nhìn tấm hình ông bị bịt miệng giữa phiên toà? Nguyễn Văn
Lý đã sống bất khuất trong tù và chỉ được tạm phóng
thích trong tình trạng sức khỏe nguy kịch, điều này lại càng
làm tăng thêm sự kính phục đối với ông. Vậy mà chỉ sau
một vài lời tuyên bố mới đây của ông đa số những người
tôi quen biết, ở Việt Nam cũng như tại hải ngoại, trước
đây từng ủng hộ Nguyễn Văn Lý rất nhiệt tình đã tỏ ra
thất vọng về ông; trong một vài trường hợp tôi có cảm
tưởng họ không chỉ thất vọng với Nguyễn Văn Lý mà còn
ngoảnh mặt luôn với Khối 8406 mà ông là linh hồn. Sự kiện
này chứng tỏ một điều: uy tín là điều khó có nhưng lại
dễ mất.
Nói chung người ta phê phán Nguyễn văn Lý đã nhận xét quá
hời hợt về tiến trình dân chủ hoá tại các nước trong
vùng, đã nói cuộc đấu tranh cho dân chủ chỉ có ý nghĩa và
chỉ có hy vọng nếu có một chủ thuyết hoàn chỉnh, một lãnh
tụ tài đức vẹn toàn và một tổ chức "<em>phải hội đủ
nhiều điều kiện lắm</em>". Chắc chắn đây là những điều
Nguyễn Văn Lý đã suy đi nghĩ lại nhiều lần trong tù. Trước
đây có lẽ ông cho rằng đấu tranh chính trị không phức tạp,
chỉ cần có tấm lòng và sự dũng cảm, không cần tư tưởng
chính trị, thành lập và lãnh đạo một tổ chức đấu tranh
chính trị cũng không khó. Ông liên tục đưa ra những tuyên
ngôn, tuyên cáo, thành lập trong vòng vài tháng ba tổ chức -
Đảng Thăng Tiến Việt Nam, Liên Minh Dân Chủ và Nhân Quyền,
Liên Đảng Lạc Hồng - với cùng một số người thân tín ít
ỏi và bắt đầu vận động quần chúng ngay từ khi chưa có
chuẩn bị nào.
Những thất vọng của các thân hữu nói trên đối với Nguyễn
Văn Lý đều đúng cả, tuy nhiên riêng tôi thì lúc này tôi lại
có cảm tình với ông hơn trước. Nguyễn Văn Lý đã "<em>giác
ngộ đấu tranh</em>". Dù chưa nhìn ra giải pháp, các vấn đề
Nguyễn Văn Lý nêu ra: tư tưởng chính trị (mà ông gọi là
chủ thuyết), tổ chức và lãnh đạo đều là những vấn đề
có thực và cho tới nay chưa được tiếp cận một cách nghiêm
chỉnh. Người ta vẫn vội vã vận động quần chúng đứng
dậy đấu tranh trong khi chưa mảy may chuẩn bị những điều
kiện tối cần thiết để có thể động viên quần chúng và
để lãnh đạo quần chúng trong trường hợp vạn nhất quần
chúng hưởng ứng. Hậu quả chỉ là những tranh đua gây tiếng
vang, rồi gây thất vọng. Manh động hơn là hành động. Nguyễn
Văn Lý, bằng những phát biểu mộc mạc đã góp phần cảnh
tỉnh đối lập dân chủ Việt Nam.
Chung quanh chủ đề đấu tranh chính trị - và vận động quần
chúng để giành thắng lợi - đã có rất nhiều thảo luận,
nhiều đến nỗi người ta dễ quên những điều cơ bản nhất,
những điều mà một người đấu tranh cho dân chủ không
được quyền quên hay không biết nếu muốn thực sự hành
động thay vì chỉ manh động. Hình như ít ai biết rằng đây
là những đề tài đã được nghiên cứu và đã có kết luận.
Nhiều tác giả rất nghiêm túc và có thẩm quyền thuộc các
đại học danh tiếng đã công bố nhiều công trình nghiên cứu
rất có giá trị. Điểm nổi bật của những nghiên cứu này
là các tác giả có thể có những ý kiến khác nhau trên tầm
quan trọng tương đối của các yếu tố của đấu tranh chính
trị nhưng họ đều kết luận giống nhau, điều này lại càng
làm tăng lên tính khả tín của những kết luận. Vả lại
những kết luận này đều được thực tại xã hội và lịch
sử kiểm chứng.
Những kết luận của họ là gì?
Trước hết là kết luận quan trọng nhất: nếu tranh thủ nhân
tâm cho cố gắng đổi mới xã hội, để thay đổi một chế
độ và một chính quyền không còn lý do tồn tại bằng một
chế độ và một chính quyền khác là điều lúc nào cũng có
thể làm và phải làm thì ngược lại động viên quần chúng
đứng dậy đấu tranh chỉ là giai đoạn cuối cùng của một
tiến trình tranh đấu kiên trì, vào lúc những mâu thuẫn giữa
chính quyền và xã hội đã chín muồi và những điều kiện cho
một cuộc cách mạng đã hội đủ.
Những mâu thuẫn đó tựu trung có ba loại. Có những mâu thuẫn
tâm lý do sự kiện đảng cầm quyền không do dân, vì dân mà
là dụng cụ áp đặt của một thành phần ưu đãi và thành
phần này có nếp sống và những quan tâm khác hẳn phần còn
lại của dân tộc; sự khác biệt trong lối sống và trong các
quan tâm đó dần dần tạo ra thế tách biệt kình địch. Có
những xung đột quyền lợi do sự kiện một thiểu số chiếm
đoạt hết những điạ vị thuận lợi và bóc lột hoặc ngăn
cản sự thăng tiến của đa số còn lại. Và cũng có những
nguyên nhân thuộc về căn cước xã hội. Người ta đấu tranh
vì căn cước bị xúc phạm, vì bị coi là thuộc loại công dân
hạng thứ, bị từ chối những quyền tự do và những địa
vị dành riêng cho một loại người. Tất cả những nguyên nhân
xung đột này chỉ đủ mạnh để làm nảy sinh ra ý chí đấu
tranh nếu những người bị thua thiệt cảm thấy ràng buộc
với nhau trong một thân phận chung. Các cá nhân riêng lẻ không
bao giờ là một sức mạnh.
Nhưng ngay cả như thế, nghĩa là mọi người thấy chế độ
không thể chấp nhận được và muốn thay đổi, cũng chỉ mới
là điều kiện đầu tiên trong bốn điều kiện cần và đủ
cho một cuộc cách mạng, hiểu theo nghĩa một thay đổi chế
độ. Điều kiện thứ hai là đảng hay tập đoàn cầm quyền,
vì mất lý tưởng chung hay vì bị ung thối, đã chia rẽ, phân
hoá và khả năng tự vệ đã yếu đi; điều kiện thứ ba là
đại đa số quần chúng đạt tới đồng thuận về một chế
độ mới và những mục tiêu quốc gia mới; điều kiện thứ
tư là có một tập hợp chính trị xuất hiện phù hợp với
nguyện ước của toàn dân làm điểm hội tụ cho những khát
vọng đổi mới.
Điều kiện thứ ba, đồng thuận về một chế độ mới và
những mục tiêu quốc gia mới, là điều kiện khó khăn nhất
vì không thể có được bằng thiện chí, cố gắng và hy sinh,
thậm chí ngay cả hiểu biết chuyên môn. Đây là một cố gắng
trí tuệ trong đó các nhà tư tưởng, đặc biệt là tư tưởng
chính trị, có vai trò trung tâm và quyết định. Lịch sử cho
thấy các dân tộc thiếu tư tưởng chính trị thường sa lầy
rất lâu trong bế tắc. Linh mục Nguyễn Văn Lý có lẽ đã cảm
nhận được như vậy khi ông nói phải có một chủ thuyết
hoàn chỉnh. Ngày nay các chủ nghĩa đã lỗi thời, nhưng sự
cần thiết của một tư tưởng chính trị - hiểu theo nghĩa
một hệ thống các giá trị nền tảng được hiểu thấu đáo
trong ý nghĩa của từng khái niệm và trong quan hệ của chúng
với nhau trong hoàn cảnh quốc gia - vẫn còn nguyên vẹn. Nguyễn
Văn Lý ít ra đã đã ý thức được tầm quan trọng của tư
tưởng chính trị. Những cuộc thảo luận lý thuyết gần đây
về các khái niệm tự do, dân chủ, nhân quyền và phát triển
cho thấy chúng ta vẫn còn cần nhiều tiến bộ. Những ngộ
nhận nhiều khi bộc lộ ngay nơi những trí thức hàng đầu.
Và vẫn còn điều kiện thứ tư, nghĩa là sự xuất hiện một
tập hợp - một tổ chức hay một liên minh có lãnh đạo thống
nhất của nhiều tổ chức - được nhìn như là có vai trò lãnh
đạo cuộc đấu tranh đổi đời. Nguyễn Văn Lý tỏ ra đã
nhìn thấy những đòi hỏi lớn để có được tập hợp này
khi ông nói nó "phải hội đủ nhiều điều kiện lắm".
Nhưng làm thế nào để xây dựng ra tập hợp đó?
Lịch sử của các nước, các thời cũng đã chứng tỏ rằng
mọi kết hợp đấu tranh cách mạng muốn thành công đều phải
qua năm giai đoạn rõ rệt:
1/ Xây dựng một cơ sở tư tưởng;
2/ Xây dựng một đội ngũ cán bộ nòng cốt;
3/ Xây dựng và kiểm điểm phương tiện;
4/ Xây dựng cơ sở quần chúng;
5/ Tiến công giành thắng lợi.
Trong thế giới văn minh hiện nay, khi giải pháp vũ trang đã bị
loại bỏ, tiến công giành thắng lợi đồng nghĩa với động
viên quần chúng đứng dậy đấu tranh áp đặt thay đổi chế
độ, hoặc bằng cách giành lấy chính quyền để thay đổi,
hoặc bằng cách buộc chính quyền phải nhượng bộ và chấp
nhận thay đổi.
Tiến trình năm giai đoạn này, trong đó xây dựng cơ sở tư
tưởng chính trị là bắt buộc đầu tiên, một lần nữa cho
thấy tầm quan trọng của tư tưởng chính trị. Một tổ chức
chính trị đúng nghĩa phải được quan niệm như một dụng cụ
để thể hiện một tư tưởng chính trị và thực hiện một
dự án chính trị.
Một nhận xét rất quan trọng là hai giai đoạn đầu, xây dựng
một cơ sở tư tưởng và hình thành đội ngũ cán bộ nòng
cốt, chiếm gần hết thời giờ và công lao của một cuộc
cách mạng. Phải vài thập niên mới có nổi một cơ sở tư
tưởng đúng đắn, lành mạnh, được quần chúng chia sẻ và
một đội ngũ cán bộ chừng vài trăm người với vài chục
người là những cán bộ thực sự nòng cốt, nắm vững cơ sở
tư tưởng, có bản lãnh, có quyết tâm, có kỹ thuật và kỷ
luật đấu tranh. Nhưng một khi hai yếu tố này đã có, tổ
chức có thể dựa vào một vận hội lịch sử mà phát triển
rất nhanh chóng và giành được thế chủ động trong vòng vài
năm, thậm chí vài tháng.
Tiến trình này cũng cho thấy vận động quần chúng chỉ là
cố gắng cuối cùng của giai đoạn cuối cùng của đấu tranh
chính trị, dù là điều bắt buộc. Tuy vậy điều bắt buộc
không nhất thiết phải là điều quan trọng nhất. Lấy thí dụ
một sinh viên đi học và đi thi để lấy bằng tốt nghiệp. Thi
là điều bắt buộc nhưng không phải là điều quan trọng
nhất, điều quan trọng nhất là học. Nếu đã học kỹ thì thi
chỉ là một thủ tục, còn nếu không học mà đi thi thì kết
quả đã hiển nhiên từ trước.
Nhưng quần chúng là gì? Quần chúng phải được hiểu là khối
đông đảo những người không phân biệt trình độ hiểu biết
không dành cho hoạt động chính trị một quan tâm bền bỉ nào
và cũng không tham gia một tổ chức chính trị nào. Đặc điểm
của quần chúng là không gắn bó, mỗi người sống riêng lẻ,
bình thường bất lực, khi được động viên thì ứng xử
giống như một đám đông, nghĩa là một khối nhiều người
không biết nhau đi theo sự hướng dẫn của những người cầm
đầu.
Trong cố gắng động viên quần chúng, một số ngộ nhận cần
được cảnh giác.
<em><strong>Ngộ nhận thứ nhất</strong></em> là cho rằng quần
chúng là tất cả, quần chúng có thể động viên được một
cách nhanh chóng và khi đã có quần chúng là sẽ thành công.
Ngộ nhận này khiến người ta hăm hở vận động quần chúng
(rải truyền đơn, căng biểu ngữ, kêu gọi biểu tình v.v.) dù
chưa có chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức. Có những tổ
chức ra đời chỉ để sách động quần chúng.
<em><strong>Ngộ nhận thứ hai</strong></em> là cho rằng nếu quần
chúng phẫn nộ vì ý thức được rằng mình bị đàn áp và
bóc lột thì họ sẽ đứng dậy đánh đổ chính quyền. Sự
thực thì mọi kinh nghiệm đều cho thấy là một khối người
dù đông đảo tới đâu và hoàn toàn đồng ý rằng mình bị
áp bức cũng không đứng dậy tranh đấu. Họ chỉ đứng dậy
tranh đấu nếu có một tổ chức lãnh đạo và tổ chức này
phải đủ mạnh và gắn bó để khiến họ tin chắc vào thắng
lợi.
Tâm lý đám đông của quần chúng cần được đặc biệt lưu
ý vì có hai hệ quả rất quan trọng: một là quần chúng đòi
hỏi lãnh đạo, do đó quần chúng chỉ có thể động viên
được nếu có một tổ chức mạnh khởi xướng; hai là, cũng
như một đám đông, quần chúng được động viên do bị kích
thích. Không có sự kích thích nào có thể kéo dài được, bởi
vậy quần chúng chỉ có thể động viên được trong một thời
gian ngắn. Tổ chức lãnh đạo vì vậy phải chuẩn bị trước
kế hoạch để lợi dụng tối đa và tức khắc thời điểm
thuận lợi này để đạt những kết quả dứt khoát không thể
đảo ngược. Do hai đặc tính này giai đoạn động viên quần
chúng là giai đoạn hết sức căng thẳng và sôi nổi. Các nhà
nghiên cứu chính trị dùng cụm từ chiến tranh động viên (war
of mobilization, guerre de mobilisation).
Một cách cụ thể, nếu bỏ qua những hành động khủng bố,
hầu như trong mọi cuộc cách mạng bất bạo động tại mọi
quốc gia cuộc chiến tranh động viên diễn ra như sau:
- Một bên là phe đối lập cố gắng thuyết phục quần chúng
rằng phải thay đổi chế độ chính trị và tổ chức xã hội
để tìm một lối thoát cho cả dân tộc; một bên là đảng
cầm quyền cố gắng trấn an quần chúng rằng mỗi người có
thể tìm giải pháp thăng tiến cá nhân cho mình trong khuôn khổ
chế độ. Đối lập hô hào thay đổi xã hội trong khi chính
quyền đề cao sự linh động trong xã hội. Đối lập hô hào
một giải pháp chung cho đất nước trong khi chính quyền hứa
hẹn những khả năng thăng tiến cá nhân. Tóm lại đối lập
kêu gọi đoàn kết để cùng nhau đấu tranh cho một giải pháp
quốc gia trong khi chính quyền khuyến khích tâm lý luồn lách
để tìm giải pháp cá nhân.
- Đối lập tố giác những sai phạm của chính quyền và những
thiệt hại gây ra cho quần chúng. Để chống trả, một chính
quyền khôn ngoan không bao giờ nói là tất cả đều rất tốt
và không có gì phải thay đổi, vì như thế là vô tình tiếp
tay cho đối lập bởi vì khiến người dân thấy là họ không
có gì để hy vọng ở chế độ; trái lại nó luôn luôn nhìn
nhận là có nhiều sai lầm và tỏ ra cố gắng sửa sai, dù
những biện pháp sửa sai chỉ nhằm duy trì hiện trạng.
- Đối lập kêu gọi hoà giải và hoà hợp dân tộc để có
đoàn kết và sức mạnh dân tộc, trong khi chính quyền cố hết
sức để khơi động những tị hiềm để giữ quần chúng trong
thế chia rẽ bất lực. Cuộc nổi dậy nào của quần chúng
cũng bắt đầu từ một biến cố khởi động xẩy ra cho một
tập thể quần chúng, nếu tập thể này không được sự
hưởng ứng của các tập thể khác, thậm chí còn bị chống
đối, thì biến cố này không thể trở thành khởi điểm cho
một cuộc nổi dậy của toàn dân. Một thí dụ cụ thể, trong
nhiều thí dụ khác, là khi người công giáo tranh đấu, như
biến cố Tam Toà tại Quảng Bình năm 2009, chính quyền cộng
sản đã khơi động tinh thần bài Công Giáo để huy động
những phần tử quá khích hành hung các linh mục và giáo dân.
Các tập đoàn độc tài không cần người dân thương yêu
chúng, chúng chỉ cần người dân đừng thương yêu nhau để
tiếp tục bất lực trong sự chia rẽ.
- Đối lập cố gắng thống nhất đội ngũ lãnh đạo vì đó
là điều kiện bắt buộc để động viên quần chúng; quần
chúng không thể đứng dậy nếu nhận được những lời kêu
gọi mâu thuẫn từ nhiều nguồn. Chính quyền cố gắng phân
tán và chia rẽ tối đa đối lập bằng mọi phương tiện, kể
cả khuyến khích cách làm chính trị nhân sĩ, mua chuộc một
số thành phần đối lập hay thành lập những tổ chức đối
lập giả hiệu.
- Đối lập cố gắng trấn an những người trong bộ máy chính
quyền rằng sự thay đổi chế độ sẽ không đe doạ họ trong
khi chính quyền cố gắng tạo tâm lý lo sợ những trả thù báo
oán để đoàn kết nội bộ trong phản xạ tự vệ. Hoà giải
và hoà hợp dân tộc là ngôn ngữ bắt buộc của một đối
lập thông minh. Bằng ngôn ngữ ôn hoà và bao dung đối lập cố
gắng thuyết phục và tranh thủ những thành phần tiến bộ
trong đảng cầm quyền bởi vì những tiếng nói phản kháng từ
trong nội bộ có sức tàn phá đặc biệt; chính quyền cố
gắng giữ vững hàng ngũ bằng cách phủ dụ và mua chuộc
những người bất mãn, nếu không được thì trừng trị một
cách thật nghiêm khắc để làm gương.
Cố gắng động viên quần chúng chỉ thành công nếu hội đủ
ba điều kiện:
<em><strong>Điều kiện thứ nhất</strong></em> là quần chúng cảm
thấy mình là một thành phần bị một thành phần khác chà
đạp và bóc lột. Cần có sự hiện hữu của hai tập thể có
căn cước rõ ràng, một tập thể ta trong đó mỗi người cảm
thấy mình là thành viên gắn bó và có trách nhiệm phục vụ,
đồng thời cũng cảm thấy được hỗ trợ; và một tập thể
địch mà tập thể ta nhìn như nguyên nhân của những đau khổ
mà mình và các đồng cảnh là nạn nhân.
Tập thể địch có thể được tạm định nghĩa là thành phần
thượng lưu trong chế độ. Tập thể ta phải là toàn dân hoặc
đại đa số dân chúng. Như vậy muốn xây dựng tập thể này,
không có giải pháp nào khác hơn là củng cố lòng yêu nước
và đề cao hoà giải và hoà hợp dân tộc. Không có lòng yêu
nước thì không thể nói tới dân tộc, yêu nước mà chia rẽ
và thù ghét lẫn nhau thì cũng không phải là một lực lượng
và sẽ tiếp tục bất lực trong sự chia rẽ.
<em><strong>Điều kiện thứ hai</strong></em> là phải có những
hứa hẹn cụ thể. Quần chúng không đủ hiểu biết và suy
luận để có thể được hoàn toàn thuyết phục và động viên
vì những phúc lợi của đạo đức chính trị, lòng yêu nước,
tự do, dân chủ v.v. Họ phải nhìn thấy cuộc cách mạng đem
lại cho họ những kết quả cụ thể nào. Các cuộc cách mạng
Hoa Kỳ và Pháp cuối thế kỷ XVIII có nguồn gốc là chống
thuế. Các đảng cộng sản tại Nga, Trung Quốc và Việt Nam đã
có một hứa hẹn rất cụ thể là nếu nắm được chính
quyền họ sẽ tiêu diệt giai cấp chủ nhân (hoặc địa chủ)
và lấy của người giàu chia cho người nghèo.
<em><strong>Điều kiện thứ ba</strong></em> là quần chúng phải
chắc chắn là cuộc đấu tranh sẽ thành công. Quần chúng không
lãng mạn. Cũng không thể đòi hỏi sự dũng cảm và kiên trì
nơi quần chúng. Dũng cảm và kiên trì là đặc tính của những
tổ chức. Nhưng khi nào thì quần chúng tin chắc vào thắng
lợi? Câu trả lời của những kinh nghiệm lịch sử và những
công trình nghiên cứu là khi quần chúng thấy có một tổ chức
vừa đáp ứng đúng nguyện vọng của họ vừa có đủ sức
mạnh để giành thắng lợi. Một lần nữa đấu tranh chính
trị luôn luôn là đấu tranh có tổ chức và không bao giờ là
đấu tranh của những cá nhân. Sức mạnh của tổ chức được
hiểu là phương tiện, trí tuệ, đội ngũ nòng cốt, uy tín
của lãnh đạo, và nhất là sự gắn bó vì quần chúng nhìn
một tổ chức như một người. Một tổ chức yếu về lực
lượng hoặc chưa có uy tín dĩ nhiên không động viên được
quần chúng. Một tổ chức không có nhất trí dưới mắt quần
chúng giống như một người chưa biết mình muốn gì và do đó
cũng không thể động viên được quần chúng. Và vì tổ chức
lãnh đạo quần chúng phải vừa mạnh vừa gắn bó, nó chỉ có
thể là thành quả của những cố gắng thông minh và kiên trì
trong hàng thập niên. Một tổ chức vừa mới thành lập được
vài năm, chưa nói vài tháng, không có hy vọng nào động viên
được quần chúng.
Điều quan trọng cần được nhắc lại và nhấn mạnh là một
khi đã được động viên thì lực lượng quần chúng phải
được sử dụng ngay tức khắc để đạt thắng lợi. Quần
chúng không kiên nhẫn, nếu thắng lợi không đến nhanh chóng
khí thế đấu tranh sẽ nhường chỗ cho thất vọng.
Tóm lại, quần chúng chỉ động viên được vào lúc mà mọi
cố gắng và hy sinh để thành công đã làm xong, thắng lợi đã
chắc chắn và quần chúng không còn chọn lựa nào khác hơn là
ủng hộ.
Còn một lấn cấn: một cuộc cách mạng có thể hoàn toàn bất
bạo động trong mọi trường hợp được không? Những thay
đổi chế độ trong hoà bình tại Đông Âu và Liên Xô cũ phải
chăng chỉ là do may mắn?
Quả thực động viên quần chúng là để buộc chính quyền
phải nhượng bộ trước đe doạ của những hành động mãnh
liệt như biểu tình lớn trên toàn quốc, chiếm đóng và làm
tê liệt các cơ quan xí nghiệp, cuối cùng chiếm chính quyền
dưới áp lực của đường phố, thậm chí nổi dậy võ trang
nếu cần. Điều rất quan trọng cần được nhấn mạnh là
trong đại đa số các trường hợp những hành động này không
cần thiết. Một đối lập sáng suốt có thể không dùng tới
những hành động này trong mọi trường hợp. Chỉ cần có khả
năng lật đổ chính quyền bằng áp lực quần chúng là đủ.
Chính quyền nào, dù ngoan cố và lì lợm đến đâu, cũng sẽ
thoả hiệp thay vì đối đầu nếu biết trước đối đầu sẽ
thảm bại.
Như thế tranh thủ và động viên quần chúng là điều phải
làm, nhưng đưa quần chúng vào hành động là không cần thiết.
Chỉ cần chứng tỏ có khả năng điều động quân chúng nổi
dậy là đủ chứ không cần quần chúng thực sự nổi dậy.
Lời cuối: Những ngộ nhận về vận động quần chúng chủ
yếu do quan sát hời hợt không khí tưng bừng của những cuộc
cách mạng đã thành công, người ta tưởng rằng các cuộc cách
mạng này đã thành công vì được quần chúng ủng hộ, trong
khi thực ra quần chúng chỉ ủng hộ các cuộc cách mạng đó
vì chúng đã thành công. Trong lịch sử của các dân tộc,
những cuộc đổi đời lớn đều là thành quả của những
nhóm nhỏ đã có đủ trí tuệ để nhìn thấy hướng đi phải
có cho xã hội và đã kiên trì đấu tranh, chấp nhận mọi cố
gắng và hy sinh cho lý tưởng của họ. Sau cùng họ đã đánh
bại được những tập đoàn cầm quyền nhiều lần mạnh hơn
họ về cả phương tiện lẫn số lượng bởi vì họ là hiện
thân của một tương lai bắt buộc phải đến trong khi tập
đoàn cầm quyền là hiện thân của một hiện tại phải qua
đi. Và vì họ đã có đủ quyết tâm, dũng cảm và kiên trì,
để vượt qua mọi thử thách. Sự hưởng ứng của quần chúng
sau cùng đã đến như là phần thưởng của thắng lợi.
Nguyễn Gia Kiểng
© Thông Luận 2010
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/4680), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét