Trong thời kỳ Đức Quốc xã thì khái niệm nhà nước pháp
quyền hoàn toàn bị hủy diệt. Với những nỗ lực xây dựng
ngành luật học thời hậu chiến, các học giả Đức đã tiếp
tục truyền thống trước đây khi đưa ra hai chiều hướng mới
nhằm định hình cho khái niệm nhà nước pháp quyền. Chiều
hướng thứ nhất thiên về xã hội trong khi chiều hướng thứ
hai thiên về luật nội dung.
1. Quan điểm thứ nhất cho rằng khái niệm nhà nước pháp
quyền nguyên thuỷ đặt trọng tâm vào quyền tự do của
người dân, thực ra chỉ là một mô hình hiến pháp, không thể
nào giải quyết được hết các vấn đề xã hội đặt ra. Ba
ý niệm cơ bản trong khái niệm nhà nước pháp quyền: bình
đẳng trước luật pháp, tự do của người dân và bào đảm
quyền tư hữu không chỉ nhằm giúp con người thoát khỏi
những ràng buộc thời phong kiến, mà còn cho con người được
tự do hơn trong hoạt động kinh tế và thoát khỏi những bất
bình đẳng tự nhiên, điều này chỉ đạt được khi sự bình
đẳng trong toàn xã hội cũng được tôn trọng. Do đó, vấn
đề phát triển con người trong sự toàn diện cần được đề
ra thành nguyên tắc cho tương lai. Chiều hướng cũ đã không
những không giải quyết bất công trong xã hội mà còn đem lại
sư tương phản giai cấp trầm trọng hơn khi ta chỉ dựa trên
nền tảng của một xã hội bình đẳng thuần về luật pháp.
Von Stein và Karl Marx đã hiểu rõ tính biện chứng lịch sử
của trào lưu này. Mặt khác trào lưu công nghiệp hoá xã hội
đã làm mất đi ít nhiều môi trường sống. Cả hai vấn đề
này vượt ra khỏi khái niệm nhà nước pháp quyền, do đó đòi
hỏi mới cho nhà nước phải là một nhà nước can thiệp vào
các vấn đề xã hội, nhà nước có nhiệm vụ cung ứng và
phân phối tài sản. Nhà nước phải đối đầu với những
vấn đề bất công xã hội mà không thuần túy chỉ nhằm vào
việc bảo vệ quyền tự do cá nhân như trong khái niệm nhà
nước pháp quyền trước đây. Nhà nước còn phải giải quyết
nhiều vấn đề khác, thí dụ như tình trạng gia tăng dân số,
nếu không thì việc bảo đảm luật pháp này trở thành khẩu
hiệu trống rỗng.
Nhưng tìm đâu ra một chuẩn mực chính xác để định hướng
cho nhà nước xã hội là điều không dễ dàng, trong khi những
lời kêu gọi hướng về nhà nước xã hội thì lại quá chung
chung. Qua nhiều tranh luận sôi động thì các học giả đều
không đồng thuận một khái niệm chung cho nhà nước xã hội
lồng trong ý niệm về nhà nước pháp quyền. Nhưng trong mức
độ nào đó thì chúng ta có thể chấp nhận khía cạnh nhà
nước can thiệp vào các vấn đề xã hội trong mô hình này,
đây là những câu hỏi mà không ai tìm được câu trả lời
thoả đáng. Có học giả cho rằng không thể có sự hoà hợp
giữa hai ý niệm về nhà nước xã hội và nhà nước pháp
quyền trên bình diện hiến pháp. Các học giả khác lại cho
rằng nhiệm vụ bảo vệ những người thua kém về mặt xã
hội phải được minh thị trong hiến pháp và là một ủy
nhiệm của hiến pháp cần phải thi hành, vì đây chính là một
vai trò quan trọng của hiến pháp trong việc tái phân phối lợi
tức xã hội. Nếu luận điểm này được chấp nhận thì bao
nhiêu hệ quả sẽ phải đặt ra. Những quyền đòi hỏi, thủ
tục và hình thức phân phối theo quan điểm nhà nước xã hội
phải được giải quyết. Khi đặt trọng tâm vào việc giải
quyết các vấn đề phân phối trong xã hội thì khái niệm nhà
nước pháp quyền sẽ mất đi ý nghĩa ban đầu của nó.
Ernst Forsthoff là một trong những học giả đã nhấn mạnh đến
tính cách không hòa hợp của hai khái niệm này. Ông cho rằng
không thể nào kết hợp hai quan điểm nhà nước xã hội và
nhà nước pháp quyền trên bình diện hiến pháp, vì việc thực
hiện khái niệm nhà nước xã hội chỉ dựa trên bình diện
lập pháp và luật hành chánh là đủ. Theo ông, nhà nước pháp
quyền nhắm vào bảo đảm những quyền hiến định đặc biệt
và bình đẳng trước luật pháp, tạo lập tài sản và tôn
trọng tư hữu. Do đó, khi dựa trên khái niệm nhà nước pháp
quyền mà lại đi xa hơn nữa để nhằm vào phân chia tài sản
xã hội là một điều không chấp nhận được. Một mặt, khi
quy định quyền bảo đảm có công việc cho mọi người dân,
nhà nước phải có bổn phận trợ cấp khi người dân bị mất
việc, trong khi nhà nước lại không có quyền điều hướng
thị trường theo mục tiêu của mình. Đó chính là một giới
hạn khi đề cập đến quyền tự do hoạt động và chọn nghề
nghiệp. Nhà nước không thể xã hội hoá các phương tiện sản
xuất vì không được hiến pháp quy định, trong khi đó thì
quyền tự do hoạt động nghề nghiệp và bảo vệ quyền tư
hữu dù được tôn trọng vẫn bị ảnh hưởng.
Đâu là lý do nội tại cho vấn đề này? Von Stein giải thích
rằng, với hình thức nhà nước pháp quyền chúng ta đã đạt
được tự do về mặt cơ bản, không nên đi sâu vào chi tiết
của các vấn đề cụ thể của xã hội. Những xung đột do
những tương phản của xã hội không thể giải quyết trên
bình diện luật hiến pháp. Vấn đề là phải tìm ra sự xung
đột xã hội bắt nguồn từ đâu để giải quyết, theo ông,
đó chính là mối quan hệ giữa tư bản, lao động, điều kiện
làm việc và phương cách thụ đắc quyền tư hữu. Do đó, khi
bàn đến nhà nước xã hội là chúng ta phải nghĩ đến những
điều kiện xã hội để thực hiện quyền tự do theo luật
định, quyền này phải làm sao áp dụng cho tất cả mọi
người, có nghĩa là làm cho bất công xã hội giảm đi. Để
giải quyết vấn đề này, chúng ta cần tìm cách giải quyết
trên bình diện chính quyền và lập pháp hơn là luật hiến
pháp. Toà Bảo hiến Đức cũng đã nhiều lần xác nhận học
thuyết này. Qua án lệ, tòa cho rằng cơ quan lập pháp được
ủy nhiệm đảm nhận vai trò tổ chức một nhà nước xã hội
nhằm đem lại công bình xã hội trong khuôn khổ mà hiến pháp
cho phép, mục tiêu xã hội là một phương cách để giải
thích, nhưng không thể bắt nguồn từ hiến pháp hay khái niệm
nhà nước pháp quyền để tạo ra một quyền hay một định
chế nào đòi hỏi đấu tranh cho các vấn đề xã hội. Do đó,
những nguyên tắc nhà nước xã hội cần được xác minh qua
hành vi của các nhà lập pháp và cơ quan công quyền, trong đó
những quyền bảo đảm từ hiến pháp mang lại phải được
tôn trọng.
Nhưng quan điểm này cũng đã bị phê bình vì những quyết
định của các nhà lập pháp trong các vấn đề xã hội đã
đem đến tác dụng ngươc lại. Những đạo luật về trợ cấp
xã hội, hưu bổng, cho thấy quyền lợi của dân chúng không
còn được tôn trọng thích đáng.
Một khía cạnh khác được tranh cãi là vai trò nhà nước trong
việc can thiệp vào các vấn đề xã hội, chẳng hạn các
quyết định liên quan đến thuế. Luật pháp không thể trừu
tượng mà phải quy định cụ thể trong các quyết định đánh
thuế. Nhưng làm thế nào để đạt mục tiêu nhà nước xã
hội (bảo vệ quyền tư hữu, tôn trọng di sản) đó chính là
vấn đề. Án lệ đã nhiều lần xác nhận đánh thuế là
quyền lập pháp nhưng phải tôn trọng quyền tư hữu. Nhà lập
pháp một mặt tìm cách đánh thuế để đem lại công bình và
an sinh xã hội, mặt khác phải đem đến thăng tiến chung cho xã
hội. Quyết định liên quan đến thuế là một điều kiện
cần thiết để nhà nước can thiệp vào các vấn đề xã hội,
mà thật ra vấn đề mối quan hệ giữa nhà nước xã hội và
nhà nước pháp quyền cũng không giải quyết đến tận gốc
rễ. Điểm chủ yếu trong hai vấn đề trên đây là làm sao tìm
ra một mức độ hợp pháp khả dĩ chấp nhận được để
giải quyết hơn là tìm kiếm trong luật hiến pháp hay khái
niệm nhà nước pháp quyền là cơ sở.
2. Một chuyển hướng quan trọng khác trong khái niệm nhà nước
pháp quyền trong thời kỳ này là thiên về luật nội dung hơn
là hình thức như đã cổ vũ trước đây. Vấn đề này không
mới lạ trong học giới nhưng qua kinh nghiệm đau xót của thời
kỳ Đức Quốc xã cho thấy tôn trọng luật hình thức sẽ
không đem đến hiệu năng nhất định. Quyền lực của cơ quan
nhà nước phải được quy đinh cụ thể hơn trong lãnh vực
bảo vệ tự do cho người dân. Hiến pháp không chỉ nêu lên
những giới hạn chung trong việc bảo vệ tự do. Cơ quan nhà
nước phải thực hiện những giá trị cơ bản nhằm tránh dẫn
đến chế độ độc tài. Đây là những giá trị khách quan
trong xã hội mà hiến pháp phải công nhận và được áp dụng
chung trong mọi sinh hoạt xã hội. Giá trị cơ bản này không
phải chỉ là hình thức mà phải đặt trong khuôn khổ nội dung
của luật hiến pháp. Khái niệm này nhằm loại bỏ những hình
thức trống rỗng của luật chỉ đề ra khuôn khổ chung. Nhà
nước pháp quyền phải chú trọng đến nội dung của pháp
quyền, không thể thiên về luật thủ tục hay hình thức như
trước đây.
Dĩ nhiên khái niệm này cũng gặp nhiều phản biện của các
học giả khác, thí dụ như Adolf Arndt. Ông cho rằng làm sao có
thể đồng thuận về một nội dung khi mà chúng ta không thể
xác định được nội dung để đồng thuận. Thật ra, sự
đồng thuận chỉ là một điều kiện tiên quyết nên đặt ra
để thảo luận, nhưng khi thông qua hiến pháp thì sự đồng
thuận có thể đạt được hay duy trì được. Ít nhất, chúng
ta phải chấp nhận những giá trị cơ bản đã làm nền tảng
cho sự đồng thuận cho sự sống chung. Nhưng ở mức độ nào
để chúng ta gọi là trật tự nền tảng cho nhà nước pháp
quyền? Có học giả cho rằng nhà nước là một thực thể sinh
động, giải quyết vấn đề đòi hỏi phải có thời gian dài,
nhà nước sẽ có khả năng tự điều chỉnh trước đòi hỏi
của tình thế xã hội. Hai vấn đề liên quan đến khía cạnh
này là vai trò của một định chế hữu hiệu và niềm tin của
dân chúng trong nỗ lực xây dựng nhà nước pháp quyền theo
luật nội dung.
<h2>IV. Kinh nghiệm cho Việt Nam?</h2>
Bài viết này nhằm trình bày thật đơn giản về nội dung khái
niệm nhà nước pháp quyền của Đức. Những đặc điểm chủ
yếu của khái niệm này là dựa vào lý tính, tôn trọng quyền
căn bản của người dân, khi thì thiên về luật thủ tục,
thuần về hình thức, nặng về hành chánh hoặc cảnh sát, lúc
lại quan tâm đến luật về nội dung hay các vấn đề công
bình trong xã hội. Các tranh luận về những luận điểm này
trong học giới cũng như trong công luận đã làm phong phú cho
nội dung của vấn đề cũng như giúp áp dụng tốt hơn trong
thực tế. Ai cũng thấy được dù bối cảnh lịch sử, trình
độ phát triển xã hội và dân trí Đức và Việt khác nhau,
nhưng kinh nghiệm của Đức trong lãnh vực xây dựng một nhà
nước pháp quyền không phải là một mặt hàng xa xỉ mà Việt
Nam có thể bỏ qua. Dĩ nhiên, tìm cách áp dụng nó vào hoàn
cảnh của Việt Nam hiện nay như thế nào lại là một thách
thức khác và không nằm trong chủ đề của bài viết này.
Dù những thành tựu về cải tổ luật pháp trong tiến trình
đổi mới của Việt Nam đã được khen ngợi, nhưng Việt Nam
có những vấn đề của chính mình mà kinh nghiệm của Đức
không giúp được. Những nan đề quen thuộc là: vai trò của
Đảng trong nhà nước pháp quyền, thẩm quyền hạn chế của
đại biểu quốc hội trong việc thảo luận các vấn đề học
thuyết, giới học thuật thì lại hiếm hoi, trong khi giới luật
sư chỉ bận tâm đến các dịch vụ trung gian cho nhà nước và
thân chủ hơn là đóng góp thiết thực cho công bình xã hội và
giúp nâng cao trình độ của quốc hội. Nhưng quan trọng hơn là
bối cảnh chung, giáo dục xuống cấp, đạo đức suy đồi,
tội phạm tăng cao và sự thờ ơ của dân chúng là trở lực
chính cho sự phát triển nhà nước pháp quyền trong ngắn hạn.
Cuối cùng chỉ còn lại một niềm hy vọng mong manh cho những
người ưu tư là thành tựu xây dựng một nhà nước pháp
quyền tại Việt Nam sẽ đạt được trong trường kỳ, do nỗ
lực chung của mọi giới.
© 2010 Đỗ Kim Thêm
© 2010 talawas
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/6701), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét