Trương Đình Trung - Biển Đông và quan hệ Việt - Mỹ - Trung (1)

Thời gian vừa qua có một vài sự kiện thời sự xảy ra liên
quan đến Biển Đông đã gây xôn xao dư luận trong và ngoài
Nước. Khởi đầu là lời tuyên bố của bà Ngoại trưởng Mỹ
về vấn đề các tranh chấp Biển Đông, theo đó Mỹ sẽ xem
nỗ lực cho vấn đề Biển Đông là một ưu tiên ngoại giao
hàng đầu (leading diplomatic prirority) và sẵn sàng giúp các quốc
gia liên quan thương lượng về một quy ước hành xử (code of
conduct in the water) trong vùng biển này. Kế đến là báo Wall
Street Journal ngày 5/8 đăng tin Giám Đốc Viện Nguyên tử năng
Việt Nam (Vietnamese Atomic Energy Institution), ông Vương Hữu Tân,
cho biết rằng Mỹ và Việt Nam đã khởi sự thảo luận từ
hồi tháng 3 về trao đổi kỹ thuật và nhiên liệu nguyên tử
để giúp Việt Nam phát triển năng lượng nguyên tử. Ông Tân
hy vọng là việc đàm phán sẽ kết thúc vào cuối năm nay. Tuy
nhiên ông Tân cũng thêm rằng thật ra Việt Nam chưa có kế
hoạch để làm giàu uranium mà chỉ tập trung vào vấn đề sử
dụng nguyên tử như năng lượng thôi. Sau nữa lại có tin thêm
về chiến hạm John Seniro McCain của Mỹ ghé cảng Đà Nẳng vào
ngày 10/8, và các viên chức quân sự Việt Nam được mời thăm
Hàng Không Mẫu Hạm nguyên tử USS George Washington, đang hiện
diện ngoài khơi Biển Đông, trong một chương trình 4 ngày trao
đổi việc huấn luyện hải quân hai nước trong công tác cấp
cứu và chữa lữa. Những sự kiện và tin tức xảy ra liên
tiếp như vậy đã dấy lên trong dư luận niềm hy vọng rằng
Mỹ đang có những chuyển hướng quan trọng trong chính sách
đối ngoại của mình đối với Đông Nam Á, và sự chuyển
hướng đó có thể có lợi cho Việt Nam trong việc đối phó
với những áp lực từ phiá Trung Quốc.

Để đóng góp phần rất nhỏ vào sự thảo luận rộng rãi
ấy, người viết bài này xin được tổng hợp lại dưới đây
đôi nét thô sơ về bức tranh chung của mối quan hệ giữa ba
nước Việt-Mỹ-Hoa như sau.

Trước hết là tuyên bố của Ngoại trưởng Mỹ. Tại cuộc
họp thượng đỉnh của Hiệp Hội các Nước Đông Nam Á,
trước sự hiện diện của 27 thành viên Diễn Đàn Khu Vực
của Hiệp Hội, Ngoại trưởng Clinton tuyên bố là "<em>Hoa Kỳ
có lợi ích quốc gia nằm trong sự tự do lưu thông và ra vào
các vùng biển chung của Á Châu, và tôn trọng luật quốc tế
trong vùng Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Hoa Kỳ hỗ trợ cho
một quá trình ngoại giao hợp tác, không bị áp đặt, của
tất cả các bên, trong việc giải quyết các tranh chấp lãnh
hải, và Hoa Kỳ chống lại việc đe doạ hay sử dụng vũ lực
của bất kỳ bên nào liên quan</em>" ("<em>the United States has a
national interest in freedom of navigation, open access to Asia's maritime
commons, and respect for international law in the South China Sea. The United
States," said Clinton, "supports a collaborative diplomatic process by all
claimants for resolving the various territorial disputes without coercion and
opposes the use or threat of force by any claimant.</em>")

Tuyên bố đó rõ ràng có những ý nghiã ngoại giao và quốc
phòng quan trọng cho các nước ở ĐNA nói chung và tất nhiên cho
cả Việt Nam nói riêng. Nó thể hiện chính sách mới của Mỹ,
đã được dự liệu từ trước, đối với khu vực Đông Nam
Á; một chính sách ít nhiều đem lại lợi thế cho Việt Nam
trong việc đối phó với Trung Quốc.

Từ lâu nay, điểm căn bản trong chính sách đối ngoại của
chính quyền Cộng sản Việt Nam liên quan đến vấn đề Biển
Đông là cố tránh phải thương lượng tay đôi với Trung Quốc,
nỗ lực để lôi kéo nhiều nước trong khối Đông Nam Á vào
cuộc nhằm giảm bớt áp lực của nước khổng lồ này. Việc
Việt Nam gia nhập ASEAN, ngoài mục đích để thoát ra khỏi tình
trạng bị cô lập trước kia về kinh tế - ngoại giao, còn có
thêm mục đích vừa nêu. Việt Nam đã liên tục cố gắng dựa
lưng vào các thành viên khác trong khối ASEAN để đối phó với
sự lấn tới của Trung Quốc. Cũng chính do đòi hỏi của ASEAN
mà Trung Quốc vào năm 2002 đã thoả thuận ký, tuy rằng hơi
miễn cưỡng, một văn bản về cách hành xử và giải quyết
các tranh chấp trên Biển Đông bằng các phương cách hoà bình.
Năm ngoái, 6/5/2009, cũng với chủ trương liên kết với các
thành viên ASEAN, Việt Nam đã cùng đệ trình chung với Malaysia
lên Uỷ Ban về Giới hạn Thềm Lục Điạ của Liên Hiệp Quốc
(Commision on the Limits of Continental Shelf, CLCS) về giới hạn 200
hải lý của khu vực độc quyền kinh tế (exclusive economic zones)
của Việt Nam tính từ thềm lục địa.

Trước đó Việt Nam đã mời Philippines cùng đệ trình chung,
nhưng đại diện Philippines đã từ chối. Lý do chính, có lẽ
là vì giữa Philippines và Việt Nam có sự trùng lặp trong tuyên
bố chủ quyền đối với các đảo ở Trường Sa. Cũng có thể
là ít nhiều kế ly gián của Trung Quốc đối với các quốc gia
trong khối ASEAN đã phát huy tác dụng. Lần này trong tư cách là
quốc gia đương kim chủ tịch ASEAN, Việt Nam đã khéo léo đưa
vấn đề Biển Đông vào nghị trình (agenda) của diễn đàn ARF
để tạo cơ hội cho Ngoại trưởng Mỹ lên tiếng.

<strong>Chính sách đối ngoại của chính phủ Obama</strong>

Trước hết, tuy nhìn bề ngoài thì chính sách đối ngoại của
các chính phủ Mỹ, thuộc cả hai đảng cầm quyền, có vẻ
thống nhất với nhau về một số mục tiêu quốc tế quan
trọng, thiết yếu đối với quyền lợi quốc gia của Mỹ.
Nhưng sâu bên trong, về căn bản lý luận mỗi chính phủ
thường thiên về một trong hai trường phái: bảo thủ và cấp
tiến. Sự khác biệt chính của hai trường phái ấy là cách
nhìn nhận mối tương quan giữa Mỹ và các quốc gia khác.

Vắn tắt, <em><strong>phái bảo thủ</strong></em> cho rằng quyền
lợi quốc gia của Mỹ phải được bảo vệ bằng mọi phương
cách xét thấy thích hợp đối với người Mỹ, không cần
thiết phải đặt vấn để quyền lợi ấy trong bối cảnh
quốc tế hay phải quan tâm đến quan điểm của các quốc gia
khác liên quan đến từng trường hợp. Nghĩa là người Mỹ có
quyền, khi cần, đơn phương quyết định (unilateralism), không
cần phải tham khảo một quốc gia nào khác, kể cả đồng minh.
Phái bảo thủ tuy cũng có chú ý đến việc truyền bá các giá
trị lý tưởng của Mỹ như Dân chủ, Tự do ra ngoài, nhưng
không đặt việc truyền bá đó thành trọng tâm của chiến
lược đối ngoại. Khuynh hướng chung của phái bảo thủ là
giới hạn việc can thiệp vào những vấn đề quốc tế; nhất
là đối với những vấn đề không liên quan thiết thân đến
chiến lược của Mỹ trong đoản kỳ trước mắt. Chính sách
của phái bảo thủ, do đó, thường không mang tính cách toàn
diện và dài hạn, mà thường chỉ là những chính sách ngắn
hạn, đáp ứng với tình hình đối nội và đối ngoại của
từng giai đoạn. Phương cách mà giới bảo thủ dùng để đạt
các mục tiêu của chính sách đối ngoại có phần nặng về áp
đặt, dùng "cây gậy" nhiều hơn là "củ cà rốt". Các
nhà bình luận thường gán cho chính sách đối ngoại của
trường phái bảo thủ là Hard Power Policy. Điển hình cho quan
điểm đó là quyết định của chính phủ Bush tấn công Iraq,
không cần sự đồng ý của các đồng minh Âu Châu. Hoặc từ
chối tham gia Hiệp ước Kyoto, hay đơn phương rút lui khỏi
Hiệp ước Chống Hoả tiển Đạn đạo (Anti-Ballistic Missle
Treaty). Chính sách đối ngoại Hard Power của chính phủ Bush đã
bị phê phán; nhiều người cho rằng chính sách đó đã khiến
Mỹ mất bớt đồng minh, bỏ trống nhiều địa bàn quốc tế
chiến lược quan trọng, tạo nhiều cơ hội tốt cho Trung Quốc,
một cường quốc đang lên, mở rộng ảnh hưởng và tăng
cường sức mạnh.

Phía khác là <em><strong>trường phái cấp tiến</strong></em>, hay
còn gọi là liberal internationalism. Những đại biểu của phái
này là Tổng thống Wilson, người đề xướng ra Hội Quốc
Liên; là Tổng thống Kenedy với việc lập ra Peace Corp cùng chủ
trương cổ xuý và truyền bá Dân chủ; với Tổng thống Bill
Clinton trong việc can thiệp vào Bosnia vì lý do nhân đạo, và
thành hình Khối Tự Do Mậu Dịch Bắc Mỹ (NAFTA) v.v… Vắn
tắt, phái cấp tiến cho rằng Mỹ phải bảo vệ quyền lợi và
địa vị của mình bằng cách tích cực tham dự vào các vấn
đề quốc tế, tiếp cận với mọi quốc gia và truyền bá
rộng rãi các giá trị lý tưởng căn bản của mình như Dân
chủ, Tự Do và Nhân quyền ra khắp thế giới. Phái cấp tiến
quan tâm đến việc phát triển và bảo vệ các định chế
quốc tế (như Liên Hiệp Quốc), tìm cách thiết lập các quan
hệ đồng minh, và sẳn sàng đương đầu với mọi thách thức
quốc tế nảy sinh. Chủ trương của phái cấp tiến hoàn toàn
tương phản với chủ trương cô lập (isolationism) vốn rất
thịnh hành trước Đệ Nhất Thế chiến và về sau này vẫn là
một phần của phái bảo thủ. Phái cấp tiến tự xem chính
sách đối ngoại của mình là Smart Power Policy, một chính sách
vận dụng tổng hợp mọi lãnh vực: quân sự, văn hoá, kinh
tế, kỹ thuật vào trong một mặt trận ngoại giao toàn diện
để bảo vệ quyền lợi và duy trì ưu thế quốc tế của Mỹ.
Phương cách của trường phái cấp tiến này nặng về thuyết
phục hơn là áp đặt.

Ngay từ trước khi nhậm chức, chính phủ Obama đã quyết định
chọn Smart Power Policy là đường lối đối ngoại của mình.
Những gì diễn ra sau đó như: diễn văn Tổng thống Obama đọc
ở Cairo, thủ đô Ai Cập, nhắn gởi với khối Hồi Giáo; hoặc
việc tỏ ra tôn trọng các quy định quốc tế về tù nhân, hay
quan tâm đến vấn đề hâm nóng quả đất; hoặc tái lập quan
hệ thân hữu với Cộng Đồng Âu Châu mà trước đó đã bị
rạn nứt do vấn đề chiến tranh Iraq, v.v… là sự thể hiện
bước đầu của chính sách mới. Đáng chú ý là mức độ quan
tâm của chính phủ mới đối với Á Châu; nhất là vùng Đông
Nam Á, là nơi mà chính phủ tiền nhiệm đã đối xử lơ là
(Ngoại trưởng Rice không hề dự một phiên họp nào của khối
ASEAN, và chính dưới thời của TT Bush mà Mỹ đã bị âm thầm
gạt ra khỏi các hội nghị thượng đỉnh Đông Á (EAS) và Trung
Quốc đã gia tăng vai trò ở đó).

Những gì bà Ngoại trưởng Clinton phát biểu ở ARF liên quan
đến việc quốc tế hoá Biển Đông không phải là điều ngẫu
nhiên. Nếu để tâm theo dõi sẽ thấy ngay rằng quan điểm đó
của Bà chỉ là triển khai thêm một cách cụ thể đường lối
đối ngoại của Mỹ ở Á Châu đã được đề cập đến
trước đó trong một bài diễn văn khác mà Bà đọc tại
East-West Center ở Hawai, nhân kỷ niệm 50 năm của trung tâm này,
hồi tháng Giêng năm 2010. Đó là bài diễn văn nêu rõ lập
trường của chính phủ Obama về các nguyên tắc và những
điều ưu tiên cho việc kiến tạo trật tự ở Á Châu (Regional
Architecture of Asia: Principles and Priorities), trong đó các đồng
minh sẵn có của Mỹ ở trong Vùng (Úc, Philippines, Thái,
Singapore) sẽ đóng vai trò trung tâm, Mỹ sẽ ủng hộ mọi hợp
tác và đối thoại đa phương, hậu thuẫn cho vai trò then chốt
và thống nhất của khối ASEAN, và mở rộng việc tiếp cận
(expanding engagement) với một Trung Quốc đang vươn lên. Bà
Clinton nhận định rằng tương lai của Mỹ gắn liền với
tương lai của Á Châu; và ngược lại sự hiện diện của Mỹ
như một đối tác kinh tế năng động và một ảnh hưởng ổn
định về quân sự là một điều rất có lợi cho Á Châu.
Hillary Clinton nhấn mạnh việc hình thành cấu trúc khu vực
mới, có tính chất đa cực với sự hiện diện của nhiều
cường quốc (Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Nga) nhưng không
một cường quốc nào trở nên mạnh nhất và chiếm vai trò
thống trị. Mỹ sẽ tham gia tích cực hơn trước vào các định
chế hiện thời ở Á Châu, như EAS, ASEAN, APEC, ASEAN+3 (ASEAN với
Trung quốc, Nhật, Nam Hàn), SCO (Shangai Cooperation Organzation, do
Trung Quốc, Nga và một số quốc gia Trung Á lập ra); nhất là
với ASEAN, tổ chức được Clinton xem là then chốt, nhằm giúp
gia tăng hiệu năng của những định chế đó, góp phần duy trì
trạng thái cân bằng và ổn định cho khu vực.

Rõ ràng bài diễn văn của Ngoại trưởng Clinton ở East-West
Center có một ý nghĩa quan trọng đáng chú ý trong chính sách
của Mỹ đối với Á Châu trong thời gian sắp tới, có sức
hấp dẫn mạnh đối với giới lãnh đạo của các quốc gia Á
Châu, đặc biệt là các quốc gia ở Đông Nam Á, nơi mà sự
lớn mạnh của Trung Quốc đang bắt đầu đe doạ nền an ninh
và chủ quyền của nhiều nước trong Vùng. Riêng đối với
Việt Nam, Bà cũng đã đề cập đến trong một câu ngắn gọn:
<em>"We are working on strengthening our partnerships with newer partners
like Vietnam and longstanding partners like Singapore"</em> (Tạm dịch:
Chúng tôi đang tăng cường sự hợp tác với những đối tác
mới như VN và những đối tác lâu đời như Singapore.). Cách
nào đó, bài diễn văn của bà Clinton là bước nối tiếp của
việc trước đó hồi tháng 7/2009 khi Mỹ ký tham gia vào Hiệp
ước Thân thiện và Hợp tác (Treaty of Amity and Co-operation, TAC)
của khối ASEAN, một việc đã bị chính phủ Bush trì hoãn chỉ
vì một nguyên tắc căn bản trong Hiệp ước là bất can thiệp
vào việc nội bộ của quốc gia thành viên (non-interference in
other countries' domestic affairs. Nhiều người ngại rằng nguyên
tắc đó sẽ cản trở Mỹ phản ứng đối với tình hình ở
Miến Điện. Nhưng việc ký vào TAC lại là một trong 3 đòi
hỏi cần thiết cho việc gia nhập Hội nghị Thượng Đỉnh
Đông Á (EAS), là hội nghị mà nay chính phủ Obama, trong nỗ
lực "quay lại Á Châu", muốn tham gia vào. Những cường
quốc khác, không thuộc khối ASEAN, như Trung Quốc, Nga, Ấn Độ
và Pháp đều đã ký tham gia TAC từ lâu. Điểm quan trọng trong
việc ký vào TAC là sự cam kết đối với các mục tiêu đề ra
của ASEAN và sự thừa nhận đối với quá trình đa phương
(multilateral processes) của tổ chức đó. Như vậy có thể nói
rằng bài diễn văn của bà Clinton và việc ký TAC là những
bước quan trọng trong việc Mỹ công bố chính sách của mình
đối với Á Châu. Càng có ý nghĩa hơn nữa nếu đem đối
chiếu những động thái mới đó của Mỹ với việc suốt 13
năm qua Mỹ đã hầu như hoàn toàn bỏ mặc Đông Nam Á và Á
Châu kể từ sau vụ khủng hoảng tài chánh năm 1997.

Vùng mà khi đề cập đến Đông Nam Á chính phủ Mỹ thường
đặt quan tâm lên hàng đầu là Biển Đông. Biển Đông nằm
trên một tuyến hàng hải rất quan trọng, kéo từ Ấn Độ
Dương, qua eo biển Malacca, qua Thái Bình Dương, lên tới Đài
Loan, liên quan đến việc vận chuyển hàng hoá của Nhật, Úc,
Tân Tây Lan và nhiều nước khác trên thế giới và sự tuần
tra thường xuyên của các chiến hạm Mỹ. Lượng lưu hành qua
tuyến hàng hải này chiếm 1/3 của lượng hàng hoá lưu hành
trên biển của toàn thế giới, có cả dầu hoả từ Trung Đông
về. Từ lâu các chính phủ Mỹ đều bày tỏ mong muốn về sự
ổn định, an toàn đi lại và giải quyết các tranh chấp bằng
phươg pháp hoà bình. Trước đây thời Tổng Thống Reagan và TT
Bush "cha" cũng đã tỏ rõ lập trường như vậy. Mặc dầu vậy
các năm tiếp theo, Trung Quốc vẫn ngang nhiên lấn hiếp các
quốc gia trong vùng. Điển hình nhất là năm 1994 Trung Quốc đã
chiếm dụng Mischief Reef (Đảo Vành Khăn) thuộc quần đảo
Trường Sa. Mischief Reef đã được ngư dân Philippines xử dụng
từ lâu, và chỉ cách Palawan chừng 130 miles, nghiã là nằm trong
Exclusive economic zone (EEZ) của Philippines. Lần đó, Philippines
phản đối dữ dội, tất nhiên là bằng miệng, và Mỹ thì im
lặng tuy rằng hai bên là đồng minh thân cận lâu đời. Trước
đó tháng 3/1988 Trung quốc đã đánh đắm một tàu hải quân
Việt Nam, giết chết hơn 70 người, tại đảo Johnson South Reef
(Đảo Gạc-ma), cũng thuộc quần đảo Trường Sa. Những năm
gần đây, Trung Quốc công khai tuyên bố chủ quyền và thành
lập đơn vị hành chánh thu gồm cả Hoàng Sa, Trường Sa. Sau
đó nữa, Trung Quốc còn đi xa hơn cho rằng Bìển Đông (South
China Sea) thuộc về quyền lợi cốt lõi (core interest) của mình.
Năm 2009, Trung Quốc đơn phương công bố lệnh tạm đình chỉ
các hoạt động ngư nghiệp trong vùng biển quanh đảo Trường
Sa.

(còn tiếp)

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/6325), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét