Hoàng Tùng - Những kỉ niệm về Bác Hồ

<div class="special_quote">Ông Hoàng Tùng, nguyên tổng biên tập báo
Nhân Dân, nguyên ủy viên Ban bí thư trung ương Đảng cộng sản
Việt Nam, đã từ trần ngày 19 tháng sáu 2010 tại Hà Nội, thọ
90 tuổi. Tên thật là Trần Khánh Thọ, ông sinh năm 1920, quê
quán tại huyện Lý Nhân, Hà Nam. Tham gia cách mạng từ năm 15
tuổi, lần lượt giữ nhiều nhiệm vụ quan trọng : bí thư
Thành ủy Hà Nội, bí thư Thành ủy Hải Phòng, xứ ủy viên
Bắc Bộ, phó bí thư Chiến khu Tả ngạn Sông Hồng, phó
trưởng ban Tổ chức trung ương, tổng biên tập báo Sự Thật,
tổng biên tập báo Nhân Dân, phụ trách Văn phòng Tổng bí thư,
trưởng ban Tuyên huấn trung ương, bí thư Trung ương Đảng.

Trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, phụ trách báo Nhân Dân,
cơ quan trung ương của ĐCSVN, ông Hoàng Tùng cũng là nhà phát
ngôn có uy tín của miền Bắc. Nhà báo lão thành người Pháp
Jean Lacouture đã nêu lên nghịch lý : tại sao một con người
sắc sảo, tinh tế và dí dỏm như Hoàng Tùng lại có thể làm
ra một tờ báo xám xịt như tờ Nhân Dân ?

Trong những năm nghỉ hưu, ông Hoàng Tùng vẫn đi nói chuyện
với cán bộ. Dưới đây là bản ghi lại cuộc nói chuyện của
ông về chủ tịch Hồ Chí Minh. Như chú thích ở cuối bài,
bản này không đầy đủ, nhưng tính trung thực của nó thì
không có gì đáng ngờ.</div>


Tôi có khoảng thời gian gần 25 năm làm việc gần Bác. Tôi
được biết một số việc, hoặc được nghe rồi nói lại cho
các đồng chí. Có tài liệu các đồng chí có thể sử dụng
được, có tài liệu các đồng chí nghiên cứu thêm.

Trong khoảng thời gian 25 năm đó có 3 năm tôi công tác ở xứ,
khu và tỉnh, còn tôi liên tục ở Trung ương, lúc đầu tôi làm
phó trưởng ban Tổ chức Đảng vụ (cơ quan của Đảng lúc đó
gọi như thế), tức là làm phó cho anh Lê Đức Thọ, sau là anh
Lê Văn Lương. Sau tôi còn làm chánh văn phòng của đồng chí
Trường Chinh, sau cùng là làm công tác Tuyên huấn, báo chí. Các
công việc trên giúp tôi có điều kiện gần gũi Bác hơn. Các
anh trong Bộ Chính trị cũng có nhiều người đi tù cùng tôi
về. Tôi có may mắn được dự hầu hết các phiên họp Bộ
Chính trị hay Ban Bí thư. Nhiều khi Bác bảo tôi làm việc này
hay việc khác, tất nhiên là những việc nhỏ thôi. Khi Trung
ương họp Bác thường hay ngó trông xem có thấy tôi ngồi ở
phía sau không, bởi tôi làm công tác báo chí. Nhiều cuộc họp
tôi bị Bác phê bình, nhưng nhiều lần được Bác khen. Hội
nghị Trung ương, hội nghị các ngành, hội nghị quân sự, hội
nghị cán bộ tôi đều dự cả. Nhiều chuyện tôi biết được
từ các cuộc hội nghị này, cố nhiên không phải chuyện gì
cũng biết, có chuyện tôi thật sự là nhân chứng, có chuyện
thì tôi nghe lỏm được.

<div class="boxleft200"><img
src="http://img22.imageshack.us/img22/2382/danluanorg003.jpg" /><div
class="textholder">Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm báo Nhân Dân.
Hoàng Tùng là người thứ ba (từ trái sang phải).</div></div>


Tôi muốn kể lùi về quá khứ một chút. Vào những năm
1933-1934, khi tôi còn đang đi học, tôi biết hàng xóm nhà tôi
có hai người bị bắt từ năm 1930 được tha về. Nghe đồn
họ là cộng sản, họ nói giỏi lắm, tôi mới tìm đến. Họ
nói Nguyễn Ái Quốc bị chết rồi. Lúc đó tôi còn nhỏ, nhưng
nghe nói mất người đứng đầu thì cảm thấy gay go thật. Sau
này tôi tham gia phong trào Dân chủ (1937-1938) cùng với nhiều
người, sau có người vào Bộ Chính trị như Lê Đức Thọ,
Nguyễn Lương Bằng.

Đầu tháng 8-1945, anh Lê Đức Thọ được bổ sung vào Trung
ương, là uỷ viên dự khuyết, phụ trách an toàn khu của Trung
ương, kiêm cả Bí thư Xứ uỷ Bắc kỳ, tức là người phụ
tá trực tiếp của đồng chí Trường Chinh. Tôi được gọi
về phụ trách khu an toàn của Trung ương và phụ trách trực
tiếp khu ngoại thành Hà Nội. Tôi phụ trách khu an toàn A, còn
khu B ở trên kia thì tôi không biết. Một hôm, anh Lê Đức Thọ
nói với tôi là anh đi họp một cuộc Hội nghị quan trọng,
dặn tôi ở nhà giữ gìn, trong nom cẩn thận công việc của
Trung ương, sau này tôi mới biết là anh đi dự Hội nghị Tân
Trào. Anh còn tiết lộ bí mật cho tôi biết chuyến đi này anh
đi thế nào cũng gặp Nguyễn Ái Quốc.

Sau ngày 19/8, Hà Nội lập chính quyền cách mạng. Tôi lãnh
đạo cuộc khởi nghĩa ở ngoại thành, tham gia chỉ đạo khởi
nghĩa ở Đông Anh, Phúc Yên, trực tiếp chỉ đạo việc lập
chính quyền ở ngoại thành Hà Nội. Khởi nghĩa thắng lợi,
chính quyền được thành lập, Uỷ ban Nhân dân cách mạng Bắc
Bộ và Uỷ ban Nhân dân cách mạng Hà Nội ra mắt. Tổ chức
này ngang với thị trưởng Hà Nội trước đây thay Trần Văn
Lai. Những người ra mắt toàn là học trò trung học Hà Nội
cũ, như Trần Quang Huy ở trường Thăng Long, Nguyễn Duy Thân ở
trường Bưởi, cùng với ông Vũ Kỳ... Hai cuộc ra mắt toàn
là các cậu học trò kém tuổi tôi. Nhân dân Hà Nội xôn xao
lắm. Họ nói lãnh tụ Việt Minh có thế thôi à! Tôi cũng sốt
ruột. Khởi nghĩa xong họ bầu tôi làm chủ tịch, được 3
ngày tôi không làm nữa, vì lúc này tôi đang phụ trách an toàn
khu của Trung ương.

Hàng ngày tôi ra Bắc Bộ phủ gặp anh Xuân Thuỷ và một số
người khác. Họ hỏi tôi:

– Anh xem có cách nào đi tìm Trung ương về không, chứ thấy
tình hình khó khăn lắm.

Dân không hiểu lãnh tụ Việt Minh là ai cả, chúng tôi thì còn
trẻ lắm, tôi làm sao biết được để mời. Hàng ngày giải
quyết công việc ở trong khu xong tôi lại đạp xe ra Bắc Bộ
phủ xem tình hình thế nào. Chiều ngày 24/8 tôi trở về chỗ
mình vẫn ở tức là khu an toàn, gặp khoảng hơn 10 người đang
ăn cơm ở đình làng Phú Xá. Tôi thấy một cụ già có râu,
ngồi cạnh có anh Trần Đăng Ninh. Bữa ăn của đoàn cán bộ
chỉ có cơm gạo hẩm, canh mướp suông, mọi người ngồi trên
chiếc phản ở đình làng Phú Xá. Anh Trần Đăng Ninh trước ở
tù với tôi, tuy đã được bầu vào Trung ương nhưng chưa làm
được ngày nào đã bị bắt, sau vượt ngục trốn về. Tôi
biết ông cụ này được anh Trần Đăng Ninh đưa đi chắc phải
to hơn Trung ương. Tôi nghe giọng Nghệ đoán chắc là Ông Cụ
rồi. Ở đây tôi muốn nói thêm một chút thế này : Đêm hôm
trước ngày Ông Cụ về, đoàn tự vệ ở Chèm có bắt được
4 người bên kia sông sang, bốn người đó hỏi phụ trách khu
này là ai, khi biết tôi là Khánh phụ trách khu này, họ đề
nghị cho gặp tôi. Tôi gặp chẳng phải ai xa lạ mà là anh
Trần Quốc Hoàn, Nguyễn Văn Trân, Vũ Thuỵ Khôi, Nguyễn Văn
Phương, tức Chu. Bốn người đi Tân Trào về. Họ nói chuyện
về Hội nghị Tân Trào và cho tôi xem danh sách chính phủ lâm
thời được dán khắp thành phố. Dân biết trong chính phủ có
ông Hồ Chí Minh, Trần Huy Liệu, Võ Nguyên Giáp. còn nhiều nhân
vật khác nữa họ không biết như Nguyễn Văn Xuân, còn Nguyễn
Lương Bằng thực sự dân cũng không biết, họ chi biết có
đồng chí Sao Đỏ thôi.

Lại nói về chuyện gặp Bác ở đình Phú Xá. Hôm đó tôi cũng
mặc bộ quần áo mùa thu bình thường như các vị ở đây
thôi. Bác nhìn tôi và hỏi anh Trần Đăng Ninh:

– Quan nào mà diện thế?

Chuyện này sau được anh Trần Đăng Ninh nói lại tôi mới
biết.

Như thế, trước khi về Hà Nội Bác đã chú ý tới cách ăn
mặc của cán bộ ta, ý Bác muốn cán bộ cách mạng là phải
ăn mặc giản dị, không được làm ra dáng ông quan cách mạng.
Trong ý thức của Bác, cán bộ cách mạng, nhất là khi cách
mạng mới thành công không thể ăn mặc diện được. Cơm
nước xong, lúc đó cũng đã muộn, tôi mời Bác về nghỉ ở
nhà tôi. Tôi mới chuyển sang nhà một bà chánh tổng, tức nhà
ông chánh tổng Luân ở làng Gạ (Phú Gia) nhưng ông chết lâu
rồi. Nhà này do chị Sáu cán bộ của đội công tác giới
thiệu cho tôi. Nhà không to lắm, cũng đủ để chứa độ hơn
10 người. Nhà này kín đáo, tụt vào trong đê. Nhà ở Phú Xá
ngay cạnh bờ đê không tiện. Tiện đây tôi muốn nói lại
một chút. Có ai đó viết về Bác, nói về Bác mặc áo choàng
hay áo gì đó là không phải. Bên ngoài Bác mặc chiếc áo của
người thiểu số. Trời nóng nên Bác mặc quần cộc, tức
quần soóc, túi áo có một đèn pin khoằm khoằm. Bác mới ốm
dậy nên phải chống gậy.

Chủ nhà mời Bác nằm ở một chiếc sập gỗ, gỗ thường
thôi, không phải gỗ gụ, ở trước bàn thờ. Anh Trần Đăng
Ninh và một số người khác nằm ở hai gian bên cạnh. Tôi nằm
trong buồng chủ nhà vẫn dành cho tôi. Quen kiểu đùa như trong
nhà tù, tôi nói với Bác:

– Đồng chí nằm đây cho sướng cái thân già!

Sau anh Trần Đăng Ninh máy tôi ra ngoài, nói: "Ông cụ không
thích đùa đâu!".

Cố nhiên lúc đó tôi cũng đã biết ông cụ là ai rồi. Bác
nói (khi ấy chưa gọi là Bác, mà gọi là Cụ):

– Thế chú cùng nằm với tôi rồi chúng ta cùng nói chuyện.

Cụ hỏi tôi:

– Chiều nay đồng chí vào trong thành có nghe chuyện gì lạ
không?

Tôi nói:

– Thưa đồng chí, có hai việc, việc thứ nhất dư luận đang
bàn tán Hồ chí Minh có phải là Nguyễn Ái Quốc không?

Cụ hỏi:

– Anh em mình trả lời thế nào?

Tôi trả lời là anh em ta nói mập mờ. Không nói là phải, mà
cũng không nói là không.

Cụ nói :

– Như thế là anh em mình nói đúng.

Cụ hỏi tôi việc thứ hai.

Tôi nói:

– Quân Trung Quốc đã đến, trông nhếch nhác lắm, mặc quần
áo vàng bạc màu, chân quấn xà cạp, gánh cả nồi niêu, bát
đĩa, lại có cả chó theo sau.

Cụ nói:

– Ấy, Đệ nhất phương diện quân của người ta đấy!

Tôi hỏi Cụ ý nghĩa của việc Mỹ ném bom nguyên tử xuống
Nhật Bản. Cụ nói:

– Việc Mỹ ném bom nguyên tử xuống Nhật Bản thực ra không
cần thiết nữa. Đây chính là Mỹ muốn đánh tín hiệu cho
Liên Xô, rằng nếu không dừng lại thì tôi sẽ…

Người nhận định Mỹ ném bom Nhật Bản là để cảnh cáo
Liên Xô.

Nói đến việc Chính phủ về Hà Nội. Tình hình sẽ khó khăn,
nếu không có người như Cụ ra mắt. Vì lúc đó các thế lực
khác sẵn sàng giương cờ lên, trong khi mình toàn những người
"vô danh" cả.

Nguyễn Ái Quốc – Hồ chí Minh đã xuất hiện trong ngày 2
tháng 9 đàng hoàng và giản dị. Người đọc Tuyên ngôn Độc
lập rõ ràng, giọng ấm cúng rất gần gũi với nhân dân. Từ
đấy uy tín của cách mạng, của Việt Minh, của Đảng (tuy
Đảng lúc đó chưa ra công khai) mới lan rộng. Sự thật thì
các thế lực phản động cũng đã biết rõ. Tưởng, Pháp, Mỹ
đã biết từ trước người đứng đầu lực lợng cách mạng
là ai. Cánh Việt Quốc, Việt Cách cũng biết. Bọn chúng đều
tập trung vào thực hiện âm mưu đánh đổ chính quyền của
Đảng cộng sản, của Hồ Chí Minh, đưa Việt Quốc, Việt Cách
lên cầm quyền. Mũi nhọn đả kích của kẻ thù bên trong và
bên ngoài đều chĩa vào Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản. Chúng
lôi kéo Bảo Đại, tập hợp các lực lợng phản động chiếm
Yên Bái, Vĩnh Yên, Hải Ninh (Móng Cái).

Bác nhận định tình hình thế giới từ trận ném bom của Mỹ
xuống Nhật Bản. Bác có ý kiến ngay lập tức từ lúc Đảng
ta mới giành được chính quyền. Người nói cán bộ cách mạng
phải giản dị, sống gần gũi với quần chúng. Chính vì thế
khi đồng chí Nguyễn Lương Bằng định chuẩn bị cho Bác một
bộ quần áo tơm tất để ra mắt đồng bào nhưng Bác không
nghe. Người yêu cầu may cho mình bộ quần áo kaki màu vàng,
kiểu Tôn Trung Sơn. Từ đó Người mặc bộ quần áo này để
tiếp khách, còn bình thường Người chỉ mặc bộ quần áo
nâu. Kể thêm chuyện này để các đồng chí hiểu rõ thêm về
Bác. Nghe nói khi cách mạng Trung Quốc thắng lợi năm 1949, trên
đường về Bắc Kinh Mao Trạch Đông đã làm bài thơ vịnh "
Tuyết ", vì ông trông thấy nước Trung Hoa mênh mông, chỗ nào
cũng thấy tuyết trắng xoá. Ông nói đất nước Trung Hoa hùng
vĩ như thế này, trước kia đời Tần Thuỷ Hoàng ghê gớm lắm
té ra cũng không bằng vô sản, không bằng mình đây. Trước khi
đi, Mao Trạch Đông nói với những người chung quanh rằng: "
Bây giờ chúng ta về làm vua ".

Sau đó anh Lê Đức Thọ có nói lại với tôi về việc Bác
muốn chọn thư ký, anh Lê Đức Thọ giới thiệu 3 người:
Trần Quang Huy, Nguyễn Chuẩn (tức Vũ Kỳ) và tôi. Sau khi cân
nhắc Bác nói tôi có thể về làm Bí thư Hà Nội, anh Vũ Kỳ
gần như suốt đời gắn bó với Bác.

Sau khi Bác về ít lâu, tôi được cử làm Bí thư Hà Nội, có
lần tôi chủ trì một cuộc họp của thanh niên Hoàng Diệu (Hà
Nội) ở Nhà hát lớn thành phố. Mọi người đến dự đông,
chúng tôi ngỏ ý mời Bác. Người vui vẻ nhận lời. Bác gợi
ý nên mời cố vấn Vĩnh Thuỵ. Tổ chức cuộc mít tinh chúng
tôi không làm như bây giờ, không kê bàn chủ tịch lên sân
khấu. Những người chủ trì hội nghị ngồi ở dưới. Trên
sân khấu để 1 bàn, 2 ghế để Bác và cố vấn Vĩnh Thuỵ
ngồi. Sau khi tuyên bố lý do, tôi mời cụ Chủ tịch (lúc đó
gọi Bác như thế) cho ý kiến. Người lên nói tình hình của
đất nước và nhiệm vụ của thanh niên. Tôi cũng chủ động
mời ngài Cố vấn Vĩnh Thụy lên nói mấy lời, không ai nghe
rõ.

Cảnh tượng trên sân khấu rất đối nghịch nhau. Một bên là
một ông già mặc quần áo kaki giản dị. Bên kia là một ông
béo tốt, bảnh bao, nhưng nói năng ấp úng. Một sự so sánh
giữa một ông vua cũ và một ông chủ tịch mới.

Tưởng Giới Thạch điều Lư Hán sang làm tư lệnh để chuẩn
bị tiếp quản vũ khí của quân đội Nhật ở Việt Nam. Đây
là một âm mưu. Vì Long Vân là trùm quân phiệt ở Vân Nam. Nếu
không có Lư Hán thì Long Vân không làm được gì, vì ông ta
vừa già vừa nghiện hút. Lư Hán là tay chân đắc lực của
Long Vân. Tưởng điều Lư Hán đi khác nào điệu hổ lý sơn,
để tước dần vây cánh của Long Vân. Nhưng Lư Hán thực sự
cũng không có quyền bằng Tiêu Văn. Ai đó nói Tiêu văn là
người có cảm tình với Bác là rất sai. Vì Tiêu Văn chính là
người của Tưởng, làm công tác đảng... Tưởng cử Tiêu Văn
sang Việt Nam với nhiệm vụ quan trong nhất là đánh đổ Việt
Minh, đánh đổ Đảng cộng sản. Thế nhưng Tiêu Văn không làm
được. Lư Hán càng không làm được. Việc cứ nấn ná mãi,
Tưởng còn phái Tổng tham mưu trưởng là Hà Ứng Khâm (về
chức tước gọi là Hà Bộ trưởng) sang. Bác chỉ thị cho
chúng tôi tổ chức một cuộc mít tinh, diễu hành thật lớn
để đón Hà bộ trưởng, nhưng thực chất là để thị uy.
Chúng tôi huy động được nhiều người Hà Nội, khoảng hơn 10
vạn. Hà Ứng Khâm sang ở Phủ Toàn quyền. Bác nói tôi nhân
danh nhân dân Hà Nội đón Hà Bộ trưởng, Bác bảo tôi cứ nói
để Bác dịch cho. Tôi nói mấy câu đại loại hoan nghênh Hà
Bộ trưởng, chúc tình hữu nghị. Bác dịch như thế nào tôi
không rõ, vì lúc đó tôi không biết tiếng Trung Quốc. Ngày hôm
sau Hà Bộ trưởng gặp Bác... Bác hết sức gian khổ với bọn
Lư Hán, Tiêu Văn và Trương Sỹ Thu (Bí thư của Quốc dân
đảng), với cánh Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Hải Thần, Vũ
Hồng Khanh. Bọn chúng lập ra một tờ báo tên là Việt Nam ở
phố Quan Thánh. Chúng bắc loa nói xấu Hồ Chí Minh.

Bác nói với đồng chí Trần Quốc Hoàn bảo tôi dẫn đầu
một đoàn nhà báo đến phỏng vẫn Nguyễn Hải Thần. Người
dặn rằng ông này không biết gì đâu, hay nói lung tung. Các
đồng chí hỏi ông ta trả lời như thế nào ghi lại rồi đưa
đăng báo. Tôi cùng với anh Thép Mới, Như Phong và cô gái
Tuyết Minh đến xin gặp Nguyễn Hải Thần. Hôm đầu đến ông
khất đến ngày mai. Hôm sau đến nữa thì ông dứt khoát từ
chối. Nhân dịp tết Bác bảo chúng tôi: Hà Nội nên tổ chức
một đoàn đại biểu đến chúc Tết ông Nguyễn Hải Thần.
Lúc đó ông ta ở phố Hoàng Diệu, chỗ Đại sứ quán Trung
Quốc bây giờ, cố vấn Vĩnh Thụy ở 51 Trần Hưng Đạo.
Chúng tôi đến nhà ông Nguyễn Hải Thần, bà vợ Tàu của ông
cho biết ông mệt không tiếp ai cả. Đến nhà cố vấn Vĩnh
Thụy, ông ở trên nhà xuống nói ấp úng mấy câu rồi chuồn,
chứ không mời ngồi.

Về chuyện Bác đồng ý cho tôi làm Bí thư Hà Nội, rồi đến
khi vì sai lầm của tôi mà Bác cho tôi nghỉ chức bí thư. Đài
đưa tin Pháp ném bom Nam Bộ, Bộ trưởng thông tin tuyên truyền
Trần Huy Liệu tuyên bố trên đài cảnh cáo người Pháp ở Nam
Bộ rằng: " Nếu các người cứ tiếp tục ném bom Nam Bộ,
thì chúng tôi sẽ không chịu trách nhiệm tính mạng những
người Pháp ở Hà Nội ". Vì những người Pháp bị quân
Nhật bắt giam ở Hà Nội, khi quân Tưởng và Mỹ đến đã
thả hết ra. Người Pháp hay ra phố đi chợ. Hôm sau đài của
ta đưa tin quân Pháp lại ném bom Nam Bộ với giọng gay gắt.
Thanh niên ở Hà Nội trong đó có Trần Lâm (sau làm Tổng giám
đốc đài phát thanh) mới tổ chức nhau lại, ra phố Tràng
Tiền, chợ Đồng Xuân, thấy người Pháp nào là đánh đến
nơi. Họ cho người đến hỏi tôi lúc đó là Bí thư Hà Nội
là làm như thế có được không? Hôm ấy anh Trần Quốc Hoàn
bận họp hội nghị công nhân cứu quốc Bắc bộ. Tôi đến
Bộ Tuyên truyền hỏi Trần Huy Liệu không gặp mà lại gặp anh
Nguyễn Hải Triều. Anh Triều nói chính phủ đã quyết định
rồi, cứ làm tới thôi. Chiều hôm đó Bác cho gọi tôi lên
gặp Bác ở căn nhà lợp ngói đá ở Uỷ ban Nhân dân Hà Nội
bây giờ, Người hỏi tôi tình tiết sự việc như thế nào.
Tôi thật thà thuật lại mọi chuyện. Nghe xong Người không nói
gì. Mấy ngày sau tôi được nghỉ chức Bí thư Hà Nội, nhưng
vẫn ở Thành uỷ. Giữa năm sau, Bác cho tôi đi Hải Phòng làm
Bí thư. Được ba tháng lại cho làm Xứ uỷ Bắc kỳ. Như thế
khi gặp khuyết điểm thì Người phê bình, nhưng đến khi cần
thì Người vẫn dùng. Chính sách dùng cán bộ của Bác là như
thế.

Hồi đó còn chuyện này nữa. Chuyện này chắc ông Vũ Kỳ
biết hơn tôi. Khoảng tháng 10 năm 1945, khi bà Bạch Liên, chị
ruột của Bác, biết em mình trở về, đã ra Hà Nội muốn
gặp. Gặp Bác, bà nắm tai Bác kéo lên và kêu : « Đúng nó
đây rồi! ». Bà nhận ra vì Bác có cái sẹo nhỏ ở tai, khi
còn bé ở nhà câu cá, giựt câu bị lỡi câu mắc vào tai.
Để bà ở Bắc Bộ phủ thì không tiện, Bác nói tôi đưa bà
về nhà tôi ở. Bà ăn trưa, ngủ đêm ở nhà tôi, còn ban ngày
đưa bà đi chơi thăm các nơi. Sau chuyến này tôi không biết bà
có ra thăm Bác lần nào nữa không. Lúc đó tôi ở 23 Hàng Nón.
Bà ra có mang theo biếu Bác hai chục trứng gà. Bác bảo đem
luôn về nhà tôi.

Về quan hệ của Bác với bên ngoài. Vì quan hệ của ta với
Trung Quốc và Liên Xô không được thuận tiện, cho nên khi
chính quyền của ta được thành lập thì hai nước đều không
công nhận. Trung Quốc thì quan hệ không chính thức. Hai người
sang ta đầu tiên nhân danh Đảng mà cũng là Đảng địa phương
thôi, đó là Chu Nam và Trang Điền. Một người là chính uỷ,
một người là tư lệnh quân khu Hoa Nam sang nhờ ta giúp họ
tiễu phỉ ở Thập Vạn Đại Sơn (a). Sau đó ta có cử một
trung đoàn do Lê Quảng Ba phụ trách sang Trung Quốc. Các đồng
chí Việt Nam ở Diên An và Trung Quốc sau khi thấy cách mạng
Việt Nam thắng lợi thì xin về. Lúc đầu là Nguyễn Khánh
Toàn, Nguyễn Sơn, Lý Ban, Trương Ái Dân, Cao Tử Kiến. Trương
Ái Dân trong thời gian kháng chiến chống Pháp làm công tác công
vận ở Liên khu III, do tôi phụ trách. Đồng chí ấy nói với
tôi rằng, sau cuộc khủng bố của Pháp năm 1930-1931 đồng chí
ấy sang Trung Quốc hoạt động cách mạng, được đi Diên An.
Trong cuộc vận động chỉnh phong năm 1942-1943, đồng chí ấy
bị thẩm vấn lý lịch. Người ta hỏi người đứng đầu
Đảng cộng sản là ai? Đồng chí ấy trả lời là Trần Văn
Giàu, liền bị chôn một nửa người xuống một hố sâu. Sau
đó, không hiểu vì sao được thả. Sau cách mạng tháng Tám năm
1945, đồng chí được về nước cùng với một số người nói
trên. Cao Tử Kiến công tác ở Yên Bái trong thời gian kháng
chiến chống Pháp. Sau khởi nghĩa ta mở một lớp huấn luyện
ở Vạn Phúc cho cán bộ học. Tôi không được học. Nghe anh Lê
Đức Thọ nói lại là đó là Hồng Lĩnh, tức Nguyễn Khánh
Toàn, nói chẳng ai hiểu gì cả. Sau tôi nghe mấy người khác
nói ông ta là một giáo sư giỏi lắm. Cả Bùi Công Trừng đi
học ở Liên Xô về nói cũng thế cả. Về quan hệ với Liên
Xô, tôi biết, Liên Xô, nhất là Stalin coi Bác là một người
dân tộc chủ nghĩa cải lương từ năm 1928. Sau lại thêm việc
Bác bị bắt ở Hồng Kông rồi lại được thả, khiến Liên
Xô nghi ngờ. Stalin không hiểu được lại có những người như
Loseby. Lại thêm việc Hà Huy Tập báo cáo. Anh Lê Duẩn có nói
với tôi là Hà Huy Tập báo cáo với Quốc tế về việc mật
thám đưa bà Thanh đi Trung Quốc tìm Nguyễn Ái Quốc và ra nghị
quyết phê phán sai lầm dân tộc chủ nghĩa cải lương của
Nguyễn Ái Quốc. Bác đến Liên Xô năm 1934-1938 chỉ làm công
tác ở ban thuộc địa của Quốc tế cộng sản, không được
giao nhiệm vụ cụ thể. Người được giao nghiên cứu làm
luận án phó tiến sĩ về vấn đề thuộc địa. Bác xin được
làm nhưng không được trả lời. Người xin về nước. Tại
Đại hội Quốc tế cộng sản lần thứ VII, Người không tham
gia đoàn đại biểu Đảng ta, chỉ là đại biểu dự thính.
Liên Xô vẫn cho rằng Việt Minh là một thế lực dân tộc chủ
nghĩa. Họ không thấy Đảng cộng sản đâu, và vì sao Đảng
cộng sản giải tán. Năm 1948, cả hai nước đều tìm hiểu xem
Việt Nam là gì? Đảng ta cử Nguyễn Chương, cùng ở Xứ uỷ
với tôi, làm phó cho Lê Đức Thọ sang Xiêm để tổ chức lại
tổ chức của ta ở đó. Trong khu uỷ ở Khu Bốn mọi người
mâu thuẫn với nhau, mà toàn những lão thành cả, như Nguyễn
Sơn, Hoàng Văn Hoan, Hồ Tùng Mậu, Trần Hữu Dực. Ông Hoàng
Văn Hoan thì nổi tiếng về những chuyện kèn cựa ngay từ
đầu. Ta cử Hoàng Văn Hoan bàn với Nguyễn Chương (có thể là
do gợi ý của Trung Quốc) là cử Nguyễn Chương sang Trung Quốc
để nghiên cứu. Nhưng thực tế Trung Quốc muốn qua Nguyễn
Chương để tìm hiểu tình hình Việt Nam. Nguyễn Chương đến
Trung Quốc báo cáo tình hình. Phương hướng báo cáo cũng hữu
khuynh đúng như họ đánh giá, nói là ta dân tộc chủ nghĩa,
đề cao địa chủ quan lại, không nêu cao vai trò của Đảng và
Liên minh công nông. Đại diện của Liên Xô ở Praha, gặp 2
đại diện của ta là Trần Ngọc Danh và Lê Hy hỏi tình hình.
Hai người này nói cùng khớp với Nguyễn Chương nói. Nói khớp
như nhau bởi vì chúng tôi lúc đầu nghiên cứu theo cương lĩnh
của đồng chí Trần Phú, nghĩa là cương lĩnh thứ hai của
Quốc tế cộng sản, tức là làm cách mạng tư sản dân quyền,
lấy công nông làm trụ cột, do giai cấp công nhân lãnh đạo,
lập chính quyền xô viết… Chỉ đến khi cách mạng Trung Quốc
thắng lợi, Bác trực tiếp sang mới trình bày rõ vấn đề.
Việc này tôi không được nghe trực tiếp, nghe anh Lê Văn
Lương nói lại. Khi gặp Bác, Lưu Thiếu Kỳ nói ngay rằng: "
Các đồng chí giải tán Đảng, các đồng chí tưởng lừa
được địch, nhưng địch không lừa được mà lại lừa
chính chúng tôi, vì chúng tôi hiểu các đồng chí giải tán
Đảng thật. Còn địch nó thừa hiểu các đồng chí không
giải tán Đảng ". Hôm tuyên bố giải tán Đảng tôi không
được dự. Nhưng nghe nói lại rằng, quyết định này của bác
thật là táo bạo. Lúc đó không làm thế cũng nguy, vì âm mưu
của Tưởng là đánh đổ Đảng cộng sản. Với bọn Lư Hán,
Tiêu Văn, Đảng cộng sản tồn tại là nó chết, vì sẽ bị
Tưởng trị. Nên ta mới lập mẹo tuyên bố giải tán Đảng,
chỉ tuyên bố về danh nghĩa thôi, còn trên thực tế Đảng
vẫn tồn tại. Khi đưa ra bàn tuyên bố giải tán Đảng ở
Thường vụ, người không tán thành nhất là đồng chí Trường
Chinh. Sau Tưởng không có lý do gì thúc ép khi Đảng đã tuyên
bố giải tán.

<div class="boxright200"><img
src="http://img10.imageshack.us/img10/2598/danluanorg004.jpg" /><div
class="textholder">Hoàng Tùng</div></div>

Sang Trung Quốc, Mao đưa Bác vào quỹ đạo của Mao. Sang tới
Liên Xô, Stalin lại đưa Bác vào quỹ đạo của Stalin. Chuyến
đi của Bác năm 1950 sang Trung Quốc và Liên Xô của bác là
chuyến đi gian khổ. Stalin nói: " Bây giờ cách mạng Trung
Quốc thắng lợi rồi, Trung Quốc có trách nhiệm giúp đỡ các
nước phương Đông, còn Liên Xô có trách nhiệm giúp đỡ các
nước châu Âu và châu Mỹ ". Trung Quốc nhận định như thế
là do Quốc tế phân công Trung Quốc phụ trách châu Á. Bám vào
ý kiến ấy, sau này Trung Quốc coi như là người đỡ đầu ta.
Khó khăn ở bên ngoài là như thế. Tôi cho rằng vì lý do như
thế mà mấy lần Bác từ chối làm Tổng bí thư. Ngoài việc
Ban chấp hành Trung ương trong nước đã chỉ định đồng chí
Trường Chinh làm Tổng bí thư, có lẽ Bác cho rằng hội nghị
Trung ương lần thứ 8 nếu Bác nhận làm Tổng bí thư thì Liên
Xô sẽ gây chuyện. Từ Đại hội I ở Ma Cao Hà Huy Tập đã
phê phán Bác như Quốc tế cộng sản đã phê. Bác không nhận
là chủ tịch nước cũng là thật lòng chứ không khách khí. Sau
này anh Lê Đức Thọ nói với tôi rằng khi đề nghị Bác làm
chủ tịch nước Bác từ chối mãi. Bác nói mình là Chủ tịch
nước à? Mình chỉ đứng đằng sau thôi! Còn tìm người khác
làm. Người còn nói: nếu tìm khó quá cứ đưa Bảo Đại ra
làm rồi mình thu xếp. Bác thực sự vì cách mạng chứ không
vì mình. Đấy là về phía Liên Xô, Trung Quốc, còn về phía
Đảng cộng sản Pháp, là Đảng thân thiết đối với ta, lúc
đầu họ cũng cho rằng Việt Minh là phái thân Nhật chứ không
phải là cộng sản. Năm 1950, Đảng cộng sản Pháp phái Léo
Figuères uỷ viên dự khuyết của Trung ương, phụ trách tờ báo
Thanh Niên (b) sang điều tra tình hình của ta. Léo Figuères đến
Việt Bắc. Về mặt chức vụ tôi cũng tương đương với anh,
nên được cử tiếp anh. Cố nhiên là năm 1946, khi sang Pháp Bác
cũng đã nói một phần nào rồi, nhưng Đảng cộng sản Pháp
chưa thể hiểu hết. Léo Figuères muốn biết thực sự Đảng
cộng sản còn tồn tại hay không, anh ta đi khắp các nơi, ở
đâu cũng thấy có Đảng cộng sản, mà đảng viên Đảng cộng
sản là những người lao động, những người công nhân, trí
thức, còn quan lại địa chủ là tượng trưng bên ngoài thôi.
Từ đó Đảng cộng sản Pháp mới thực sự công nhận ta. Cũng
từ đó mới có các phong trào ủng hộ Việt Nam. Trước đó
Đảng cộng sản Pháp không làm gì để ủng hộ ta. Đó là khó
khăn đối với Bác lúc bấy giờ.

Trong Đảng ta có hai nguồn đào tạo, một học ở Liên Xô về,
một học ở Trung Quốc về. Do đó họ theo quan điểm hai nơi,
có những ý kiến không giống nhau: đôi lúc hục hặc với nhau.
Nhưng nói chung cả hai bên đều chịu Bác. Chỉ có Nguyễn Sơn
về sau có vấn đề phải ra đi. Trước khi mất Nguyễn Sơn có
tâm sự với tôi rằng sai lầm thì phê bình chứ sao lại đuổi
đi. Ông ta trách Bác. Lúc đó tôi hỏi anh Võ Nguyên giáp, anh ta
hay hục hặc như thế để anh ta làm phó cho anh có được
không, Võ Nguyên Giáp nói làm thế nào được. Anh ta suốt ngày
chửi tôi, anh ta còn phê bình Trường Nguyễn Ái Quốc rất ghê.
Sau Bác nói chú Nguyễn Sơn hữu tài nhưng... nên mời chú đi.
Thực ra thì cái khó của hai nhóm này không hiểu được tư
tưởng biện chứng mác-xít. Ta làm cách mạng ở một nước
thuộc địa chứ không phải làm cách mạng ở một nước tư
bản, hay quân phiệt nông dân như Trung Quốc. Vấn đề thống
nhất dân tộc Việt Nam nhiều người không hiểu được, cho
đến tận bây giờ nhiều người vẫn hiểu là phải nhấn
mạnh liên minh công nông. Bác có lúc nói Đảng của giai cấp
công nhân là theo thời cuộc và cũng là để chiều lòng
người. Bác định nghĩa về Đảng đúng nhất là ở Đại hội
II. Đảng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, tức là
của dân tộc Việt Nam. Bây giờ lại càng đúng, vì nông dân,
công nhân có cách biệt gì lớn, không phải là giai cấp bị áp
bức, cùng làm chủ cả, cùng là người lao động tự do, thêm
một số trí thức nữa, chứ không phải chỉ có giai cấp công
nhân vừa mới ra đời mấy chục năm nay. Bác hết sức sâu
sắc nhưng Người không nói ra. Những bài viết, những bài phát
biểu của Bác từ năm 1920 đến năm 1925 có phân tích sâu sắc,
lý luận sắc bén. Sau này, từ cách mạng tháng Tám trở đi
Người viết ngắn gọn đi thẳng vào vấn đề, không phân tích
dài dòng để quần chúng dễ hiểu. Hai bên không hiểu, cứ "
chiếu tướng " nhau rồi sinh chuyện. Nói Bác lý luận kém là
hoàn toàn sai.

…. Trừ mấy trường hợp, như Trần Văn Giàu. Tôi được
biết Trần Văn Giàu học ở Liên Xô về. Tôi biết có người
tên là Phi Vân cũng học ở Liên Xô Về, vì hư hỏng bị đi
tù ở Sơn La. Khoảng năm 1935, ở tù cùng Phi Vân tôi hỏi Phi
Vân nhận xét về Nguyễn Ái Quốc, Phi Vân nói: " Ông này
không có gì đâu, ở nhà cứ tưởng là nhân vật quan trọng
lắm, chứ ông ta dân tộc chủ nghĩa, trình độ lý luận kém
". Đó là cách nhận định về Bác của mấy người đi Liên
Xô về. Trần Văn Giàu thuộc loại nói trên. Có lần Trần Văn
Giàu nói với tôi năm 1932 về anh là Bí thư, sau khởi nghĩa Nam
kỳ bị thất bại, anh em mình nhiều người bị bắt, anh đứng
ra lập một tổ chức Tiền Phong, coi như nòng cốt của cách
mạng. Khởi nghĩa ở Sài Gòn chính anh là người lãnh đạo.
Còn ở Nam Bộ một số đồng chí của ta như Ung Văn Khiêm, Hà
Huy Giáp, Nguyễn Thị Thập ra nắm vùng nông thôn. Ba người này
ra ngoài Bắc dự Hội nghị Tân Trào. Nguyễn Thị Thập đến
không kịp. Ung Văn Khiêm đến chỗ tôi rồi đi Tân Trào, chứ
Trần Văn Giàu không được thừa nhận. Việc phân xử Trần
Văn Giàu có các lớp đàn anh đi tù ở Côn Đảo về. Họ là
bậc thầy ở Nam Bộ, là những người lãnh đạo quen thuộc
của nhân dân Nam Bộ. Thế của Trần Văn Giàu yếu đi, về sau
điều Trần Văn Giàu đi Xiêm.

Sau khi gặp Stalin và Mao, hai bên cứ thúc ép Bác làm như họ,
tức là liên minh công nông, do Đảng lãnh đạo, lập chính
quyền công nông, rồi làm cải cách ruộng đất. Bác chưa muốn
làm cải cách ruộng đất. Thuyết ba giai đoạn của đồng chí
Trường Chinh đưa ra ở Đại hội II là có ý kiến của Bác.
Theo thuyết ba giai đoạn thì cải cách ruộng đất để sau, hãy
làm giảm tô, giảm tức. Đồng chí Trường Chinh phân tích rất
hay. Năm 1946, họp Xứ uỷ tôi được nghe ông nói: " Dưới
chính quyền cách mạng, những cải cách nhỏ đều có ý nghĩa
cách mạng, nhiều cải cách nhỏ cộng lại thành cuộc cách
mạng lớn ".

Mùa thu năm 1950, Trung Quốc phái hai đoàn cố vấn sang Việt Nam.
Một đoàn chính trị do La Quý Ba làm cố vấn. La Quý Ba trước
là Bí thư của Mao, Bí thư Sơn Tây. Ông này là người nghiêm
chỉnh, phục Mao Trạch Đông như một ông thánh. Ông là người
tin cẩn của Mao. Còn tổng cố vấn về quân sự là Vi Quốc
Thanh. Đoàn cố vấn quân sự đông hơn, vì nó có đủ cả các
bộ máy của quân sự. Ta không hiểu thâm ý của Trung Quốc là
muốn " sửa " ta. Họ sang để giới thiệu kinh nghiệm Trung
Quốc, lý luận Mao Trạch Đông, lý luận quân sự, tổ chức
quân đội. Việc đầu tiên là họ " sửa " quân đội đã.
Họ " sửa " cả Đảng trong quân đội cho nên mới lập ra
chức chính uỷ. Trước ta chỉ có chính trị viên. Cũng là
chính trị viên cả nhưng có khác nhau về chức năng. Chính uỷ
là người bao trùm lên tư lệnh, chứ không phải tư lệnh là
người quyết định. Lập ra chính uỷ là để xác định vị
trí của Đảng, mà việc đầu tiên là nhằm vào ông Giáp. Vì
ông Giáp xuất thân trí thức, năm 1950 mới có 10 tuổi Đảng,
mặc dù ông tham gia cách mạng từ năm 1930, nhưng ông hoạt
động bị bắt, rồi lại đi học, mãi đến năm 1940 mới
được Bác kết nạp vào Đảng. Theo Trung Quốc ông là một trí
thức xuất thân không phải công nông, mà để ông nắm quân
sự là không ổn. Đặt ra chế độ chính uỷ là để phụ
trách Đảng trong quân đội. Có người đưa cho đoàn cố vấn
một danh sách cán bộ trong quân đội xuất thân gia đình không
phải là công nông định để gạt ra ra khỏi quân đội. Ai
đưa danh sách này cho đoàn cố vấn? Tôi ngờ rằng đó là một
người trong quân đội, người này là Lý Ban, phó của Văn
Tiến Dũng. Văn Tiến Dũng là cục trưởng, Lý Ban là cục phó.
Ông Giáp mới đưa danh sách đó cho Bác, Bác bảo: " Đốt ngay
đi, thay bằng ấy người thì quân đội không còn cán bộ " ;
Nguyễn Hữu An, Đặng Vũ Hiệp đều thuộc danh sách ấy cả,
vì thuộc trí thức. Theo họ chấn chỉnh quân đội trước để
chuyển mạnh sang Tổng phản công. Lúc đó ta tin tưởng quá
nhiều vào Trung Quốc, vì các ông Trang Điền, Chu Hạ sang nói
khi nào quân giải phóng Nam Hạ (đi xuống phía nam) thì sẽ giúp
Việt Nam đánh Pháp.

Đầu năm 1950, Bác cùng Bộ Chính trị phân tích tình hình, mối
quan hệ giữa thế và lực. Lực của ta còn yếu, mới có một
đơn vị tổ chức thành đại đoàn 308. Còn lại là tiểu đoàn
và trung đoàn. Lực lượng thực sự cũng yếu, Tổng phản công
lúc này cũng khó ; chỉ hy vọng ở cái thế. Bác đã viết trong
" học đánh cờ "; lực yếu nhưng thế mạnh thì lực sẽ
được tăng. Về lý luận thì đúng, nhưng còn trong điều kiện
cụ thể lại khác. Nên ta tính năm 1950 chưa thể tổng phản
công được. Vi Quốc Thanh chuẩn bị. Mọi việc nhất nhất xin
ý kiến của Mao. Mùa thu năm 1950, ta đánh chiến dịch Biên
giới – Đường số 4. Trần Canh trực tiếp sang giúp. Tôi nghe
nói lúc đầu ta định đánh từ Cao Bằng (theo ý của ông
Giáp). Trần Canh nói ta nên đánh Đông Khê. Vì Đông Khê là
tuyến chính nhất ở trên này. Mà đánh vào điểm yếu thì cả
phòng tuyến của địch sẽ bị rung. Đánh vào điểm mạnh thì
ta chưa đủ sức. Đúng là Trung Quốc có công giúp ta trong trận
Biên giới. Sau thắng lợi mới tổng kết chiến dịch và sau
đó là tiến hành chỉnh huấn, chỉnh quân, thay đổi lại tổ
chức của quân đội.

Thế là năm 1950-1951 đoàn cố vấn thực hiện chỉnh đốn quân
đội. Các chỗ khác họ chưa đụng tới. Đại hội Đảng ta
năm 1951 đại biểu nước ngoài tới dự chỉ có La Quý Ba, bên
Campuchia có Xiêng Hiêng (sau phản bội), phía Lào có một đại
biểu. Tại Đại hội La Quý Ba phát biểu chủ yếu về thuế
nông nghiệp. Sau đó bắt đầu đánh thuế. Họ đem các nề
nếp từ bên Trung Quốc sang, đem kinh nghiệm chỉnh Đảng,
chỉnh phong từ Diên An sang. Sau Đại hội ta không nói gì đến
cải cách ruộng đất, chỉ thấy nói đến thuyết ba giai
đoạn, vì thế nên mùa hè năm 1952 Mao Trạch Đông và Stalin
gọi Bác sang, nhất định bắt phải cải cách ruộng đất. Sau
thấy không thể từ chối được nữa Bác mới quyết định
phải thực hiện cải cách ruộng đất. Bác viết một bài nhan
đề "Terre et Eau" (Đất và Nước) ký tên là Le Ding, đăng
ở Tạp chí " Vì một nền hoà bình lâu dài, vì một nền dân
chủ mới ". Bác nói đại ý: " Đất và Nước bao giờ cũng
đi liền với nhau, muốn giải phóng nước phải đưa đất cho
dân ". Bác nói khéo để nói lên việc phải cải cách ruộng
đất. Năm 1952, Đảng ta không có đoàn nào dự Đại hội
Đảng cộng sản Liên Xô. Mùa hè năm 1952, sau khi đi Trung Quốc
và Liên Xô về Bác chuẩn bị cho hội nghị cán bộ đầu năm
1953, quyết định cải cách ruộng đất. Trung Quốc cử đoàn
các cố vấn sang bao gồm cố vấn công an, cố vấn tổ chức,
cố vấn tuyên truyền. Đoàn cố vấn cải cách ruộng đất do
Kiều Hiểu Quang làm trưởng đoàn. Kiều là phó Bí thư tỉnh
uỷ Quảng Tây. Họ muốn qua cải cách ruộng đất để "
chỉnh đốn " lại Đảng ta. Thời gian từ lúc tiến hành cải
cách ruộng đất đến lúc dừng là 3 năm. Khi đó tôi thường
được dự họp Bộ chính trị do đó cũng biết một số việc.
Đó là việc làm thí điểm cải cách ở đồng bằng và chọn
đồn điền Nguyễn Thị Năm. Nguyễn thị Năm tức là Cát Thành
Long có một người con làm trung đoàn trưởng ở cục chính
trị của Văn Tiến Dũng. Gia đình bà trong dịp tuần lễ vàng
có hiến 100 lạng vàng. Bà còn tham gia công tác của Hội Phụ
nữ từ năm 1945 đến 1953. Tôi chưa đến đó lần nào, các anh
Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Đức Thọ thường hay ăn
cơm ở nhà bà. Gia đình Nguyễn Thị Năm cũng giống như các gia
đình Đỗ Đình Thiện, Trịnh Văn Bô giúp đỡ nhiều cho cách
mạng. Chọn địa chủ Nguyễn Thị Năm để làm trước là do
có người mách cho cố vấn Trung Quốc. Họp Bộ Chính trị Bác
nói: " Tôi đồng ý người có tội thì phải xử thôi, nhưng
tôi cho là không phải đạo nếu phát súng đầu tiên lại nổ
vào người đàn bà, mà người ấy lại cũng giúp đỡ cho cách
mạng. Người Pháp nói không nên đánh vào đàn bà, dù chỉ
đánh bằng một cành hoa ". Sau cố vấn Trung Quốc là La Quý Ba
đề nghị mãi, Bác nói : " Thôi tôi theo đa số, chứ tôi vẫn
cứ cho là không phải ". Và họ cứ thế làm. Thuyết của họ
là không dựa vào tổ chức cũ mà tổ chức lại một số tổ
chức khác của Đảng, họ phủ nhận hết chỉ các tổ chức
khác như chính quyền, các đoàn thể. Ai lãnh đạo Cách mạng
Tháng Tám thành công, ai lãnh đạo cuộc kháng chiến từ năm
1945 đến 1953, thế mà họ thẳng tay bỏ hết, trong đó có mấy
ngàn người bị xử tử. Mục đích của họ không phải là
cải cách ruộng đất mà là đánh vào Đảng ta. May mà đến
năm 1956 ta kịp dừng lại, nếu không thì tan nát hết. Sau này
có những phiên họp Bộ Chính trị tôi hay ngồi lại cùng Bác
nói chuyện, có lần bác trầm ngâm nói: " Mình đã nói để
kháng chiến xong đã, mới tiến hành cải cách ruộng đât, cứ
ép mãi. Mà nếu có làm cũng làm theo cách ta, chứ không theo
cách của họ ".

Đánh thuế công thương nghiệp, cải tạo tư sản cũng là do
Trung Quốc đề ra. Hậu quả là hơn một triệu người di cư 
vào Nam. Ta đổ tội cho Pháp, Mỹ điều đó chỉ đúng một
phần nào, còn là do ta làm vội, làm ẩu, đánh tràn lan hết.
Không phải địa chủ mà phú nông, thậm chí trung nông cũng bị
đánh. Đảng viên nhiều người tốt cũng bị đánh. Kết quả
của những chính sách cải cách lúc đó là như thế. Do đó khi
cách mạng tháng Tám thắng lợi không khí vui mừng đến như
thế, mà chiến thắng Điện Biên Phủ không khí không được
vui bằng.

Tôi nhớ có chuyện thế này, đầu năm 1951, lúc đó tôi là
chánh văn phòng của Tổng bí thư nên được dự các cuộc họp
của Thường vụ Trung ương. Trong một cuộc họp Thường vụ
Trung ương, Bác nói Stalin không được như thế đâu, chỉ vì
người ta cần có một ngọn cờ mà đưa lên như thế. Nghĩa là
Bác biết rõ Stalin. Người không sùng bái, cũng như không sùng
bái Mao Trạch Đông. Nhiều lúc Bác cũng phải ngoại giao. Cũng
như Bác không thích gì Tưởng Giới Thạch, nhưng Bác vẫn dịch
cuốn " Trung Quốc mệnh vận " do Tưởng viết, rổi đem
biếu Trương Phát Khuê. Tranh thủ để giữ vững chính quyền,
giảm được kẻ thù. Bác hết sức tinh trong nhìn nhận tình
hình chính trị. Nhưng Người ít nói. Nhiều người không biết
cứ tưởng bác mơ hồ trong vấn đề này khác. Chính trị Bác
sắc sảo, nhưng Người rất ghét nói ba hoa. Bác bao giờ cũng
vì dân, vì nước, chứ không vì cá nhân mình. Nhiều người
sắc sảo nhưng lại vì bản thân mình nhiều, củng cố vị trí
của mình nhiều hơn. Nếu người lãnh đạo cách mạng nào cũng
được như Bác thì không bao giờ chính quyền bị đổ, vì Bác
lúc nào cũng có Đảng, có dân, quan hệ với dân chặt chẽ
không bao giờ làm điều gì vì mình, tất cả đều xuất phát
vì nhân dân. Tôi cho rằng hiểu được Bác không phải dễ, làm
theo Bác càng khó hơn.

Sau chiến thắng 1954, Bác gọi tôi đến và căn dặn: « Ta
chiến thắng rồi công tác tuyên truyền chỉ nên biểu dương
tinh thần anh dũng của quân và dân ta, không nên sỉ nhục Pháp.
Vì như thế sẽ khích động tinh thần tự ái dân tộc của họ
». Sau này đối với Mỹ, Bác cũng căn dặn như thế.

Tháng 10 năm 1956, đồng chí Trường Chinh xin từ chức Tổng bí
thư, vì sai lầm trong cải cách ruộng đất, Trung ương bàu
đồng chí Lê Duẩn làm Tổng bí thư, lúc này đồng chí Lê
Duẩn vẫn ở Nam Bộ. Trong lúc chờ đồng chí Lê Duẩn ra nhận
chức Tổng bí thư, Trung ương đề nghị Bác làm Chủ tịch,
tạm kiêm nhiệm chức Tổng bí thư. Để giúp Người giải
quyêt công việc hàng ngày, Trung ương cử đồng chí Võ Nguyên
Giáp sang giúp Bác. Ngoài ra còn có công việc chuẩn bị cho
Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng. Đồng chí Võ
Nguyên Giáp cùng với đồng chí Trần Quang Huy, Hoàng Tùng chuẩn
bị sơ bộ một bản đề cương báo cáo chính trị. Khi đồng
chí Lê Duẩn ra Hà Nội làm nhiệm vụ Tổng Bí thư, đồng chí
trực tiếp giải quyết mọi công việc của Trung ương cùng
Bác. Đồng chí bắt tay vào việc chuẩn bị cho Báo cáo chính
trị tại Đại hội. Giúp cho đồng chí Lê Duẩn trong những
công việc này có Trần Quang Huy, Hoàng Văn Thái, Hoàng Tùng.
Đồng chí Lê Duẩn làm việc liên tục cùng các đồng chí trên
ở nhà số 6 phố Hoàng Diệu.

Đồng chí Lê Duẩn phân tích tình hình miền Nam từ năm 1954
đến lúc đó và trình bầy có hệ thống đường lối giải
phóng miền Nam. Đồng chí viết thành dự thảo Nghị quyết
trình Bác và Bộ chính trị thảo luận. Trong quá trình chuẩn
bị các đồng chí Quân uỷ Trung ương cũng tham gia thảo luận,
góp thêm nhiều ý kliến. Quá trình chuẩn bị Nghị quyết này
kéo dài gần một năm.

Về cuộc Tổng tiến công nổi dậy mùa xuân năm 1968, Người
đưa ra sáng kiến này là đồng chí Lê Duẩn, sau khi đã trực
tiếp chỉ đạo mọi mặt công tác ở miền Nam từ năm 1958
(nói đúng hơn là từ năm 1946 đến 1954 và từ năm 1954 đến
năm 1957). Bộ Chính trị và Bác quyết định mục tiêu, phương
hướng và các vấn đề khác của chiến dịch. Cuối năm 1967,
Bác đi chữa bệnh ở Trung Quốc. Giáp Tết, Trung ương họp ở
Kim Bôi quyết định mở chiến dịch này. Đồng chí Lê Duẩn
trực tiếp chỉ đạo mọi công tác chuẩn bị chiến dịch này
ở cả hai miền cùng với Quân uỷ Trung ương và Trung ương
cục miền Nam.

Sau đây tôi kể thêm một số kỷ niệm mà tôi không bao giờ
quên. Khi Bác đi Liễu Châu gập Chu Ân Lai, thì ở nhà chị Bác
(bà Bạch Liên) qua đời. Lúc đó Bác cùng Bộ Chính trị đóng
tại xã Kim Quan, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Nhận được
điện báo từ khu Bốn đánh ra, tôi báo cáo anh Trường Chinh,
anh Trường Chinh ngậm ngùi nhưng không nói phải làm gì. Khi Bác
về tôi báo cáo lại. Bác hỏi tôi: " Thế các chú có nhân
danh Bác điện vào chia buồn và xin lỗi gia đình và địa
phương là Bác bận việc không về được không? " Tôi trả
lời: "Thưa Bác, không ạ". Bác nói: "Các chú ngốc quá".

Trong thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Bác giao cho
tôi tham gia chuẩn bị Hội nghị chính trị đặc biệt. Bác cho
phép tôi được góp ý kiến vào bài nói của Người tại Hội
nghị và bồi dưỡng cho một số người phát biểu tại Hội
nghị trong đó có anh hùng Núp.

Năm 1968 Bác có vịệc phải ra nước ngoài, ở nhà Ban Bí thư
mà cụ thể là đồng chí Tố Hữu có chủ trương dong bọn
giặc lái Mỹ mà ta bắt được đi diễu qua các đường phố
để cảnh cáo Mỹ. Khi về Bác hỏi: "Vì sao các chú lại làm
một việc dại dột như thế?" Tôi thành thật báo cáo Bác là
mình không tham gia việc này. Bác nói luôn rằng tôi cũng ở
trong Trung Ương mà lại không chịu trách nhiệm sao được, dư
luận thế giới sẽ không đồng tình về việc làm của ta.

Bác đọc báo thấy các báo đưa tin Bộ Văn hoá đúc tượng
nửa người của Bác bằng đồng (việc này do đòng chí Hà Huy
Giáp quyết định). Bác hỏi tôi, (vì lúc đó tôi làm công tác
tuyên truyền): " Ai cho phép các chú làm? Đồng để dùng vào
việc quân, không phải để tạc tượng ".

Từ khi tôi phụ trách báo Nhân Dân và một phần công tác của
Ban Tuyên huấn, tôi thường xuyên được Bác dạy bảo, phê
bình, cho chỉ thị công tác, khi gặp trực tiếp, khi gọi qua
điện thoại, hoặc qua các đồng chí khác. Bác dạy tôi cả
kinh nghiệm viết báo. Bác viết khá đều đặn cho báo Sự
Thật, báo Nhân Dân. Những bài viết của Bác báo Nhân Dân đã
tập hợp lại. Tuy nhiên bản thảo của Bác giữ lại không
nhiều.

Tháng 7 năm 1969 tôi đưa Charles Fourniau (c), phóng viên thường
trú báo L'Humanité đến phỏng vấn Bác. Hai người phóng viên
cuối cùng tôi đưa đến phỏng vấn Bác là Marta Rojas của Cuba
và Charles Fourniau. Bác cho gọi tôi lên sớm để góp ý kiến
về những câu trả lời. Tôi nói chắc đồng chí đó sẽ hỏi
cảm tưởng của Bác khi Người vào tuổi 80. Bác nổi nóng,
dồn cho tôi một hồi. Người nói chúng tôi tại sao lại bày ra
việc kỷ niệm 80 tuổi, so với Các Mác, Lênin, chỉ là con cháu
thôi, các chú tưởng rằng Bác cũng như người khác hay sao? Vì
lúc bấy giờ không khí chống sùng bái cá nhân rât kinh khủng.
Đúng lúc đó thì Charles Fourniau vào. Chuyện của hai Bác cháu
tạm dừng. Nhưng chủ đề câu chuyện Charles Fourniau hỏi Bác
hôm đó lại về chuyến đi của Bác từ Pháp sang Liên Xô năm
1923. Sau buổi làm việc khi Charles Fourniau về rồi, Bác gọi tôi
vào, và dường như Người đã quên chuyện lúc trước, Người
chỉ vào trong nhà và nói: " Trong tủ lạnh có nhiều thứ, chú
vào lấy mà ăn ".

Một kỷ niệm không bao giờ quên đối với tôi là trước khi
vĩnh biệt chúng ta mấy ngày Bác cho gọi tôi vào, Người giơ
tay cho tôi nắm rất lâu. Khi Bác mất tôi được tham gia công
việc tổ chức tang lễ. Túc trực bên quan tài của Người. Tôi
viết phần tiểu sử của Người. Còn bài điếu văn tôi viết
dài quá, anh Lê Duẩn bảo Đông Ngạc viết lại.

Tìm hiểu về Bác tôi thấy Bác có 10 nỗi đau lớn(d).

Một là gia đình tan nát. Mẹ và người em út mất sớm vì nhà
nghèo không đủ tiền mua thuốc, không ai chăm sóc, trong lúc bố
đi vắng. Cụ Nguyễn Sinh Sắc bị thù oán nên bị hại. Tính
cụ ngay thẳng, phê phán thẳng thắn những người xấu và làm
theo ý mình cho là phải. Bọn quan lại ghét cụ. Nhân có một
người bị phạm tôi đưa đến, lệ ngày xa trước khi xử án
phải nọc người đó mấy chục roi trước. Chẳng may người
phạm tội bị bệnh từ trước nên sau khi bị đánh trả về
một thời gian người ta chết. Nhân việc này trên mới cách
chức cụ và đầy đi biệt xứ. Còn ông anh và bà chị Bác
cũng bị tù đày, rồi sau mất sớm.

Nỗi đau thứ hai là: sau vụ chính biến Tưởng Giới Thạch,
Bác đi Liên Xô. Trước đó Bác phụ trách các nước Đông Nam
Á của Quốc tế cộng sản. Bác có đi dự Đại hội V Quốc
tế cộng sản nhưng không được bầu vào Ban chấp hành. Lần
này sang, do cách hoạt động của mình Bác bị Liên Xô nghi ngờ
là chưa đủ tiêu chuẩn cộng sản. Sang Liên Xô Bác không
được giao việc gì cả, không có chức vụ chính thức trong
tổ chức quốc tế. Bác xin về, họ không cho tiền. Sau Bác
phải đi xin bạn bè tiền để về. Bác về Xiêm tìm đến các
gia đình người Nghệ như gia đình cụ Đặng Thúc Hứa, Bác
hoạt động trong Việt kiều. Sau Bác có sang cả Lào để gây
dựng cơ sở ở đó. Như thế việc Bác về Xiêm là do Bác chủ
động chứ không phải do Quốc tế phân công. Nghe tin ở nước
nhà giải tán Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí hội,
để lập Đảng cộng sản, Bác cho rằng chưa phải lúc. Bác cho
rằng, lúc đầu hãy tập hợp thanh niên và giương cao ngọn cờ
yêu nước đã. Có tổ chức Đảng cộng sản chỉ là tổ chức
bí mật chứ chưa đưa Đảng cộng sản ra và nói đấu tranh
giai cấp vội, cứ nói đánh Tây cho quần chúng dễ hiểu. Theo
tôi vì sao lại lập Đảng cộng sản ? Chuyện này có lẽ bắt
nguồn từ Đảng cộng sản Pháp. Đảng cộng sản Pháp sợ
liên lụy không dám bênh vực phong trào cách mạng ở các nước
thuộc địa nữa. Sau cách mạng tháng Mười, hai người cộng
sản Pháp sang Liên Xô gặp Lênin là Frossard và Cachin. Frossard
không đồng ý với Lênin một số điểm cho nên về nước
không được dùng mà chỉ có Cachin mới được dùng. Những
điều này tôi đoán lúc đầu Bác không biết, vì lúc đó Bác
đang là một nhà cách mạng chân thành, trong sáng, không nghĩ
đến những điều phức tạp bên trong.

Đảng cộng sản Pháp cho rằng bác không lập ra Đảng cộng
sản mà chỉ tuyên truyền chủ nghĩa yêu nước, lại phê phán
Đảng cộng sản Pháp khá nhiều, trên báo chí và ở Đại hội
Quốc tế cộng sản Đảng cộng sản Pháp lưu ý không tán
thành Bác. Năm 1923, Nguyễn Văn Tạo là học sinh bãi khoá ở
Sài gòn được sang Pháp học, được kết nạp vào Đảng cộng
sản Pháp, rồi vào Trung ương ngay. Nguyễn Ái Quốc không
được bàu vào Trung ương, Bác làm ở Ban Thuộc địa, Đảng
cộng sản Pháp cử 3 người trong đoàn Pháp sang dự Đại hội
thứ VI Quốc tế cộng sản trong đó có Nguyễn Văn Tạo.
Nguyễn Văn Tạo đề nghị là ở Đông Dương điều kiện đã
chín mưồi, đề nghị cho thành lập Đảng cộng sản. Sau đó
mới tác động đến nhóm Bắc Kỳ – Ngô Gia Tự, Nguyễn Phong
Sắc, Nguyễn Đức Cảnh, ba người hăng hái nhất lập ra chi
bộ Đông Dương cộng sản Đảng, đề nghị giải tán Việt
Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội. Việc đó chính là phê
phán Nguyễn Ái Quốc, hay gọi là sự sửa sai đối với Nguyễn
Ái Quốc. Nhưng Bác vẫn im lặng tìm cách sửa sai việc đã
rồi, vì ba tổ chức tìm cách chống nhau gây chia rẽ. Sau Lê
Văn Lương nói với tôi là khi Bác về Trịnh Đình Cửu có hỏi
Bác giấy uỷ nhiệm của Quốc tế cộng sản, vì Bác nói là
Quốc tế cử về. Bác nói : " Đồng chí thử tưởng tượng
xem nếu tôi mang trong người giấy uỷ nhiệm của Quốc tế
cộng sản thì liệu tôi có về được đến đây không? "

Trong số những người dự hội nghị hợp nhất ba tổ chức
cộng sản có Lê Hồng Sơn, Đông Dương cộng sản đảng. Có
người nói không có Đông Dương cộng sản đảng là không
đúng. Người sáng lập An Nam Cộng sản Đảng là Hà Huy Giáp,
nhưng anh theo quan điểm công nông, đưa công nhân lên là chính,
nên mới đưa Hạ Bá Cang lên. Hạ Bá Cang, Nguyễn Thiều, Châu
Văn Liêm được cử đi dự Hội nghị hợp nhất, nhưng sau đó
Hạ Bá Cang bị bắt ở Hài Phòng nên không dự được. Đại
diện cho Bắc kỳ là Trịnh Đình Cửu và Nguyễn Đức Cảnh.
Bác đưa ra chính cương vắn tát và điều lệ vắn tát, thật
sự là Bác đã trở lại đường cách mạng với 3 mục tiêu:
Độc lập, Tự do, Hạnh phúc. Mà dân tộc độc lập, dân
quyền tự do, dân sinh hạnh phúc chính là tư tưởng của Tôn
Văn. Nhưng cách thực hiện khác hoàn toàn. Tôn Văn dùng cách
mạng tư sản, bác là làm cách mạng nhân dân, cách mạng quần
chúng rồi tiến dần lên cách mạng chủ nghĩa xã hội thật
sự. Bác nói là làm từ từ, dần dần. Tiến lên chủ nghĩa xã
hội ngay làm sao được với một nước có nền nông nghiệp
lạc hâu. Mẫu của Stalin không phải đâu cũng áp dụng như
thế. Nhiều ông cách mạng còn trẻ kinh nghiệm ít cứ tin theo
sách, nhưng bác không khờ như thế.

<div class="boxright200"><img
src="http://img809.imageshack.us/img809/307/danluanorg005.jpg" /><div
class="textholder">Luật sư Frank Loseby cùng vợ và con gái sang thăm
Hồ chủ tịch (1960)</div></div>

Năm 1931-1932, ở Hương Cảng Bác không có chức vụ gì, nhưng
vì sự nghiệp cách mạng Bác vẫn làm. Bác gửi thư cho Quốc
tế Cộng sản đề nghị giao việc, vì thời gian đó bác chỉ
làm nhiệm vụ như một hộp thư. Đường giao thông của ta
với Pháp bị vỡ do một anh thuỷ thủ người Pháp bị bắt
khai ra. Khi tôi ở trong tù thì được thông báo cho biết là
Trần Văn Giàu bị bắt khai ra đường dây. Nhưng sau này tôi
hỏi lịch sử Đảng Sài gòn, họ nói có tài liệu chứng minh
là không phải Trần Văn Giàu khai. Mật thám tìm được chỗ
Bác ở và bắt Bác. Việc Bác được tha là nhờ luật sư
Loseby. Ông luật sư cãi cho bác là ông Stafford Cripps, sau này ông
là bộ trưởng dưới thời thủ tướng Churchill(*). Việc Bác
bị bắt rồi lại được tha Liên Xô không hiểu, họ nghi ngờ
có điều gì phức tạp trong vụ án. Tại sao lãnh tụ cộng
sản mà được đế quốc tha yên ổn, cho nên trong vòng 4 năm
họ không giao việc gì. Bác là nhân viên thường ở Ban Thuộc
đia. Sau đó Bác nhận làm nghiên cứu sinh phó tiến sĩ, nhưng
Người rất chán. Đại hội VII của Quốc tế cộng sản Bác
không có cương vị gì cả. Đại hội lần thứ nhất của
Đảng ta họp trước đó, bầu Bác là Uỷ viên dự khuyết, và
còn ghi rõ chỉ là công tác ở nước ngoài. Chính vì thế nên
Bác không có tên trong đoàn đại biểu của Đảng ta sang dự
đại hội Quốc tế cộng sản lần thứ VII. Đoàn đại biểu
của Đảng cộng sản Việt Nam chỉ có Nguyễn Thị Minh Khai, Lê
Hồng Phong. Sau khi xin việc mãi không được, Bác xin về nước.
Gần đây tôi có gặp một nhà trí thức Việt Nam, người này
có gặp một nhà trí thức Pháp, họ nói Bác suýt bị hại vì
những chuyện lôi thôi này. Ông lãnh tụ Nhật bản Nasaka Sanzo
cùng bị làm rầy rà. Những chuyện này Bác biết cả.

Thời gian này quan hệ với Trung Quốc không gay go, vì tình bạn
của Bác với Chu Ân Lai, Lý Phú Xuân, Diệp Kiếm Anh… khi Bác
ở Quảng Châu là thân thiết. Năm 1938-1939 Chu Ân Lai cũng giúp
đỡ Bác nhiều, chỉ có sau này với Mao Trạch Đông là Bác
gặp khó khăn thôi.

Về việc Bác bị bắt năm 1942 ở Trung Quốc tôi được biết
như sau: Chuyện này do Hoàng Điền, đại tá về hưu, người
được dự các lớp huấn luyện ở Liễu Châu năm 1944, nói
với tôi. Mục đích chuyến đi này của bác là gặp Chu Ân Lai
để hỏi thăm tình hình quốc tế. Lúc Bác bị bắt trong
người có tấm danh thiếp: Hô Chí Minh – Việt Nam hoa kiều ký
giả và một số giấy tờ khác. Hoàng Điền nói: Trương Bội
Công đứng đầu bọn tình báo của Trương Phát Khuê đã bố
trí Trần Báo ở với những người cách mạng của ta thường
đi qua để bắt. Tên này là em bà Ngô Khổn Duy, vợ ông Hồ
Học Lãm, người đã biết rõ Bác Hồ. Bác bị hành hạ khổ
sở. Nhưng nỗi đau nhất của Bác là Người bị bắt trong lúc
tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến động. Nếu
ở nhà lúc đó không có anh Trường Chinh thì thật sự chúng ta
cũng không có ngày nay đâu. Tả lại phần nào nỗi đau của
mình trong những ngày bị bắt giữ, Bác có viết bài thơ: "
Trên đời ngàn vạn điều cay đắng, cay đắng chi bằng mất
tự do ". Càng cay đắng hơn là Bác bị bắt trong lúc cách
mạng rất cần Người. Nỗi đau thứ tư là sau năm 1945 Liên
Xô, Trung Quốc không công nhận ta, Đảng cộng sản Pháp cũng
nghi ngờ.

Nỗi đau thứ năm là 1950-1952 Mao Trạch Đông và Stalin gọi Bác
sang phê phán gay gắt, buộc phải thay đổi đường lối dẫn ta
đến sai lầm trong cải cách ruộng đất. Tuy nhiên Trung Quốc
giúp ta chỉnh lại quân đội có phần đúng. Mục đích của
họ là sửa lại cả quân sự, chính trị, tổ chức, cách dùng
người. Nhân nói về chính sách dùng người của Bác tôi muốn
kể chuyện này. Có lần trong một cuộc hội nghị về công tác
tổ chức, Lý Ban nói: " Đối với con cán bộ khi kết nạp
vào Đảng không cần phải thời gian dự bị, mà được chính
thức ngay ". Bác nói ngay: " Chú nói như thế không đúng.
Đối với người cách mạng phải xem cụ thể người ấy như
thế nào. Vì có chuyện hổ phụ sinh khuyển tử, tức là hổ
đẻ ra con là chó như Phan Bá Ngọc là con của Phan Đình Phùng
đã đưa mật thám bắt Phan Bội Châu. Nhưng cũng có những
địa chủ lớn như Bành Bái, địa chủ nổi tiếng ở tỉnh
Quảng Đông lại là người tiến bộ, Đảng cộng sản coi là
anh hùng. Cho nên không được máy móc, không được xem nguồn
gốc xuất thân, lý lịch làm quan trọng ".

Họ " sửa " khá nhiều nên Bác đau lòng. Bao nhiêu nhân sĩ
Bác lôi kéo tranh thủ, sau đó phải gạt hết, có những người
còn bị đấu tố nữa.

Nỗi đau thứ sáu là Bác không ngờ Liên Xô và Trung Quốc lại
xung đột, mẫu thuẫn đến gay gắt như thế. Bác nói phe xã
hội chủ nghĩa do Liên Xô và Trung Quốc lãnh đạo. Nhưng Liên
Xô và Trung Quốc cùng lãnh đạo thế nào được. Một nước
chỉ có một mặt trời. Mao Trạch Đông là mặt trời hay Stalin
là mặt trời đây. Liên Xô hay Trung Quốc đứng đầu lãnh
đạo. Chỉ có một mà thôi. Hai bên xung đột nên bên nào cũng
muốn lôi kéo Bác về phía mình. Bác bị giằng xé trong suốt
những năm cuối của cuộc đời.

Nỗi đau thứ bẩy là sự bất hoà giữa mấy người lãnh đạo
của ta. Không phải mọi việc đều êm đẹp cả. Họ nhất trí
với nhau về quan điểm đánh Mỹ, nhưng quan điểm quốc tế
không thống nhất, về quan hệ cá nhân với nhau không thuận
lợi. Sau này Bác bảo tôi viết bài: " Nâng cao đạo đức
cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân ". Ý Bác là muốn
nói mấy ông này. Bài đó tôi viết Bác sửa lại nhiều. Sau
Bác nói anh Tố Hữu cũng sửa nữa. Tôi được biết từ năm
1966, cứ mỗi chiều thứ bẩy, Bác lại cho làm cơm và nói: "
Mấy chú cứ đến đây ăn cơm vui vẻ với nhau, có gì khúc
mắc cứ nói hết ra, không nên để bụng ". Anh Nguyễn Chí
Thanh làm thư ký cho những cuộc đó cho đến khi anh đi vào Nam.
Sau anh Lê Văn Lương nói lại với tôi là họ cứ đến ăn cơm,
chén hết rồi họ về, chẳng ai nói với ai điều gì. Nếu
không biết việc này thì không hiểu hết tại sao trong di chúc
Bác lại dặn phải đoàn kết toàn Đảng, từ Trung ương đến
địa phương. Trên mà đã đoàn kết rồi thì cần gì nói đến
cơ sở nữa. Trên đoàn kết mà dưới không thì lôi thôi to,
các ông trị cho chết. Chính vì thế mà bác rất buồn. Có thể
có một vài hiện tượng, có đồng chí nào đó muốn vượt
Bác, Bác biết hết, nhưng Bác không quan tâm.

Nỗi đau thứ tám là tình hình trong nước và thế giới trước
khi Bác qua đời đều căng thẳng, nên đầu óc Bác không
được thư thái. Cuộc kháng chiến chống Mỹ kéo dài, nhân dân
ta hy sinh nhiểu của, nhiều người, Bác rất đau lòng. Tuy Bác
nói là Trường kỳ kháng chiến nhưng thực sự Bác không muốn
cuộc chiến tranh phải kéo dài. Từ đầu đến cuối Bác không
muốn có chiến tranh. Cho nên mới có cuộc hoà hoãn với Pháp.
Đối với Mỹ cũng thế, Bác muốn tranh thủ, nhưng không
được mới phải đánh. Cộng thêm những năm tháng ốm đau kéo
dài (trên 3 năm), có lúc Người cáu gắt cũng vì lẽ đó. Tất
cả những nỗi đau này Bác không thổ lộ cùng ai, kể cả với
anh Lê Duẩn, anh Trường Chinh. Nếu chúng ta không hiểu những
nối đau của Bác, không hiểu được sự chín chắn, đúng
đắn của Bác trong chính trị thì ta sẽ giáo điều, nói không
sát.

Tổng kết lại, cho đến nay Đảng ta có 4 thắng lợi lớn và 4
thất bại. Bốn thắng lợi thì đã rõ: Thắng lợi thứ nhất
là Tổng khởi nghĩa thắng lợi, thắng lợi thứ hai là Kháng
chiến chống Pháp thắng lợi, thắng lợi thứ ba là Kháng
chiến chống Mỹ thắng lợi, thắng lợi thứ tư là thực hiện
công cuộc đổi mới đang thắng lợi dần dần. Thắng lợi
trong công cuộc đổi mới tuy Bác không còn, nhưng đường lối
đi đúng tinh thần độc lập tự chủ, tức là trở lại với
chính mình, trở lại với tư tường Hồ Chí Minh mới đổi
mới được. Cứ để như cũ chắc hôm nay nước đổ rồi.
Bốn thắng lợi đều do tư tưởng độc lập tự chủ, do tư
tưởng Hồ Chí Minh quyết định.

Bốn lần thất bại là do học theo Trung Quốc, học theo Liên
Xô. Đó là xông thẳng tới chính quyền mà là chính quyền công
nông thôi, đó là cải cách ruộng đất, đấu địa chủ. Bác
không phải là không nói tới đấu tranh giai cấp. Cụ nói đấu
tranh giai cấp phụ thuộc vào đấu tranh dân tộc.

Tất cả các lãnh tụ ở các nước khi cầm quyền không có ai
trong sáng như Hồ Chí Minh, kể cả Fidel Castro. Vì Fidel cố giữ
một cái gì đó đã cũ, hai nữa là ông còn dành một phần cho
" em ". Bác không làm như thế. Ở Cuba không ai dám trái với
Fidel. Kim Nhật Thành thì quá tệ. Còn Mao Trạch Đông, Stalin,
Khrutchev, Gorbachov... cũng không thể hơn Bác. Việc Bác sống và
sinh hoạt giản dị như thế không phải Người cố ý thể
hiện cái gì là đồ Nghệ, lập dị mà vì Bác thấy dân còn
đói khổ, chiến tranh làm họ nghèo đói chết chóc. Bác không
nỡ lòng sống một cách cách biệt. Vả lại Bác xuất thân từ
một gia đình nghèo khổ. Bác giữ được phẩm chất như thế
suốt cuộc đời.

Tôi không đồng ý nếu chỉ nói rằng tư tưởng Hồ Chí Minh
là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mac-Lênin vào điều kiện
Việt Nam. Tôi đã viết cuốn sách: " Từ tư duy truyền thống
đến tư tưởng Hồ Chí Minh ". Nói như thế có nghĩa là Bác
có nắm được tinh hoa của chủ nghĩa Mác Lênin. Bác nắm
được phép biện chứng của chủ nghĩa Mác-Ănghen cộng với
tư duy thực tiễn của người Việt Nam. Tức là điều kiện ở
Việt Nam, đất nước bị đô hộ kéo dài, nhân dân cực khổ,
nên phải nói những điều thiết thực, không nói lý luận
viển vông. Bác có kinh nghiệm nhiều. Bác nói ông Phan Bội
Châu, ông Phan Chu Trinh là những người yêu nước rất đáng
kính, nhưng các ông ấy không biết làm công tác quần chúng,
không thấy vai trò của dân đen. Bác nói và Bác hoà nhập với
nhân dân ngay từ khi Người về Cao Bằng. Nếu nói Bác chỉ
học Mác – Ănghen thôi thì không đúng, Bác rất sáng tạo, quý
trọng con người. Tư tưởng Hồ chí Minh không phải chỉ là
sự vay mượn, mà là sản phẩm tinh thần của một phần tư duy
con người Việt Nam.

Sai lầm lớn nhất của Chủ nghĩa Xã hội là cứ xông thẳng
tới chính quyền. Và khi đã nắm được chính quyền rồi đáng
lẽ phải thực hiện dân chủ thì lại nhấn mạnh chuyên chính.
So sánh Bác với các Tổng bí thư các nước mới thấy sự khác
biệt. Mác nói mục đích của cách mạng vô sản là giành chính
quyền dân chủ, chuyên chính với kẻ thù để bảo vệ nền
dân chủ. Cái sai nữa là, sau khi giành được chính quyền rồi
thì thực hiện công hữu ngay lập tức, công hữu cực đoan,
tức là vô sản hoá hơn cả tư bản. Mọi người không ai có
gì cả, chỉ là người làm công ăn lương, nên động lực mới
yếu đi. Mác dự báo khoa học có cái đúng có cái trật. Nhưng
về xu thế lịch sử là Mác nói đúng. Chủ nghĩa tư bản không
thể tồn tại lâu mà nó phải thay thế bằng công bằng hơn,
cuối cùng là chế độ công hữu. Hiện tại không phải là
công hữu hết mà chỉ cần xây dựng một nền kinh tế hợp
tác là đủ. Chúng ta chưa dám nói khác. Người cầm quyền lại
càng sợ nói khác đi.


Hoàng Tùng


(a) Có thể đọc trang hồi ký Chiến dịch Thập vạn đại sơn
của Võ Nguyên Giáp (đã đăng trên mạng Diễn Đàn)

(b) Chính xác hơn là báo L'Avant-Garde (Tiền Phong). Sau chuyến
đi này, Léo Figuères viết cuốn Je reviens du Viet-Nam libre (Notes de
voyage, 1950)

(c) Charles Fourniau (1920-2010), nhà sử học, đúng là đã từng
làm phóng viên thường trú của báo L'Humanité (của Đảng
cộng sản Pháp) từ 1963 đến 1965 tại Hà Nội. Năm 1969, ông
phỏng vấn chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách phóng viên đặc
biệt.

(d) Như bạn đọc có thể thấy, sau đó chỉ kể 8 « nỗi đau
». Trên blog của mình, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo cho biết đã
được đọc toàn văn bài viết này với đầy đủ 10 « nỗi
đau ». Như vậy bản lưu hành trên mạng (mà chúng tôi đăng ở
đây) đã bị lược bớt.

(*) Ở đây ông Hoàng Tùng lặp lại sai lầm của nhật báo Anh
The Times trong bài tiểu sử chủ tịch Hồ Chí Minh (tháng 9.1969).
Ông Cripps là đại diện của chính phủ. Người cùng với luật
sư Loseby bảo vệ cho « Tống Văn Sơ » (bí danh của Nguyễn Ái
Quốc ở thời điểm 1931-1932) là luật sư Jenkins.

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/5563), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét