Trần Thanh Hiệp - Hòa bình trong trí nhớ

<center><img src="http://img718.imageshack.us/img718/2598/danluanorg004.jpg"
alt="" /></center>

<em><center>Durch die Welt ich gehe und rufe: Friede Friede
Friede</center></em>

<center><strong>Gerhard Marks </strong>(1889-1981)</center>

Có những bài học, học qua sách vở, học giữa cuộc đời,
học suốt cả đời mà chưa hết bài. Hòa bình là một trong
những bài học đó. Cảm nghĩ cuối đời của tôi là chiến
tranh đẻ ra hòa bình và ngược lại hòa bình cũng đẻ ra
chiến tranh. Hòa bình gắn liền với chiến tranh, chiến tranh và
hòa bình là hai mặt không rời nhau của một thực thể duy
nhất, xã hội. Mơ ước một thứ hòa bình không có chiến tranh
là một hoang tưởng. Chính tình Việt Nam, từ trên nửa thế
kỷ nay đã minh chứng điều ấy.

Lúc còn nhỏ tôi nghe người lớn bảo tôi rằng hòa bình là
hết loạn lạc.

Tôi sinh ra ở một vùng quê miền Trung, tỉnh Hà Tĩnh, trong
một gia đình nho học đã hết thời, con cháu phải ra tỉnh theo
tây học. Hàng năm, vào dịp Tết âm lịch, chúng tôi hẹn nhau
từ nhiều nơi kéo về quê cúng tổ tiên. Đầu thập niên 40,
giữa lúc tiếng súng của cuộc thế chiến lần thứ hai đang
nổ, chúng tôi về họp mặt tại một làng trên ven đê chạy
từ Đức Thọ hướng về Linh Cảm. Phong cảnh nơi này từng là
nguồn cảm hứng cho một nhà thơ, một thời nổi tiếng, nguyên
quán ở địa phương :

<em> Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về nước lại sầu đôi ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng </em>

Một buổi sáng đầu xuân, chúng tôi kéo nhau đi ngắm cảnh,
một bên là sông, một bên làng xóm, đồng ruộng. Cảnh nghèo,
buồn, nhưng hiền hòa. Một người anh họ, thần tượng của
tôi, tuổi đã lớn, sức học bậc đại học, vừa đi vừa
hỏi tôi: <em>"Sau này em định làm gì?"</em>. Tôi chưa tìm
được câu trả lời - thật ra cũng chẳng biết trả lời ra sao
- thì ảnh đã gợi ý: <em>"Thôi cứ theo anh, học canh nông đi,
chờ hết loạn lạc, về đây ta mở mang đồng ruộng!"</em> Tâm
hồn non nớt, còn trong trắng, của một cậu bé vừa học xong
chương trình bậc tiểu học, đã tiếp thu ngay bài học mở
lòng đơn sơ <em>"hòa bình là hết loạn lạc"</em>. Hòa bình
cũng như thiên nhiên, mưa thuận gió hòa. Cũng như đời sống
quê tôi, chẳng có gì sôi nổi, năm này qua năm khác.

Khi tôi đến tuổi vào đời, lại nghe nói phải gây ra loạn
lạc để tạo ra hòa bình. Nhưng những gì chính bản thân tôi
thể nghiệm được ở giữa cuộc đời buộc tôi phải nhìn
nhận sự thật quái đản này.

Cuộc thế chiến lần thứ nhì đã im tiếng súng ở phương
Tây. Hai trái bom nguyên tử ném xuống đất Nhật đã thanh toán
gọn chiền trường ở phương Đông. Nhân loại hân hoan chào
đón hòa bình. Nhưng ở Việt Nam lại có súng nổ. Khởi đầu,
vì đảng tranh. Về sau, để đánh Pháp, diệt "việt gian"

<em>Việt Nam bao năm dòng rên xiết lầm than
Dưới ách quân tham tàn đế quốc sài lang
Diệt phát xít, giết bầy chó đê hèn của chúng
Tiến lên nền dân chủ cộng hòa
Đồng bào tuốt gươm vùng lên........ </em>

Cả một khối người vĩ đại, nhất là tuổi trẻ, như bị
cuốn hút, chuyển bước, đi vào chiến tranh một cách tự nhiên

<em>Bao chiến sĩ anh hùng
Lạnh lùng vung gươm ra sa trường
Quân xung phong, nước non đang chờ mong tay ngươi
Hồn sông núi khí thiêng ghi muôn đời....</em>

Cuộc chém giết được ca ngợi, hòa bình bị đẩy lui vào bóng
tối để nhường bước cho chiến tranh.

<em> Ngày bao hùng binh tiến lên
Bờ cõi vang lừng câu quyết chiến </em>

Từ xa xưa, ký ức tập thể Việt Nam đầy ắp những tiếng
gọi lâm chiến. Sách trời đã định. Kẻ nào dám tới xâm
phạm đất nước là chỉ để rước lấy họa vào thân. Hòa
bình Ố hay thái bình Ố là do những nỗ lực cướp giáo giặc,
bắt rợ Hồ, giết rợ Thát, bình quân Ngô mà giữ lấy núi
sông, điếu phạt để khử bạo, yên dân trong nhân nghĩa.

<em> Chiều hôm tươi sáng tiếng chiêng tiếng chiêng đưa
Tiếng chiêng đưa, tiếng chiêng đưa, tiếng chiêng đưa
bên trời
Hồi chiêng khua thu quân theo nhà Nam
Rung rinh chân trời xa
Danh thơm anh hùng xưa.....</em>

Toàn những lời hoa mỹ, thơ mộng, kỳ thực chỉ gói ghém
những cuộc chém giết. Và đi kèm với chém giết còn có biết
bao nhiêu tù đày, áp bức, chia lìa, đổ vỡ. Chém giết để
phản đế, bài phong rồi để đấu tranh giai cấp. Chém giết
để chia đôi đất nước. Rồi lại chém giết để thống
nhất đất nước! Chém giết cho Mỹ cút, Ngụy nhào, giải
phóng dân tộc khỏi ách thống trị của kẻ ngoại bang. Nhưng
lại để thay thế ách thống trị này bằng ách thống trị
của người bản địa. Chém giết để lật đổ vua quan nhưng
chỉ để cho Đảng chuyên chế lên ngôi cầm quyền với cả
một triều đình cán bộ. Lúc nào cũng có những lý do để
thần thánh hóa chém giết trong khi chờ đợi có hòa bình

<em>Đoàn quân đi thấp thoáng trong đêm.....
Uốn khúc đường đào (....)
Các anh về đâu
Về nơi giết quân thù chung
Đi là san bằng hết oán thù
Rồi một ngày mai tình thương rắc reo
Phá tan biên cương loài người sóng thân yêu
Ngày mai lớp dân lầm than không còn buồu đau
Đập tan gông cùm đẫm máu
Đời vang lên đại đồng khúc ca
Muôn phương, tung trời lá bay muôn phương, tha thiết
đường tơ...... </em>

Những kẻ cất tiếng gọi chém giết này, sau hơn bốn mươi
năm trường, nhờ chém giết, bằng đổ máu mà giành được
toàn thắng, đã vội vã quên lời ước hẹn xưa, trắng trợn
ra mặt chính thức thiết lập chuyên chính, tiếp tục chém
giết dù không đổ máu để cướp đoạt tất cả mọi loại
tài sản, cướp đoạt quyền sống của mỗi người, tiếm
đoạt chủ quyền quốc gia. Họ gọi đó là hòa bình. Thực
chất, đó là một trạng thái xã hội có hưu chiến nhưng chứa
chấp trong nó vô vàn bất bình đẳng. Vì vậy, tuy ngồi trên
ngai vàng của quyền lực tối đa mà họ vẫn run sợ trước
"nguy cơ" chí tử họ gọi là thủ đoạn diễn biến hòa bình,
theo họ là một cuộc chiến tranh tư tưởng không khói lửa
của những lực lượng thù địch để giành thắng lợi không
cần chiến tranh! Như thế có nghĩa là họ không chấp nhận cho
ai được tranh đấu đòi quyền sống, dù một cách hòa bình!
Họ lo ngại chương cuối cùng của thử nghiệm chủ nghĩa cộng
sản sẽ chấm dứt trong một tương lai không xa. Họ học tập
cách cộng sản Trung Quốc phòng chống "diễn biến hòa bình",
gọi những người chống chủ nghĩa Mác-Lênin, chống sự lãnh
đạo của đảng cộng sản và chống chủ nghĩa xã hội là
những người có chính kiến bất đồng. Họ kịch liệt chống
đa nguyên hóa chính trị và thực hiện chế độ đa đảng, coi
đó là một trong những đặc trưng của diễn biến hòa bình
để làm suy yếu. bài xích, phủ nhận sự lãnh đạo của
đảng cộng sản. Sự kiện họ chống hòa bình với quyền lực
họ nắm trong tay khó có thể hiểu cách nào khác hơn là trong
thực trạng trước mắt của cái gọi là Cộng Hòa Xã Hội
Chủ Nghĩa Việt Nam, hòa bình đang thai nghén chiến tranh.
"<em>Vùng lên những ai cực khổ bần hàn!"</em>, câu hát lâu
đời này của phong trào cộng sản quốc tế trước mắt vẫn
còn là lời cảnh cáo nghiêm trọng cho những người cộng sản
Việt Nam, nay đã đổi ngôi trong xã hội và trở nên giàu có,
đầy thế lực. Thực tiễn Việt Nam hơn bảy mươi năm đã
dạy và đang giảng giải vì sao nay lại đến lúc phải tìm
hiểu chiến tranh để mưu tìm hòa bình.


<center><strong>x
x
x</strong></center>

Héraclite và Aristote, hai triết gia nổi tiếng thời thượng cổ
ở Hy Lạp, mấy thế kỷ trước Công nguyên, đã cùng đưa ra
một nhận định: <em>"chiến tranh là mẹ đẻ của mọi
điều"</em>. Sớm hơn hai triết gia này, Tôn Vũ, Ngô Khởi,
thời Xuân Thu, Chiến Quốc ở phương Đông, đã phát minh ra
nhiều quy luật trong việc giao tranh để đưa chiến tranh lên
hàng sản phẩm của trí tuệ, cho đương thời và cho cả hậu
thế. Nhưng lịch sử loài người không phải là lịch sử của
thuần chiến tranh, mà còn là lịch sử của hòa bình nữa.
Chiến tranh và hòa bình xen lẩn trong cuộc sống của loài
người. Mối tương quan qua lại này khởi thủy đã có và về
sau vẫn có. Ngay sau cuộc đệ nhị thế chiến, một công trình
nghiên cứu khoa học về xã hội loài người đã cung cấp hai
số liệu đáng chú ý: trên ba trăm triệu người chết vì
chiến tranh, không dưới 8500 hiệp ước hòa bình đã được
ký kết. Tuy nhiên xuôi dòng thời gian, khi cần làm chiến tranh,
loài người thần thánh hóa nó. Trái lại, khi cần tái lập hòa
bình, người ta quay ra công kích chiến tranh để đề cao hòa
bình, tạo ra cảm tưởng sai lầm coi chiền tranh và hòa bình là
hai hiện tượng riêng biệt của xã hội. Từ thượng cổ đến
nay, biết bao nhiêu thay đổi. Nhất là lịch sử đang diễn
tiến trên đà của gia tốc.

Vì đã gắn liền với hòa bình nên chiến tranh tự nó là một
nghịch lý. Chiến tranh là một bạo lực đẫm máu nhưng đồng
thời nó lại được tiến hành nhằm mục tiêu độc nhất là
thiết lập hòa bình. Người ta có thể nói, và cũng phải nói,
rằng hòa bình là cứu cánh của chiến tranh. Mối tương quan
biện chứng này thường làm cho cả hai phe chủ chiến hay chủ
hòa không hài lòng. Người La Mã đã để lại cho đời nay lời
khuyên <em>"Si vis pacem, para bellum" </em>(muốn có hòa bình hãy
chuẩn bị chiến tranh). Lời khuyên này giữa thế kỷ trước
còn được nhắc nhở cho những sinh viên sĩ quan Việt Nam Cộng
Hòa. Phe chủ hòa, tuy không phủ nhận được hoàn toàn mối
liên hệ hữu cơ giữa chiến tranh và hòa bình nhưng chỉ muốn
đề cao hòa bình nên đưa ra khẩu hiệu <em>"muốn có hòa bình,
hãy chuẩn bị chiến tranh"</em>. Một cách nói không mấy sáng
sủa.

Hơn bốn tháng trước, vụ một nhóm đặc công khủng bố hồi
giáo cướp đoạt máy bay, trực tiếp gây phá hoại tại hai
thành phố Nữu Ước và Hoa Thịnh Đốn, trong nội địa nước
Mỹ, đã là một chất xúc tác làm thay đổi hẳn phẩm chất
của mối tương quan giữa chiến tranh và hòa bình. Với những
đảo lộn không ai lường trước được. Những gì người ta
chỉ mới mường tượng qua các cuộc chiến vùng Vịnh hay Kosovo
thì nay đã thấy rõ, qua cuộc chiến A Phú Hãn. Rằng, hòa bình
hoàn toàn phụ thuộc chiến tranh, loại chiến tranh mới, chưa
từng thấy, có khả năng tự kết thúc, nói khác đi, phân
định thắng bại, trong một thời hạn ngắn nhất, để khai
sinh ra hòa bình. Nét đặc thù của loại mưu tìm hòa bình này
đáng được coi như một trong những chỉ dấu của trật tự
thế giới mới đang hình thành. Tuy hiện nay chưa có kinh nghiệm
của một trận chiến rộng lớn cho phép kết luận "ai thắng
ai", nhưng dù ở trường hợp nào, khó còn những khả thế để
áp dụng loại chiến tranh du kích, triển khai chiến lược
chiến tranh lâu dai, chiến tranh toàn dân, chiến tranh giải phóng
v.v.... mà phe cộng sản đã hảo dụng trong mấy thập niên qua
để cướp đoạt quyền lực trong một không gian khá rộng.
Loại ý hệ lạc hậu khinh miệt nhân quyền, dân quyền, lấy
bạo lực thuần túy làm chỗ dựa, lấy lừa dối làm thủ
đoạn cai trị, cũng như loại ý hệ tôn giáo cuồng tín, hoàn
toàn trông cậy vào phép lạ của thần quyền, không có khả
năng đối đầu với hệ thống vũ khí mới, công cụ hành
động của sức mạnh toàn cầu hóa, tổng hợp được kinh tế,
văn hóa, thông tin hiện đại khoa học hóa, quy phạm pháp lý
phổ biến về nhân quyền. Giả dụ trước mắt chiến tranh
xảy ra thì cũng chỉ có thể là một cuộc chiến tranh "bất
cân đối" mà phần thắng đã được quyết định ngay từ khi
cuộc giao tranh bắt đầu, như tiền lệ A Phú Hãn đã cho thấy.

Hơn một phần tư thế kỷ đã trôi qua, tiếng súng đã ngưng
nổ, kể từ khi những người cộng sản Việt Nam nắm được
trọn quyền lực trong cả nước. Không còn một ngoại nhân
nào, dù là quân nhân hay chính trị gia, còn có bất cứ một
địa vị nào trên đất nước này. Tập đoàn cầm quyền cộng
sản đã đạt được mục tiêu "đánh cho Mỹ cút, đánh cho
Ngụy nhào", tức là đã đánh bại được hết mọi đối thủ
chính trị của họ. Lẽ ra hòa bình, theo đúng nghĩa của danh
từ, đã phải được lâp lại để cho dân chúng được hưởng
cuộc sống tự do, no ấm tối thiểu mà họỹ đáng được
hưởng sau bao nhiêu năm hy sinh gian khổ. Nhưng một nền chuyên
chính gay gắt đã được áp đật từ đầu thập niên 80. Và
dù tình hình thế giới cũng như trong nước đòi hỏi tập
đoàn cầm quyền cộng sản phải thay đổi đường lối cai
trị, thay thế chuyên chính bằng dân chủ, sự đáp ứng của
tập đoàn này cũng chỉ hời hợt bề ngoài. Ý đồ chuyên chế
toàn trị vẫn còn được theo đuổi. Trung thành với tư tưởng
Mác là khinh miệt nhân quyền theo quy phạm phổ quát hiện nay.
Tôn sùng tư tưởng Lê-nin là vẫn bám giữ lấy độc quyền
đảng trị và thủ đoạn bạo lực như là quốc sách cai trị.
Theo gót tư tưởng Hồ Chí Minh không thể là gì khác hơn mượn
những khẩu hiệu bề ngoài có vẻ bình dân và hiền lành để
che dấu thực chất bạo tàn của chủ thuyết Mác-Lênin, còn
được bổ sung bởi những chủ trương độc tài của Mao.
Những lời tuyên bố "đổi mới" nhắc đi nhắc lại suốt hơn
mười lăm năm nay là mưu chước xoa dịu dư luận quốc tế.
Cái trật tự phi chiến tranh nhưng chứa đựng dầy bất bình
đẳng, đầy áp bức hiện nay tại Việt Nam không thể coi là
"hòa bình" được. Nó là bản sao chép của những trật tự mà
chính người cộng sản từng gọi là "đế quốc thực dân" và
"phong kiến". Nó là một cuộc hưu chiến mang thực chất của
một tình trạng xã hội thường được gọi tên là hòa bình
nghĩa địa!

Sự chuyển biến hiện nay của tình hình chung trên thế giới
theo hướng dân chủ toàn cầu hóa là một cơ hội lịch sử cho
người Việt Nam có khả thế thanh toán nạn độc tài chuyên
chế để bắt đầu tiến trình dân chủ hóa đất nước. Không
thể để lỡ dịp mà không nắm bắt dược thời cơ. Chưa ai
đoán trước được sự việc sẽ xảy ra thế nào trong tương
lai. Nếu dựa vào thực trạng mà nhận định tạm thời có
thể rút ra hai kết luận dưới đây:

Một đằng tập đoàn cầm quyền cộng sản vẫn cứ nhẩn nha
tiếp tục nhịp độ đổi mới nhỏ giọt của họ - tức là
như vậy sẽ chẳng có đổi mới nào đáng kể - chừng nào họ
chưa bị ép buộc không thể cưỡng lãi được phải thay đổi
thực sự.

Đằng khác đại khối dân chúng bị trị không đủ lực
lượng tạo biến động thay đổi.

Ở trong nước, đối lập dưới các hình thức chính trị, văn
hóa, tôn giáo bị chia cắt, cô lập hóa, để bị giam hãm trong
thế bao vây thường xuyên của chính quyền, với một bộ máy
kìm kẹp công an, tòa án hùng hậu, sẵn sàng đàn áp bầng mọi
giá. Ở ngoài nước, hơn ba triệu người tị nạn tuy dứt
khoát không chấp nhận chế độ đương hành trong nước, nhưng
phần lớn chỉ ồn ào, nói nhiều hơn làm. Hình thức tranh
đấu này, thích hợp với giai đoạn tố cáo tội ác vào những
năm 80, nay đã lỗi thời. Chính quyền Hà Nội đã bình thường
hóa được quan hệ chẳng những ngoại giao, chính trị, văn
hóa, mà cả kinh tế với cộng đồng quốc tế. Phải mau lẹ
tìm ra được những hình thức tranh đấu mới. Để việc
chống độc tài đạt được những hiệu quả ngang tầm với
sự đòi hỏi của tình thế. Về các mặt tư tưởng, tổ
chức, động viên người cũng như phương tiện. Bài học A Phú
Hãn hẳn đã cảnh tỉnh những người Việt tị nạn ở ngoài
nước rằng nếu cứ kéo dài tình trạng rời rạc, hỗn loạn
vô tổ chức, thiếu lãnh đạo, thiếu chỉ huy, thiếu phối
hợp, tư kiến, tư đảng vô trách nhiệm, e rằng tới giờ phút
quyết định, bất chợt đến, sẽ bị đào thải.

Đã đến lúc những người Việt tị nạn ở nước ngoài cần
xét lại toàn bộ cuộc tranh đấu của mình, đổi mới tư duy
về mọi vấn đề của đất nước cho thích hợp với tình
huống mới. Những kiến thức cũ của thời chiến tranh lạnh,
những mơ ước cũ mang tâm trạng kẻ bại trận mong phục thù,
những tính toán tiểu tuệ cơ hội chủ nghĩa vì lợi nhuận
riêng, phải dẹp sang bên không thương tiếc, để mở đường
cho một thế tranh đấu mới.

Trước những thử thách mà tình thế đang đặt ra, những
người Việt tị nạn ở ngoài nước có thể là một lực
lượng đổi mới có trọng lượng, có tiềm thế khả dĩ trực
tiếp ảnh hưởng đến số phận chung của đất nước.

Chẳng biết những người này có dám và có đủ bản lãnh
nhận lãnh trách nhiệm trước lịch sử hay không. Cải tạo
vận mệnh cho cả một dân tộc đòi hỏi những nỗ lực lớn.
Không thể đoán trước được rằng những người Việt tị
nạn ở ngoài nước sẽ góp phần như thế nào. Dù sao, nếu
chưa làm ngay được những điều tích cực phi thường thì ít
nhất cũng nên cố gắng tránh tối đa những sai lầm chỉ gây
ra những hậu quả tiêu cực. Trong số những sai lầm này
người ta thấy có hai chủ trương rất tai hại, băt nguồn từ
tâm lý khiếp nhược, không dám thú nhận, trước chính sách
khủng bố bằng bạo lực có hệ thống của tập đoàn cầm
quyền cộng sản. Do đo,ù nảy sinh ra hai thái độ thỏa hiệp
không điều kiện với tập đoàn này để mưu tìm hòa bình.
Hoặc là tự giam mình vào chiếc cũi "Mặt Trận Tổ Quốc", tri
tình chấp nhận vai trò ngoại vi thuần trang trí, trong trận
đồ hòa bình giả hiệu. Hoặc đứng ngoài nhưng tránh né mọi
hình thức tranh chấp trực diện với chuyên chế cộng sản,
chuyên dùng khẩu hiệu suông cổ võ tranh đấu tuyệt đối bất
bạo động, trông chờ sự phản tỉnh của chuyên chế hòng
giành thắng lợi cho hòa bình.

Sau biến cố 11 tháng 9 ở Mỹ, điều phải ý thức rõ là với
loại chính quyền chuyên chế, tàn bạo, ngoan cố, lấy khủng
bố làm chính sách như chính quyền Taliban hay các chính quyền
cộng sản tàn dư, không đường lối nào ngoài chiến tranh để
giải quyết vấn đề hòa bình. Tách rời hai thứ này là đuổi
bắt ảo vọng.

Cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90, tôi đã hai lần đến
thăm nước Đức, trước và sau khi bức tường Berlin bị
triệt hạ. Dịp này tôi có chụp ảnh một chiếc tượng
được dựng lên giữa một đại lộ nối liền hai miền Tây
Đức và Đông Đức. Tuy trí nhớ của tôi đã ghi khắc sâu
đậm tượng này, vì ý nghĩa của nó, tôi vần thâu nó vào
ống kính. Tác giả là nhà điêu khắc người Đức, Gerhard Marks
(1889-1981). Tượng tạc hình một người chân bước đi, hai bàn
tay đưa lên miệng, úp vào nhau làm thành loa, dưới chân chạy
vòng quanh hàng chữ <em>"Durch die Welt ich gehe und rufe: Friede Friede
Friede"</em> (Trên những nẻo đường chạy khắp hoàn vũ tôi
cất bước đi và hô lên: Hòa bình Hòa bình Hòa bình). Tôi
đứng sát gần tượng, rồi lùi xa, để chụp. Aủnh đầu rõ
đủ nét, từ tay úp, miệng mở cho đến chân đi. Ảnh sau
tượng nhỏ dần cho đến khi tượng chỉ còn là một bóng đen
trên con đường lớn. Nhìn những bức ảnh tôi chụp, tôi liên
tưởng đến những người đang kêu gào đòi hòa bình, dân chủ
nơi chính quyền cộng sản Việt Nam. Đã trên mười năm rôi mà
ấn tượng này vẫn còn nguyên vẹn trong đầu tôi.

Cậu bé đầu những năm 40 tại một vùng quê ở miền Trung đã
tiếp thu bài học mở lòng rằng « chiến tranh là hết loạn
lạc », nếu trước đó một thập niên đã đủ lớn khôn để
hiểu việc người lớn và lại có may mắn được tiếp xúc
với ỡ văn minh , thì nó đã có thể nghe Albert Einstein và
Sigmund Freud đối thoại về chiến tranh và hòa bình. Hoặc là
trước đó 30 năm, một cậu bé khác Ố sau này thành thánh tổ
của những người cộng sản Việt Nam - đặt chân được vào
đất của ỡ văn minh ữ nhưng không bị lạc lối vào ỡ con
đường cứu nước do Lênin vạch ra thì có thể dân tộc Viêt
Nam đã không phải phung phí quá sức xương máu suốt hơn nửa
thế kỷ.

Đầu thiên niên kỷ mới, tuổi tuổi đời của cậu bé năm
xưa ở Hà Tĩnh mơ ước hòa bình nay đã tăng lên bảy lần.
Trong cơn lốc của thời đại, cậu bé này đã cất bước
phiêu lưu, từng qua không biết bao nhiêu nhịp cầu « đứt
ruột » (đoạn trường ai có qua cầu mới hay). Giấc mộng
đầu tuy còn tươi thắm mà lòng tin đã hao mòn với thời gian.
Bài học vỡ lòng « hòa bình là hết loạn lạc » đã được
bổ sung và trở thành « muốn có hòa bình hãy hiểu chiến
tranh »./.

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/5465), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét