hiện một cách qui mô và khoa học, dựa trên
những dữ kiện cụ thể trong rất nhiều quốc gia thuộc những
văn hóa rất khác nhau cho nên những kết luận của chúng không
phải chỉ là những suy luận mà phải được coi là những sự
thực đàng sau các sự kiện và số liệu.
Các nghiên cứu khác nhau ở mục tiêu và cách tiếp cận. Thí
dụ như cuốn Dân chủ và Dân chủ hóa (Democracy and
Democratization) của Georg Sorensen (1) nhằm trình bày và giải
thích khái niệm dân chủ, những lý do đưa đến những thăng
trầm của trào lưu dân chủ trên thế giới và ảnh hưởng
của dân chủ trên kinh tế, văn hóa và quan hệ quốc tế. Kết
luận là dân chủ đưa đến phát triển về mọi mặt kinh tế,
văn hóa, xã hội và cũng rất cần thiết cho hòa bình trên thế
giới.
Nghiên cứu nổi tiếng của Seymour Martin Lipset (2) đã cho thấy
có một quan hệ mật thiết giữa phát triển và dân chủ, theo
đó tăng trưởng kinh tế tuy không phải là điều kiện cần,
cũng không phải là điều kiện đủ, để có dân chủ nhưng là
một yếu tố rất thuận lợi cho tiến trình dân chủ hóa.
Nghiên cứu rất qui mô của tổ chức Values Survey về sự
chuyển hóa từ độc tài sang dân chủ do Ronald Inglehart và
Christian Welzel (3) hướng dẫn đã tổng hợp một khối lượng
dữ kiện khổng lồ trên hơn 80 quốc gia để đi tới một kết
luận chắc chắn là sự khá giả vật chất luôn luôn có tác
dụng đẩy mọi xã hội, trong tất cả mọi nền văn minh, về
cùng một hướng là tăng cường tự do cá nhân, kích thích sự
hình thành của các tổ chức trong xã hội dân sự, giải phóng
quần chúng khỏi sự chi phối của chính quyền và thúc đẩy
họ kết hợp với nhau đòi dân chủ.
Một nghiên cứu lớn khác của O'Donnell và Schmitter (4), đặt
trọng tâm vào giới cầm quyền, cho thấy là tăng trưởng kinh
tế không những chỉ tăng sức mạnh và ảnh hưởng của xã
hội dân sự mà còn làm tan vỡ tập đoàn cầm quyền do xung
đột giữa khuynh hướng cởi và khuynh hướng thủ cựu. Cả hai
phe đều muốn cứu chế độ nhưng sự xung đột của họ đưa
tới hậu quả là khiến chế độ bị phân hóa và sụp đổ
nhanh hơn. Điều cần được nhấn mạnh ở đây là hiện
tượng tự tách hay tự vỡ của đảng cầm quyền là hậu quả
của những áp lực đến từ xã hội chứ không phải tự nhiên
mà có. Như vậy không thể chờ đợi đảng cộng sản tự vỡ
hay tự tách nếu không có chống đối từ bên ngoài.
Cũng có rất nhiều những nghiên cứu, ít quy mô và nặng tính
lý luận hơn, về phương thức đấu tranh cho dân chủ. Một thí
dụ là cuốn Từ Độc Tài Đến Dân Chủ (From Dictatorship to
Democracy) của Gene Sharp đã được Thông Luận dịch ra tiếng
Việt. Cũng nên kể cuốn sách rất nên đọc của Larry Diamond,
The Spirit of Democracy (5), tóm lược một cách khá đầy đủ
những công trình nghiên cứu lớn về cuộc đấu tranh xây dựng
dân chủ trên thế giới.
Một người bạn sau khi miệt mài nghiên cứu nhiều tác phẩm
về đấu tranh xây dựng dân chủ, kể cả những tác phẩm kể
trên, nói với tôi: "Những cuốn sách này không dùng được cho
Việt Nam, chúng đều dựa trên tiền đề là đã có sẵn một
xã hội dân sự gồm những tổ chức không lệ thuộc nhà
nước độc tài, đó không phải là trường hợp của Việt Nam,
chúng ta chưa có những tổ chức không lệ thuộc chính quyền,
chúng ta chưa có xã hội dân sự". Quá đúng! Các nhà nghiên
cứu này đều cho rằng trong bất cứ một xã hội nào, dù
dưới một chế độ độc tài khắc nghiệt như thế nào, cũng
vẫn có những tổ chức không lệ thuộc chính quyền. Họ không
thể tưởng tượng được là có thể có một quốc gia như
Việt Nam.
Chúng ta là một ngoại lệ, và một ngoại lệ quá lớn. Kết
hợp thành tổ chức, trừ những liên kết nghề nghiệp nhỏ và
có mục tiêu rất cụ thể, luôn luôn do các trí thức chủ
xướng. Trí thức Việt Nam không bình thường.
Đến đây chúng ta đã có câu trả lời cho câu hỏi "Chế độ
cộng sản sẽ còn kéo dài tới bao giờ?". Nó sẽ còn kéo dài
chừng nào Việt Nam vẫn còn là một ngoại lệ, trí thức Việt
Nam vẫn không bình thường. Nó có thể phân hóa, ruỗng nát,
thậm chí ngã gục trên chính quyền nhưng nó vẫn còn đó nếu
không có một sức mạnh nào để kéo thi thể nó đi chỗ khác.
Một cách tích cực ta cũng có thể nói là chế độ cộng sản
sẽ nhường chỗ cho một chế độ dân chủ khi trí thức Việt
Nam không còn là ngoại lệ, nghĩa là đã ý thức được rằng
điều kiện bắt buộc để giành thắng lợi cho dân chủ là
phải xây dựng một xã hôi dân sự đúng nghĩa, và cố gắng
kết hợp với nhau thành những tổ chức chính trị và phi chính
trị không lệ thuộc chính quyền. Cũng như quyền tự do ngôn
luận, quyền tự do kết hợp là quyền mà mọi tập đoàn toàn
trị đều muốn cấm tuyệt đối nhưng không cấm được vì
không có biên giới rõ rệt giữa những kết hợp tự nhiên
bắt buộc phải có trong một sinh hoạt kinh tế thị trường và
những kết hợp có tiềm năng tạo áp lực thay đổi chế độ.
Ta có thể từng bước mở rộng không gian chính trị ngoài
chính quyền. Sở dĩ cho đến nay chúng ta chưa có những tổ
chức chỉ vì trí thức Việt Nam chưa nghĩ đến chứ không
phải là vì không thể có. Hãy cứ đặt kết hợp và đấu
tranh giành quyền tự do kết hợp thành những ưu tiên hàng
đầu rồi chúng ta sẽ nhìn thấy phải làm như thế nào để
đạt kết quả. Xã hội Việt Nam đã chín muồi cho một cuộc
chuyển hóa về dân chủ, trí thức Việt Nam cũng đã tích lũy
một vốn kiến thức phong phú và đa dạng rất đầy đủ, chỉ
thiếu văn hóa và phản xạ tổ chức, điều mà chúng ta có
thể học hỏi không khó, sau đó tình hình có thể thay đổi
nhanh chóng. Ngay lúc này điều mà chúng ta có thể làm ngay là
yểm trợ trực tiếp hoặc gián tiếp những cố gắng đấu
tranh có tổ chức, và nếu vì một lý do nào không thể hưởng
ứng các cố gắng đó thì cũng đừng biện luận rằng có thể
đấu tranh cho dân chủ mà không cần kết hợp hoặc chưa phải
lúc kết hợp. Đấu tranh chính trị bao giờ cũng là đấu tranh
có tổ chức và không bao giờ là đấu tranh cá nhân cả, và
chúng ta đã quá chậm trễ.
Một lời sau cùng: trình độ tiến hóa của một dân tộc
được đánh giá theo mức độ phát triển của xã hội dân
sự, nghĩa là số lượng và phẩm chất của các tổ chức
ngoài chính quyền. Về điểm này thì dân tộc ta, nhất là lớp
trí thức của chúng ta, dù đã đạt tới một trình độ kiến
thức cao hơn cả một số dân tộc đã có dân chủ, vẫn còn
quá tụt hậu. Đây là một điều rất không bình thường mà
chúng ta phải khắc phục. Phải chấm dứt ngoại lệ Việt Nam
để trở thành một dân tộc văn minh, xứng đáng có tự do và
dân chủ.
Nguyễn Gia Kiểng
<h2>Ghi chú:</h2>
Các nghiên cứu nên đọc:
1. Georg Sorensen, Democracy and Democratization.
2. Seymour Martin Lipset, Some Social Requisites of Democracy: Economic
Development and Political Legitimacy.
3. Inglehart and Welzel, Modernization, Cultural change and Democracy.
4. O'Donnell and Schmitter, Transitions from Authoritarian Rule.
5. Larry Diamond, The Spirit of Democracy, the Struggle to build Free
Societies throughout the Word.
© Thông Luận 2011
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/7701), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét