Nguyễn Trung - Định vị Việt Nam trên đường phát triển hiện nay (Phần I)

<strong><center>Việt Nam trong thế giới của thập kỷ thứ hai
thế kỷ 21</center></strong>

<em>(Như tên gọi của nó, bài viết này chỉ tập trung nêu lên
những vấn đề chính Việt Nam sẽ phải đối mặt, phải giải
quyết trong thập kỷ thứ hai của thế kỷ này. Với suy nghĩ
cho rằng làm rõ được những vấn đề đặt ra là việc phải
làm trước khi suy nghĩ về các giải pháp. Vì vậy bài viết
này không đề cập tới, mà xin dành việc bàn về các giải
pháp cho các dịp khác. Với tất cả tinh thần trách nhiệm của
mình, người viết bài này đưa ra cách nhìn riêng về một số
vấn đề, để ai quan tâm thì tham khảo. Hiểu biết và điều
kiện làm việc rất giới hạn, nên những ý kiến trong bài
chắc chắn có nhiều thiếu sót, mong được bổ khuyết.)</em>

<h2>Vấn đề đặt ra</h2>

Việt Nam, kể từ 1986, sau một phần tư thế kỷ thực hiện
sự thay đổi căn bản mang tên là đổi mới, đã kết thúc
thời kỳ phát triển theo chiều rộng với nhiều thành tựu to
lớn có tính bước ngoặt, thay đổi bộ mặt đất nước và
được thế giới ghi nhận. Cần nhận định dứt khoát như
vậy để rỡ bỏ mọi rào cản, tiếp tục đẩy mạnh công
cuộc đổi mới. Cần nhận định dứt khoát như vậy trước
khi tìm hiểu những vấn đề đặt ra cho Việt Nam phía trước
trên con đường phát triển của mình.

Mặt khác cũng phải tỉnh táo nhận thấy, so ta với chính ta
trước kia, những thành tựu đạt được trong 25 năm qua là
rất to lớn; nhưng nếu so với chặng đường 25 năm đầu tiên
trên con đường trở thành NIC (nước mới công nghiệp hóa)
của Hàn Quốc, Đài Loan.., nước ta phát triển như thế là
chậm, so với những thách thức hiện tại và phía trước
nước ta phải đối mặt lại càng chậm. Nên có cái nhìn
nhiều chiều như vậy để định liệu công việc của mình, và
nhờ đó có thể "đỡ" rơi vào cái bệnh "mẹ hát con khen
hay"!

Việt Nam bước vào thập kỷ 2020 đúng vào lúc kinh tế thế
giới – trước hết là những nền kinh tế lớn mà đầu tầu
là kinh tế Mỹ - đang tìm cách ra khỏi cuộc khủng hoảng mang
tính hệ thống hiện nay để tìm đường chuyển sang một thời
kỳ phát triển mới. Trong khi đó Trung Quốc đang dấn bước
vào thập kỷ 2020 với mọi nỗ lực quyết liệt nhất để đi
nhanh hơn nữa trên con đường trở thành siêu cường vào giữa
thế kỷ này; giới nghiên cứu trên thế giới hầu như chia sẻ
nhận định chung: Thập kỷ 2010 đánh dấu bước ngoặt mang
tính thời đại của Trung Quốc trên con đường đi tới siêu
cường, thập kỷ 2020 hiện tượng Trung Quốc sẽ còn nóng
bỏng hơn nữa trên trường quốc tế .

Như vậy, thập kỷ 2020 đến với Việt Nam với ba đặc điểm:

(1) <em>thế giới đang tìm đường ra khỏi cuộc khủng hoảng
hiện nay, trên thực tế là đang phải tìm đường chuyển sang
một thời kỳ phát triển mới khác trước, </em>

(2) <em>hiện tượng Trung Quốc trên con đường trở thành siêu
cường ngày càng trở nên nóng bỏng trên trường quốc tế -
nhất là tại khu vực, và </em>

(3) <em>Việt Nam vừa phải thích nghi với bối cảnh thế giới
mới rất quyết liệt so với trước, đồng thời vừa phải
tự mình tìm đường chuyển sang một giai đoạn phát triển cao
hơn để có thể đứng vững trong tình hình mới.</em>

3 đặc điểm của thập kỷ 2020 vừa trình bầy trên đặt ra
cho Việt Nam nhiều thách thức mới, tới mức có thể nói:

Kể từ khi hoàn thành sự nghiệp giải phóng và thống nhất
đất nước ngày 30 Tháng Tư năm 1975, do đòi hỏi trong nước
và bối cảnh quốc tế mới, chưa bao giờ độc lập chủ
quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và tương lai phát triển
của đất nước phải đối phó với nhiều thử thách nguy
hiểm và quyết liệt như ngày nay. Cụ thể là con đường phát
triển của đất nước ta đang đặt ra nhiều đòi hỏi gắt
gao, đồng thời cục diện quốc tế và khu vực đang đi vào
một bước ngoặt đặt nước ta trước nhiều thách thức mới.
Tất cả tạo nên sức ép căng thẳng bên ngoài và bên trong,
đòi hỏi cả nước phải dấn lên đối mặt.

Chỉ cần nhìn vào bức tranh thế giới, bản đồ địa chính
trị hiện thời của khu vực nước ta với một Trung Quốc
đầy tham vọng, và nhìn vào các vấn đề kinh tế, chính trị,
xã hội, vào các vấn đề an ninh quốc phòng, vào những đòi
hỏi của phát triển và cạnh tranh.., sẽ thấy rõ những điều
vừa trình bầy. Tính chất quyết liệt của chặng đường
nước ta phải đi trong thập kỷ 2011-2020 là: Làm chủ được
tình hình này sẽ tạo ra thời cơ lớn cho tương lai của đất
nước, thất bại trong xử lý tình hình này, đất nước đi
vào con đường đầy hiểm họa.

<div class="special_quote"> "Cách đây đúng 151 năm, năm 1858, thực
dân Bồ Đào Nha và thực dân Pháp nã súng đánh thành Đà
Nẵng, dẫn đến 80 năm mất nước, dân tộc ta phải chịu ách
nô lệ. Nguyên nhân chủ yếu không phải vì dân tộc ta và
triều Nguyễn hồi đó yêu nước kém ngày nay, chiến đâu kém
dũng cảm hơn ngày nay! Muôn ngàn lần không phải như vậy! Song
mất nước có thể coi như là tất yếu, bởi lẽ nước ta so
với kẻ địch tụt hậu hẳn một giai đoạn phát triển. Ngày
nay, kinh tế nước ta nếu tiếp tục đi sâu vào cơ cấu các
sản phẩm thượng nguồn như đang làm bô-xít, sớm muộn sẽ
rơi vào nguy cơ thành bãi thải công nghiêp. Đồng thời nước
ta đang phải đối phó với 3 nguy cơ khác nữa; đó là: sự o
ép từ bên ngoài, sự xâm lăng về văn hóa, sự tàn phá của
môi trường tự nhiên do không được bảo vệ thỏa đáng. Cả
4 nguy cơ này có thể dấn nước ta vào một tình trạng tụt
hậu nguy hiểm, đến lúc nào đó có thể sẽ tạo ra cho nước
ta một sự nô dịch mới – sự nô dịch của nghèo nàn và
lạc hậu, của lệ thuộc, sự nô dịch không có chủ nghĩa
thực dân. Đừng để cho việc khai thác bô-xít góp phần làm
tăng thêm những nguy cơ này."

Nguyễn Trung, tham luận tại hội thảo 09-4-2009 về bô-xít Tây
Nguyên, do Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải chủ trì.</div>

Dưới đây xin trình bầy một số vấn đề chính có liên quan.

<h2>I. Những nét mới nổi bật trong bối cảnh quốc tế liên
quan mật thiết đến nước ta (trong phạm vi bài này không bàn
rộng ra những vấn đề khác)</h2>

Cục diện thế giới đang có thay đổi lớn cả về kinh tế và
chính trị, không náo nhiệt như khi chiến tranh lạnh kết thúc,
song hầu như tác động sâu sắc hơn nhiều đến mọi quốc gia.
Thậm chí tại nhiều nước – kể cả Mỹ - cuộc khủng hoảng
kinh tế thế giới hiện nay tác động trực tiếp đến từng
gia đình.

Cuộc đại khủng khoảng kinh tế thế giới đang diễn ra là vô
tiền khoáng hậu. Sau một năm ròng rã (09-2008 tới 09-2009) đánh
vật với cuộc khủng hoảng này, các nền kinh tế lớn đã
phải bỏ ra tổng cộng ước khoảng trên 10 nghìn tỷ USD
(tương đương với 2/3 GDP của cả nước Mỹ và với 1/6 GDP
toàn thế giới), đồng thời phải tiến hành nhiều liệu pháp
đau đớn mang tính điều chỉnh vỹ mô và hệ thống để cứu
chữa. Hiện nay cuộc khủng hoảng này được xem là đã chạm
đáy; nhưng lối ra có lẽ sẽ phải mất nhiều năm, hiện vẫn
chưa xác định được; nguy cơ lại xảy ra khủng hoảng mới
ngấp nghé.

Chưa ai dám nói bao giờ và như thế nào kinh tế thế giới sẽ
phục hồi và lấy lại được sự phát triển năng động đã
có như trong một hai thập kỷ vừa qua. Tuy nhiên, có khá nhiều
người trong giới nghiên cứu chia sẻ ý kiến:

1. kinh tế thế giới hiện nay vừa phải khắc phục sự đổ
vỡ của nền kinh tế bong bong của hệ thống tài chính tiền
tệ thế giới, đồng thời về nhiều mặt đang phải đối phó
với một cuộc khủng hoảng thừa rất sâu sắc có những
thuộc tính cơ cấu , còn nhiều vấn đề nan giải chưa lường
hết được; một khi kinh tế thế giới ra khỏi cuộc khủng
hoảng này, có lẽ nó sẽ không thể giữ nguyên cấu trúc và
sự vận hành như trước nữa – nói cụ thể hơn: trong và sau
cuộc khủng hoảng này của kinh tế thế giới, các quốc gia
sẽ không thể giữ nguyên cách làm ăn như lâu nay (kể từ khi
chiến tranh lạnh kết thúc),

2. cơ cấu sản phẩm trong mỗi quốc gia sẽ dần dần có những
thay đổi lớn theo hướng quan tâm hơn nữa đến sự bền vững
của thị trường nội địa mỗi nước và của môi trường,
nghĩa là sẽ xuất hiện những điều chỉnh vĩ mô.

3. hệ thống tài chính tiền tệ thế giới đang có những xáo
trộn lớn, buộc phải cải tổ cơ bản để hạn chế những
rủi ro - đặc biệt là trên 2 vấn đề: (1)sự suy yếu ngày
càng nhanh chóng của đồng USD và (2)vai trò đang nổi lên đầy
tính lũng đoạn của đồng Nhân dân tệ (Trung Quốc);

4. phải tăng cường hơn nữa vai trò điều tiết của nhà
nước để hỗ trợ "bàn tay vô hình" của thị trường;
khung khổ WTO tuy vẫn được duy trì, nhưng chắc chắn sẽ có
nhiều cọ sát mới gay gắt hơn,

5. phải sớm có các chính sách và biện pháp thân thiện hơn
với môi trường tự nhiên để giảm thiểu các đại họa,
tại nhiều nước đã phải hướng mạnh tới nền kinh tế có
hàm lượng carbon thấp...

6. phải thay đổi nhiều điều quan trọng trong tư duy kinh tế;
một số học giả nổi tiếng như Krugman, Stiglitz, Fukuyama,
thượng nghị sỹ Max Baucus... cho là kinh tế học hiện đại có
nhiều điểm lỗi thời.

6 điểm nêu trên cho thấy kinh tế thế giới hiện nay đi vào
thời kỳ khủng hoảng sâu sắc mang tính hệ thống với những
dấu hiệu chuyển sang một thời kỳ phát triển khác.

Trong khi đó cục diện quốc tế có hai hiện tượng nổi bật
nhất kết thúc thời kỳ hậu chiến tranh lạnh:

(a) sự suy yếu nhanh chóng của siêu cường Mỹ, và

(b) vai trò ngày càng nổi lên của các cường quốc khác –
trước hết là Trung Quốc, rồi đến Nga, Ấn Độ.

<center><strong>* * *</strong></center>

Về Mỹ: Chiến tranh Iraq và chiến tranh chống khủng bố -
trước hết là chống Al-Qeada - Taliban – không đem lại kết
quả như Mỹ đề ra, thậm chí chưa thấy ánh sáng cuối
đường hầm, cùng với tình trạng từ năm 2008 Mỹ lâm vào
khủng hoảng kinh tế nặng nề nhất trong lịch sử quốc gia
này, đã dẫn tới Mỹ phải điều chỉnh căn bản chiến lược
toàn cầu của mình. Mức độ điều chỉnh gay cấn đến nỗi
Singapore cho rằng Mỹ đang tạo ra khoảng trống cho Trung Quốc
hoành hành ở châu Á.

Để hiểu rõ thực trạng kinh tế Mỹ trong khủng hoảng hiện
nay, xin trích dẫn phân tích sau đây của Francis Fukuyama: "
...Chỉ riêng từ năm 2001 đến năm 2008, (trước đó không tính)
hơn 5 nghìn tỷ USD tiền tiết kiệm của nước ngoài đã đổ
vào nền kinh tế giầu nhất thế giới – nước Mỹ, thúc
đẩy một cao trào đi vay và kích thích quá mạnh chi tiêu của
các hộ gia đình cũng như các tập đoàn. Mức độ nợ liên
tục gia tăng và ở mức rất cao: khi xảy ra suy thoái đầu
thập kỷ 1980 tổng nợ tư nhân (hộ gia đình và các tập
đoàn, công ty) mới chỉ là 123% GDP, nhưng đã vọt lên 290% GDP
năm 2008. Trong khoảng thời gian này, riêng nợ của các hộ gia
đình là 48% GDP đầu thập kỷ 1980 đã vọt lên tới 100% GDP
vào năm 2008. Vì vậy mọi cố gắng của Quỹ dự trữ Liên bang
(FED) tung tiền ra để tăng thêm khả năng thanh toán của nước
Mỹ chẳng còn mấy hiệu quả. Các hộ gia đình và các tập
đoàn lâm vào tình trạng suy sụp kéo dài hơn các thời kỳ suy
thoái trước. Người Mỹ bắt đầu phải học để trở thành
người tiết kiệm, nhất thiết phải như vậy. Nhưng việc
tỉnh táo quay trở lại với nghịch lý nổi tiếng của Keynes
về sự tằn tiện lại gây ra cho nước Mỹ bệnh thiếu
máu!.." – xem trong: <a
href="http://www.the-american-interest.com/contd/">Thinking About the Future
of American Capitalism</a>, Francis Fukuyama

Sự điều chỉnh này của Mỹ thực chất là sự thoái lui một
bước quan trọng có tính bắt buộc trong chiến lược toàn cầu
so với thời George W. Bush, nguyên nhân chủ yếu là lực bất
tòng tâm. Mỹ hiện nay vẫn còn là siêu cường số 1, song vai
trò và ảnh hưởng của nó giảm sút đáng kể so với thời
kỳ hậu chiến tranh lạnh.

Hiện tượng Obama thắng cử không đơn thuần chỉ là một
thắng lợi độc nhất vô nhị cho đến nay của thể chế dân
chủ Mỹ và trên thế giới. Sâu xa hơn thế, hiện tượng Obama
nói lên tầm vóc điều chỉnh chiến lược chưa từng có kể
từ sau chiến tranh thế giới II mà Mỹ phải chấp nhận.

Điều đáng chú ý là so với tất cả mọi thời kỳ khác kể
từ chiến tranh thế giới II kết thúc, siêu cường Mỹ trong
thời kỳ hậu chiến tranh lạnh chiếm vị thế quốc tế cao
nhất trong toàn bộ lịch sử của nó. Song chính trong thế
thượng phong này của thời kỳ hậu chiến tranh lạnh, siêu
cường Mỹ đã chịu nhiều thất bại và tổn thất nhất, đã
sa sút nhanh nhất so với tất cả các thời kỳ trước đó kể
từ khi kết thúc chiến tranh thế giới II. Nguyên nhân chủ yếu
là "tham vọng và gánh nặng đế chế" quá lớn cùng với
sự đổ vỡ thảm hại của chủ nghĩa tân tự do trong kinh tế.
Sự thoái lui này diễn ra trong bối cảnh Trung Quốc phát triển
"rất nóng" trên con đường trở thành siêu cường, vì thế
trên thế giới đang manh nha những biến động chao đảo của
quá trình hình thành một trật tự mới, nhiều quốc gia sẽ
chịu tác động – trong đó có nước ta. Tình hình quyết liệt
tới mức chưa bao giờ sách báo và các phương tiện truyền
thông Mỹ lại đầy rẫy như hiện nay các nhận định, đánh
giá nói về Hiện tượng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung
Quốc trở thành chủ nghĩa tư bản toàn trị đặc sắc Khổng
giáo, về Sự giới hạn của quyền lực Mỹ, về Chiến lược
toàn cầu của Washington đang hủy hoại nước Mỹ, về Triển
vọng chẳng lấy gì làm sáng sủa của Obamanomics, về Sự cáo
chung của đế chế Mỹ, vân vân, - và về Thế giới trong thập
kỷ tới này nghiêng về phương Đông!

Hiện tượng Obama cũng đồng thời cho thấy Mỹ quyết tâm thay
đổi và có lẽ có thể thay đổi được – chính điều này
cho phép Mỹ sẽ còn tiếp tục duy trì được – dù không còn
mạnh như trước - vị trí siêu cường số 1 trên bàn cờ của
một thế giới đang tiến vào cục diện một siêu đa cường.
Sự điều chỉnh của Obama trong kinh tế thông qua các luật pháp
mới và gói kích thích (stimulus) thực chất là một cuộc xắp
xếp lại và điều chỉnh lại nền kinh tế. Rất nhiều khó
khăn còn ở phía trước, và tiếng nói trong nước Mỹ chỉ
trích cái gọi là Obamanomics không phải là ít. Đơn giản là
cuộc cải cách nào cũng đau đớn; bởi vì trong phạm vi nguồn
lực có hạn xóa sổ ai, cứu ai đều vấp phải cọ sát gay
gắt. Hiện tượng Obama đánh dấu một thời kỳ thay đổi sâu
sắc đang diễn ra sôi động ở tất cả các nước phát triển
trong thế giới phương Tây – mới đây nhất là sự kiện ngày
30-08-2009 thủ tướng Yukio Hatoyama đảng Dân Chủ ở Nhật
thắng cử và lên cầm quyền, chấm dứt thời kỳ đảng Dân
chủ Tự do ngự trị chính quyền Nhật hơn nửa thế kỷ!

Nét nổi bật của điều chỉnh chiến lược toàn cầu của
nước Mỹ Obama là: Mỹ quyết rút khỏi Iraq để tập trung vào
các vấn đề như mặt trận chống Al-Qaeda – Taliban tại
Afghanistan, vấn đề vũ khí hạt nhân của Iran, vấn đề vũ
khí hạt nhân của Bắc Triều Tiên... Ngày 17-9-2009 Mỹ đi thêm
một nước cờ chiến lược nữa là quyết định rút bỏ kế
hoạch lá chắn tên lửa Châu Âu để tăng thêm hòa hoãn với
Nga (đã được Nga hưởng ứng) và tập trung cố gắng tìm
kiếm các khả năng xử lý vấn đề vũ khí hạt nhân của Iran.
Bước đi này còn nhằm phân hóa bớt các thế lực gây sức ép
khác đối với Mỹ. Quan hệ Mỹ - Nga ấm hẳn lên cho thấy
tầm vóc của quyết định 17-09-2009. Khả năng nâng quan hệ
với Nga để tranh thủ thêm điều kiện đối phó với Iran đang
được Mỹ tính đến. Những cải cách trong đối nội của
nước Mỹ đang diễn ra càng làm rõ những thay đổi trong chiến
lược đối ngoại của nước này.

Có thể nói cải cách, thay đổi theo cái mới là việc diễn ra
thường xuyên và liên tục năm này qua năm khác ở các nước
phương Tây. Tuy nhiên những thay đổi qua cuộc khủng hoảng này
thực sự là một đợt cải cách sâu rộng. Đặc biệt tại
Mỹ, công việc điều chỉnh vỹ mô hiện nay có lẽ quyết
liệt hơn các cường quốc phương Tây khác, được bắt đầu
từ cải cách giáo dục, đổi mới việc đào tạo nguồn nhân
lực, đặt lại cách nhìn về "outsourcing" (lấy nguồn từ
bên ngoài) và cơ cấu ngành nghề của nền kinh tế Mỹ trong
tình hình mới (nhất là trước tình hình sản phẩm Trung Quốc
ngày càng thôn tính thị trường Mỹ), cải cách mạnh mẽ các
thể chế về tài chính, bảo hiểm y tế, về điều hành kinh
tế, v.v... Nói chung là không thể phó thác cho "laissez faire"
với bất kỳ giá nào của "chủ nghĩa tân tự do" như đã
diễn ra trong mấy thập kỷ vừa qua. Việc Mỹ ngày 11-9-2009
quyết định áp mức thuế 35% (mức cũ là 4%) đối với lốp xe
hơi nhập từ Trung Quốc, không đơn thuần chỉ là một hành
động "trả miếng", mà còn liên quan mật thiết đến việc
xem lại chủ trương "outsourcing" (lấy nguồn lực từ bên
ngoài) hiện nay. Tóm lại, có thể nói: Nội dung cơ bản nhất
của điều chỉnh vỹ mô ở Mỹ hiện nay là chia tay với trạng
thái cực đoan vừa qua của chủ nghĩa tân tự do, hướng mạnh
hơn vào nền kinh tế carbon thấp, tăng cường vai trò kinh tế
trong thị trường nội địa. Vì những lẽ này, gọi đấy là
sự điều chỉnh mang tính hệ thống. Còn có thể nói một cách
khác: Đó còn là sự điều chỉnh có nhiều dân chủ hơn.

Từ tình hình trên, có thể thấy phát biểu của Tổng thống
Obama tại phiên họp Đại hội đồng Liên Hiệp quốc ngày
23-0-2009 <em> "...đã đến lúc thế giới chuyển sang một
hướng mới. Chúng ta phải dấn thân vào một thời đại
tiếp cận mới dựa trên quyền lợi chung và cùng tôn
trọng nhau..."</em> không đơn thuần là một lời nói ngoại giao,
mà hàm ý rõ ràng kêu gọi cộng đồng các quốc gia trên thế
giới nỗ lực cho một cách sống chung mới. Phát biểu này
đánh đi tín hiệu khá rõ: Chính Mỹ cũng đang tìm cách ứng
xử mới trong thế giới ngày nay.

Liên quan đến Đông Nam Á, đặc biệt là Biển Đông, nhiều
lần các nhà quân sự Mỹ tuyên bố (ngay từ cuối thời George
W. Bush): Mỹ đứng ngoài việc tranh chấp biển đảo ở khu vực
này, miễn là giữ được thông thương tự do trên eo biển
Malacca, các quyền lợi của Mỹ ở khu vực này được bảo
đảm, và không được đụng chạm đến Đài Loan. Có thể
hiểu đây sẽ là ranh giới cuối cùng Mỹ sẽ có thể chấp
nhận một khi tình hình đòi hỏi bắt buộc phải như vậy.

Mặt khác Mỹ khuyến khích giải quyết những đề tranh chấp
trên Biển Đông trên diễn đàn đa phương giữa các nước liên
quan ở Đông Nam Á. Trong cuộc nghe điều trần của về Biển
Đông tháng 7-2009, Thượng viện Mỹ đã bầy tỏ mối quan ngại
sâu sắc của Mỹ về tình hình Trung Quốc ngày càng lấn át
về kinh tế và quân sự ở khu vực này. Cuộc điều trần này
cho thấy Mỹ chủ trương phải có thái độ chủ động hơn
đối với các nước trong khu vực Biển Đông, <em>"...từ quan
hệ về chính sách đến đối thoại về chiến lược, lên tới
tầm mức hoạt động quân sự, bằng cách gia tăng khả năng
quân sự cho các nước đối tác. Trong khi đó Hoa Kỳ cũng tăng
cường hoạt động ngoại giao quân sự với Trung Quốc, gia tăng
đối thoại để tránh nguy cơ tính toán sai lầm gây xung đột
bất ngờ".</em>

Trong khi đó, tại cuộc họp ASEAN - Mỹ 24-07-2009 ngoại trưởng
H. Clinton khẳng định Mỹ tiếp tục tăng cường quan hệ với
ASEAN.

Cũng không thể bỏ qua một thực tế khác là trong quan hệ song
phương Mỹ - Trung hiện nay, phía Mỹ cũng chủ động đẩy
mạnh xu thế hòa hoãn.

Đối thoại chiến lược và kinh tế Mỹ - Trung (khai mạc phiên
đầu tiên tại Washington 27-09-2009) đã thực sự trở thành
diễn đàn G2 mà nhiều đồng minh của Mỹ không muốn. Tại
diễn đàn này Obama nói <em>"Mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và
Trung Quốc sẽ định hình cho thế kỷ 21… Đây là trách nhiệm
mà hai bên phải gánh vác."</em> Trong điện chúc mừng phiên
họp đầu tiên của diễn đàn này, Hồ Cẩm Đào viết:
<em>"Cả Trung Quốc và Mỹ gánh vác trên vai trách nhiệm quan
trọng về những vấn đề trọng đại liên quan đến hòa bình
và sự phát triển của nhân loại."</em>.

Chắc chắn rồi đây lúc hòa hoãn, lúc căng thẳng, song phía
Mỹ sẽ vẫn có các bước đi tiếp mở rộng quan hệ với Trung
Quốc trên mọi lĩnh vực, bên nào cũng có thừa khôn ngoan giành
cái lợi về cho mình.

Như vậy có thể thấy chính sách đa dạng của Mỹ nói trên
đối với khu vực Biển Đông sẽ còn tùy thuộc đáng kể vào
chính thái độ các nước ASEAN (đối với Mỹ và Trung Quốc),
đồng thời chịu sự chi phối sâu sắc của quan hệ Mỹ -
Trung.

<center><strong>* * *</strong></center>

Về Trung Quốc: Sự lớn mạnh của Trung quốc với tính cách là
"công xưởng của thế giới" đang thúc đẩy khát vọng của
Trung Quốc đi nhanh trên con đường trở thành siêu cường, dự
kiến khoảng năm 2050, mặc dù kinh tế và nội trị Trung Quốc
còn rất nhiều vấn đề nhạy cảm, thậm chí rất nhạy cảm.

Sẽ là phiến diện trong đánh giá Trung Quốc nếu bỏ qua những
vấn đề nhạy cảm luôn luôn xuất hiện trong kinh tế và trong
nội trị của quốc gia này. Báo chí nước ngoài nhận xét: Cái
yếu nhất của Trung quốc là Trung Quốc là nước của Đảng
Cộng Sản Trung Quốc (Willi Lam), chính vì lẽ này Trung Quốc
không thể trở thành siêu cường với nghĩa lãnh đạo thế
giới. Thậm chí cần thấy rõ trong quá trình phát triển của
nó, quốc gia này luôn luôn đứng trước không ít những vấn
đề nan giải về phân hóa và bất công xã hội, về khoảng
cách giầu nghèo quá lớn, nguy cơ phân rã, sự mong manh của hệ
thống ngân hàng tài chính tiền tệ, những thách thức thường
trực đối với hệ thống chính trị... Thực tế này giải
thích tại sao Trung Quốc sẵn sàng thực hiện các biện pháp
cực đoan không tưởng tượng nổi và chưa từng có như "cách
mạng văn hóa", "sự kiện Thiên An Môn", chính sách đối
với Tân Cương và Tây Tạng... Nhạy cảm lớn nhất đối với
hệ thống chính trị của Trung Quốc là vấn đề dân chủ.
Điều cần chú ý: Trung Quốc là một thế giới cho chính nó,
nghĩa là trong tình hình cấp thiết, Trung Quốc có thể huy
động mọi khả năng và lực lượng có thể, để chế ngự và
kiểm soát tình hình nội tại; Trung Quốc có thể làm tất cả
mọi việc rất cực đoan với cách nghĩ "mục tiêu biện minh
cho mọi biện pháp", chấp nhận trả giá ghê gớm để giành
được mục tiêu Trung Quốc muốn... Lịch sử cho thấy Trung
Quốc đã làm được một số việc cực đoan và đẫm máu như
vậy. Lịch sử còn chứng kiến, khi nội bộ có khó khăn hoặc
cần giải quyết một yêu cầu chính trị nào đó, Trung Quốc
thường hướng "ngòi nổ" ra bên ngoài, đó là lúc tiến
hành cách mạng văn hoá thì giương cao ngọn cờ chống đế
quốc "gió Đông thổi bạt gió Tây"; khi tiến hành cuộc
chiến tranh biên giới chống Việt Nam tháng 2-1979 thì gương cao
ngọn cờ chống tiểu bá và dậy cho Việt Nam bài học…

Với nguồn tài nguyên Trung Quốc đem về bằng mọi cách từ
khắp nơi trên thế giới, trước hết là từ châu Phi và châu
Mỹ Latinh, Úc.., Trung Quốc hiện nay đứng đầu thế giới trong
sản xuất nhiều nguyên liệu cơ bản như sắt, thép, đồng,
nhôm, ciment..; là cường quốc thứ nhất trong xuất khẩu tầu
biển, là cường quốc thứ hai sau Mỹ trong xuất khẩu ô-tô,
trong vòng một vài năm tới GDP kinh tế Trung Quốc dự kiến sẽ
vượt Nhật ...

Báo chí thế giới thừa nhận Trung Quốc thành công vượt xa
chủ nghĩa thực dân mới của phương Tây tại châu Phi, Mỹ
Latinh và một số nơi khác trên thế giới (trong đó có Đông
Nam Á...). Những khoản viện trợ lớn của chính phủ Trung
Quốc dành cho các quốc gia này với danh nghĩa "không can thiệp
vào công việc nội bộ của các nước nhận viện trợ". Trên
thực tế là Trung Quốc quan hệ trực tiếp và ủng hộ giới
thống trị ở những quốc gia này, bất luận bản chất những
chế độ này như thế nào. Phương thức hợp tác song phương
như vậy của Trung Quốc tại những quốc gia này đang mang lại
nhiều kết quả lớn cho Trung Quốc (tuy nhiên gần đây một số
nước châu Phi đã phản ứng chống lại sự tham lam thái quá
của Trung Quốc). Hơn thế nữa, hiện tượng Trung Quốc trở
thành đối tác kinh tế ngày càng quan trọng với Iran, Iraq, với
các nước và lực lượng "cánh tả" (chống Mỹ) ở châu
Mỹ Latinh – nơi được coi là sân sau của Mỹ - đang làm cho
Mỹ và phương Tây lo lắng.

Bàn về sự thành công của Trung Quốc, có thể tham khảo các
bài:

- China mixes rice and neo-colonialism
http://paguntaka.org/2006/10/07/china-mixes-rice-and-neo-colonialism/

- China and Neo-Colonialism in Africa: A Warning from South Africa

- Larry Catá Backer, "The Problems of Being a great Power: China and
Neo-Colonialism in Africa, Law at the End of the Day, Nov. 22, 2006.

- "Mbecki Warns on China-Africa Ties, BBC News, Dec. 14, 2006.

- Andrew Bast: "China Safari: On the trail of Beijing's Ex[pansion in
Africa – by Serge Michel and Michel Beuret" – bài bình đăng trong
World Politic Review ngày 18-09-2009 của hai tác giả người Pháp
này, trêm trang:
http://www.washingtonpost.com/wp-dyn/content/article/2009]08/14/AR2990081401094.pf.html

- Bài của Andrew Bast bình về cuốn sách "China Safari..." đã
được dịch ra tiếng Việt dưới tiêu đề: "Chủ nghĩa thực
dân Trung Quốc vận hành không cần tư tưởng", đăng trên
trang: http://bauxitevietnam.info/c/9949.html

- "East Timor hit over 'dirty' power plants"
http://www.theage.com.au/world/east-timor-hit-over-dirty-power-plants-20090403-9qqc.html

Và nhiều bài khác về chủ đề này.

Những bài nói trên toát lên những ý chính sau đây:

Với danh nghĩa "không can thiệp vào công việc nội bộ",
Trung Quốc không đặt ra những đòi hỏi về dân chủ hay nhân
quyền, hay những đòi hỏi về chấm dứt chiến tranh sắc tộc,
nội chiến, về bảo vệ môi trường... đối với các nước
nhận viện trợ ở châu Phi, châu Mỹ Latinh... (đặc biệt là
đối với Sudan trong vấn đề tàn sát sắc tộc ở Dafur, và
đối với nội chiến ở Congo...); Trung Quốc cũng không quan tâm
đến những quy định cấm đoán có liên quan của Liên Hiệp
Quốc. Trong khi đó các nước phương Tây coi những đòi hỏi
nêu trên là chuẩn mực cho hợp tác của họ với những quốc
gia này.

Nói khái quát: Viện trợ chính phủ, xóa nhiều khoản nợ lớn,
quà biếu, xuất khẩu nguồn nhân lực dồi dào, cùng với sự
hậu thuẫn mãnh mẽ từ phía chính phủ Trung Quốc cho các công
ty của họ hoạt động theo phương thức đổi các công trình
kết cấu hạ tầng lấy tài nguyên và đất đai... và nhiều
phương thức khác, đã giúp cho Trung Quốc thu về được những
nguồn nguyên liệu to lớn và làm chủ nhiều khu mỏ quan trọng
tại những nơi này. Nạn tham nhũng và quan liêu trầm trọng
của nhiều quốc gia nhận viện trợ cũng tự nó góp phần
đáng kể vào sự thành công của Trung Quốc. Các nước nhận
viện trợ này phát triển ra sao, đời sống của nhân dân
những nước này có được cải thiện gì không... không phải
là những vấn đề Trung Quốc quan tâm. Tại một số nơi đã
xảy ra bất mãn và chống đối của nhân dân với chính quyền
tại chỗ, đụng độ giữa lao động Trung Quốc và dân địa
phương - có khi rất nghiêm trọng như ở Algérie...

Với phương thức "Ít ý thức hệ thôi, trước hết vì lợi
nhuận!" chủ nghĩa thực dân của Trung Quốc đang thành công
vượt hẳn Anh và Mỹ trước đây (Serge Michel và Michel Beuret)...

Một sự kiện đang gây nhiều sự chú ý trong ngoại giao là
trong khi Đại sự quán Trung Quốc ở Dili (thủ đô Đông Timor)
nỗ lực tuyên truyền trong dư luận quốc tế về quan điểm
"thắng – thắng" thể hiện qua sự viện trợ hào phóng
của Trung Quốc cho Đông Timor và sự hợp tác tốt đẹp giữa
hai quốc gia này, thì Tòa án Hiến pháp Đông Timor vừa qua đã
bác bỏ một dự án nhiệt điện do Trung Quốc làm chủ đầu
tư mà thủ tướng Đông Timor đã phê duyệt, lý do: đắt, công
nghệ quá lạc hậu, gần như mua sắt vụn, gây ô nhiễm môi
trường nặng nề. Hiện nay, nhiều tổ chức phi chính phủ ở
Đông Timor đang lên án nhiều dự án khác do Trung Quốc đầu tư
– trong đó có nhà máy điện hạt nhân – không thông qua đấu
thầu rõ ràng... Báo chí nói rõ mọi nỗ lực của Trung Quốc
ở Đông Timor là nhắm vào các mỏ dầu phong phú của quốc gia
này.

Vân Vân...

Liên quan đến Việt Nam nên tìm đọc toàn bộ quá trình phản
biện của cả nước và các trí thức người Việt ở nước
ngoài về việc Trung Quốc khai thác bô-xít ở Tây Nguyên.

Với nguồn dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới (2100 tỷ
USD) Trung Quốc đang tìm cách thay đổi hệ thống tiền tệ thế
giới. Trước mắt Trung Quốc chưa thể "hạ bệ" đồng USD
(hiện nay vẫn còn chiếm tới 60% tổng giao dịch tiền tệ và
thương mại trên thế giới). Song với tư cách là chủ nợ lớn
nhất của Mỹ, đang nắm giữ khoảng 60% trái phiếu và những
giấy tờ có giá khác của Mỹ , Trung Quốc đòi hỏi đồng
nhân dân tệ cũng phải được coi là phương tiện thanh toán
quốc tế. Đòi hỏi này bị bác bỏ tại cuộc họp G20 (London
02-04-2009) với lý do đồng nhân dân tệ chưa phải là đồng
tiền chuyển đổi tự do. Trung Quốc chuyển sang chiến thuật
mới là đòi nâng cao vai trò của Trung Quốc tham gia vào
"quyền rút vốn đặc biệt" (SDR – một đơn vị được coi
như là tiền của IMF) để làm yếu và tiến tới thay thế dần
đồng USD. Đồng thời Trung Quốc áp dụng các biện pháp đòi
các nước có quan hệ buôn bán với Trung Quốc trực tiếp dùng
đồng nhân dân tệ làm phương tiện thanh toán trong quan hệ song
phương, một số nước đã chấp thuận. Có thể nói đây là
một bước mới bổ sung quan trọng cho việc mở rộng quyền
lực và ảnh hưởng của Trung Quốc trên thế giới – đặc
biệt là quyền lực mềm.

Trong số hàng nghìn tập đoàn kinh tế của Trung Quốc đã có
nhiều tập đoàn lọt vào danh sách các nhóm TNCs top 100, TNCs top
50 của thế giới, trong đó phải kể đến tập đoàn dầu khí
PetroChina có số vốn vượt 1000 tỷ USD và trở thành TNC đứng
đầu thế giới về quy mô vốn.

Tình hình vừa trình bầy trên cho thấy chủ nghĩa xã hội đặc
sắc Trung Quốc ngày càng tự bộc lộ ra là chủ nghĩa tư bản
Trung Hoa thời nay trong hệ thống chính trị một Đảng. Đấy
chính là chủ nghĩa tư bản toàn trị với đặc trưng Khổng
giáo.

Thế giới, nhất là các nước láng giềng của Trung Quốc, ngày
càng lo ngại trước hiện tượng Trung Quốc cũng đang trên
đường trở thành siêu cường quân sự - đặc biệt là các
nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Bình luận trên nhật báo Giải phóng quân Nhân dân (Trung Quốc)
ngày 12-03-2009, Hoàng Thôn Luận viết:

<em>"...Quyền lợi quốc gia của Trung Quốc vượt xa ra ngoài
biên cương lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Trung Quốc, bao
gồm cả các vùng đại dương bao la nơi các tầu chở dầu của
Trung Quốc qua lại, cũng như không gian vũ trụ… Quyền lợi
quốc gia Trung Quốc mở rộng đến đâu, sứ mệnh của lực
lượng vũ trang của chúng ta (Trung Quốc) được mở rộng đến
đấy!.. Đứng trước nhiệm vụ lịch sử mới, lực lượng vũ
trang của chúng ta (Trung Quốc) không chỉ bảo vệ biên giới
lãnh thổ, mà còn phải bảo vệ biên giới quyền lợi quốc gia
của chúng ta." </em>

Ngân sách quốc phòng hàng năm của Trung Quốc hai thập kỷ nay
thường xuyên tăng 2 con số (từ 10 đến 17%/năm). Số liệu
thống kê chính thức của Trung Quốc cho biết chi tiêu quốc
phòng của nước này năm 2007 ước khoảng 70 tỷ USD. Song theo
đánh giá của Bộ Quốc phòng Mỹ, của RAND - cơ quan nghiên
cứu của Mỹ, và của RAW (Research and Analysis Wing) – cơ quan
nghiên cứu của Ấn Độ, thực chi cho ngân sách quốc phòng
của Trung Quốc năm 2007 ước khoảng 138 – 156 tỷ USD, đứng
vào hàng thứ 2 trên thế giới – nghĩa là ước khoảng 1/4 –
1/3 ngân sách quốc phòng của Mỹ, vượt Nga, gấp 5 lần của
nước Anh, và bỏ xa Ấn Độ... Ngày 21-09-2009 Bộ trưởng Quốc
phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt tuyên bố nước này có hầu
hết mọi hệ thống vũ khí hiện đại của các nước phương
Tây.

Trung Quốc đang trở thành cường quốc vũ trụ. Hiện nay Trung
Quốc đang đẩy mạnh xây dựng hải quân nước xanh (hoạt
động tầm đại dương với hàng không mẫu hạm đang mua của
Nga hoặc tự đóng lấy). Trong chuyến đi thăm Trung Quốc đầu
năm 2009 của đô đốc Mỹ Timothy Keating, phía Trung Quốc đặt
thẳng vấn đề để Trung Quốc quản lý Thái Bình Dương từ
đảo Hawaii về phía Tây, phía Mỹ sẽ quản lý Thái Bình Dương
từ Hawaii về phía Đông. Keating đã đáp lại: "No, Thanks!".
Riêng trên Biển Đông hải quân Trung Quốc giữ vị thế áp
đảo, với mục tiêu trước mắt là "cái lưỡi bò".

Trên nhiều phương diện, hiện tượng Trung quốc trên đường
trở thành siêu cường đang là vấn đề nóng bỏng và rất
phức tạp của cả thế giới. Giáo sư Thôi Lý Nhũ, chủ tịch
Viện Nghiên cứu quan hệ quốc tế đương đại (CICIR – Bắc
Kinh), một viện nghiên cứu chiến lược của Trung Quốc tầm
cỡ quốc tế, đầu năm nay phát biểu thẳng thắn trước giới
học giả nước ngoài: <em> "Mười năm qua Trung Quốc đã phát
triền từ một vị thế tương đối thấp lên một vị thế
tương đối mạnh, vì vậy những xung đột giữa Trung Quốc
với thế giới bên ngoài không đặc biệt quyết liệt lắm (not
particularly vehement). Tuy nhiên, trong vòng mười năm tới, Trung
Quốc sẽ đi tiếp từ vị thế tương đối mạnh hiện nay lên
một vị thế còn mạnh hơn nữa. Ảnh hưởng của Trung Quốc
đối với thế giới sẽ còn lớn hơn nữa – và nỗi lo của
thế giới về Trung Quốc cũng sẽ tăng theo..." </em>

Trên thế giới, kể cả Mỹ, không ai đặt vấn đề đối
đầu với Trung Quốc. Nhưng tất cả các quốc gia đều phải
cùng nhau hay riêng lẻ nỗ lực tìm cách ứng xử và đối xử
thích hợp nhất với hiện tượng Trung Quốc trong thế kỷ 21
này sao cho phù hợp với xu thế tiến bộ chung của loài
người. Đó còn là phương thức hữu hiệu nhất, khuyến khích
hay bắt buộc Trung Quốc cũng phải thích nghi với trào lưu chung
của thế giới.

(còn nữa)

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/5532), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét