Giao lưu với Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông: Tránh tư duy "con đà điểu" trong bảo vệ chủ quyền biển Đông

Trong tranh chấp Biển Đông, để có thể phát huy sự đoàn kết
của dân tộc, theo tôi mỗi người Việt Nam cần tạo sự
đồng thuận trong cách thức đấu tranh. Một mặt, chúng ta cần
phân tích các sự kiện lịch sử một cách duy lý và khoan dung.
Mặt khác, chúng ta cần tạo một không gian tự do về mặt học
thuật và trao đổi để những người quan tâm có thể mổ xẻ,
phân tích những cơ sở liên quan đến chủ quyền của Việt
Nam, từ đó có thể soi sáng những lập luận chưa đúng mà
phía Trung Quốc đưa ra để ngụy tạo cho cơ sở của họ -
Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Tuần Việt Nam giới thiệu nội dung cuộc giao lưu trực tuyến
ngày 9/4 với TS. Trần Vinh Dự, TS. Giáp Văn Dương, TS. Lê Vĩnh
Trương và Lê Minh Phiếu, các thành viên của Quỹ Nghiên cứu
Biển Đông.

<h2>Quỹ luôn mở rộng cửa cho những ai quan tâm</h2>

<em><strong>Vienle:</strong> QNCBĐ nghĩ sao khi đổi tên thành Quỹ
biển Đông Nam Á để kêu gọi sự hợp tác chung nội khối
ASEAN với mục đích quốc tế hóa nhằm bảo vệ chủ quyền
chính đáng của Việt Nam?</em>

<strong>TS. Trần Vinh Dự:</strong> Bạn nói rất đúng. Trên thực
tế, Quỹ có tên tiếng Anh là South East Asian Sea Foundation - tức
là Quỹ nghiên cứu Biển Đông Nam Á nếu dịch hoàn chỉnh ra
tiếng Việt.

<em><strong>Trọng Thiết:</strong> Việc ra đời QNCBĐ thời điểm
này là cần thiết và có ý nghĩa đối với việc tạo thêm sự
quan tâm của mọi cấp, mọi ngành, mọi địa phương và người
dân đối với chủ quyền biển đảo Tổ quốc. Bởi, ngoài các
cơ quan, đơn vị tổ chức Nhà nước có trách nhiệm và tiếng
nói ở góc độ "chính thống" thì rất cần các tổ chức "phi
chính phủ" có tiếng nói mạnh mẽ hơn, kiên quyết hơn về các
vấn đề liên quan đến chủ quyền biển đảo mà chính chúng
ta đang phải "lựa" bởi nhiều lý do khác nhau.

Như việc mới đây một tổ chức địa lý Hoa Kỳ đề sai tên
quần đảo Hoàng Sa trên bản đồ thế giới, hay các hoạt
động xâm phạm chủ quyền của nước ngoài, mặc dù Bộ
Ngoại giao các cơ quan báo chí lên tiếng, song giá như chúng ta
có các tổ chức "phi chính phủ" về biển đảo đứng ra bảo
trợ, làm chủ tọa để "lên tiếng" vì quyền lợi của Tổ
quốc chắc chắn sẽ có thêm sự tiếp sức cần thiết cho
cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền đang rất khẩn trương, gay
go, quyết liệt như hiện nay.

Tôi muốn biết Quỹ có những nội dung hoạt động chính như
thế nào trong năm 2010?</em>

TS. Lê Vĩnh Trương: Hiện nay công việc của QNCBĐ bao gồm:
Thực hiện một chương trình tài trợ học bổng cho các học
sinh vùng biển trong năm học 2010-2011; Kết hợp với Trung tâm
nghiên cứu biển đảo của ĐH KHXH&NV thành phố Hồ Chí Minh
thành lập một chương trình Hỏi-Đáp dành cho cho sinh viên.
Đồng thời chuẩn bị các cuộc nói chuyện về biển Đông
với sinh viên tại các nhà văn hóa ở các thành phố lớn.
QNCBĐ cũng sẽ tập hợp tất cả các bài viết của các cây
bút trong Qũy để xuất bản một tập sách trong nước và nếu
có điều kiện sẽ dịch sang tiếng Anh và các ngôn ngữ Đông
Nam Á để quảng bá cho chính nghĩa của Việt Nam.

Song song đó, QNCBĐ có những kiến nghị đến các cơ quan có
thẩm quyền để tiến hành công tác quốc tế, Đông Nam Á vận
nhằm mục đích quảng bá về sự thật lịch sử chủ quyền
và pháp lý của Việt Nam về Biển Đông.

<div class="boxright300"><img
src="http://tuanvietnam.net/assets/Uploads/tranvinhdu.jpg" /><div
class="textholder">Nhà báo Đức Liên (trái) và Tiến sĩ Trần Vinh
Dự tại cuộc trực tuyến. Ảnh Đoàn Quý</div></div>
<em><strong>Lê Thị Hiền:</strong> Nếu tôi muốn là thành viên
của Quỹ thì phải đáp ứng những điều kiện gì?</em>

<strong>Lê Minh Phiếu:</strong> Hiện chúng tôi có hai quy chế
đối với người tham gia: Cộng tác viên và Thành viên. Cộng
tác viên là những người được kết nạp một cách dễ dàng
hơn và được trông đợi đóng góp ít hơn thành viên. Trừ
đối với những người mà chúng tôi đã biết rõ, tất cả
những người quan tâm đều sẽ được kết nạp trước tiên
vào nhóm cộng tác viên. Sau một thời gian, nếu như người đó
có nhiều đóng góp, thì sẽ được mời làm thành viên.

Do vậy, nếu bạn quan tâm, chúng tôi rất hân hạnh được mời
bạn vào nhóm cộng tác viên. Nếu bạn có quan tâm và có đóng
góp, chắc chắn chúng tôi sẽ mời bạn vào nhóm thành viên sau
một thời gian.

<h2>Công và của đều là đóng góp tự nguyện</h2>

<em><strong>Dan Trung:</strong> Tôi được biết Quỹ Nghiên Cứu
hoạt động dựa trên sự tự nguyện đóng góp công sức và
tài chính của nhiều người, nhất là các thành viên của Quỹ.
Gia đình tôi cũng có đóng góp chút ít. Cho tôi hỏi là Quỹ có
được hỗ trợ về tinh thần cũng như vật chất từ Nhà
nước chúng ta hay không? Và, hỏi thật, các bạn có sợ những
kẻ tham lam nước ngoài đe dọa không?</em>

<strong>TS. Trần Vinh Dự:</strong> Đúng như bạn nói, Quỹ kể
từ khi thành lập đã hoạt động dựa trên sự đóng góp tự
nguyện của nhiều người. Trong đó đáng kể nhất là các
đóng góp về thời gian và công sức trong các dự án nghiên
cứu, viết, xuất bản, và công bố các hồ sơ, tài liệu, và
công trình nghiên cứu về biển Đông. Cho tới nay, hoạt động
của Quỹ đều dựa trên sự đóng góp công sức tự nguyện
nên chúng tôi vẫn chưa cần đến các nguồn tài chính đáng
kể nào.

Tuy nhiên, trong tương lai, với tư cách là một Quỹ mà mục
tiêu chính là hỗ trợ các nghiên cứu về biển Đông, chúng
tôi sẽ có các kế hoạch huy động tài chính để phục vụ
các chương trình như học bổng Sức sống biển Đông.

Với tư cách là một Quỹ, chúng tôi trân trọng các đóng góp
từ tất cả các nhà tài trợ. Tuy nhiên, Quỹ nghiên cứu biển
Đông không chấp thuận bị ảnh hưởng của bất kỳ tổ chức
hay cá nhân nào. Quỹ NCBĐ có tôn chỉ, mục đích, và sứ mệnh
riêng mà chúng tôi đã công bố rộng rãi.

Chúng tôi kiên quyết bảo vệ lập trường này của mình. Các
nguồn tài chính đóng góp, nếu có, sẽ trên cơ sở nhà tài
trợ tôn trọng lập trường của chúng tôi và không tìm cách
gây ảnh hưởng đến đường lối của Quỹ.

Riêng về cái bạn gọi là "những kẻ tham lam nước ngoài đe
doạ", chúng tôi tự thấy chúng tôi là người Việt Nam và có
trách nhiệm thiêng liêng là phải bảo vệ những gì ông cha
chúng ta để lại, từ đó có thể chuyển lại nguyên vẹn cho
con cháu chúng ta sau này. Đó là một cam kết xuyên thế hệ.
Những hệ luỵ hoặc hi sinh cá nhân, nếu phải có, cũng là
việc bình thường và chúng tôi sẵn sàng đón nhận.

<strong>TS. Lê Vĩnh Trương:</strong> Xin chân thành cảm ơn bạn Dan
Trung và gia đình đã tin tưởng và hỗ trợ. Chúng tôi được
những người Việt Nam khắp nơi trên thế giới hỗ trợ tinh
thần. Dĩ nhiên cũng có những hiểu lầm nhưng đó là chuyện
tất yếu trên bước đường của Quỹ. Điều khích lệ lớn
nhất của chúng tôi là tấm lòng của người VN không phân
biệt tôn giáo, chính kiến, quốc tịch... đã ủng hộ chúng
tôi.

Chúng tôi có 1 chương trình nho nhỏ để đàm luận với những
người tham lam ấy. Và chúng tôi tin rằng mình có thể tác
động để cho họ bớt tham lam.

<em><strong>Vân Anh:</strong> Hạn chế trong hoạt động hiện nay
của Quỹ là gì?</em>

<div class="boxleft300"><img
src="http://tuanvietnam.net/assets/Uploads/_resampled/ResizedImage260170-11377-Truong.JPG"
/><div class="textholder">Tiến sĩ Lê Vĩnh Trương (phải) và nhà
báo Đức Liên. Ảnh Đoàn Quý</div></div>
<strong>TS. Giáp Văn Dương:</strong> Hạn chế lớn nhất trong
hoạt động hiện nay của Quỹ là cách thức hoạt động
nghiệp dư, hoàn toàn dựa trên sự tình nguyện của các thành
viên và cộng tác viên. Quỹ chúng tôi rất muốn tiến tới
hoạt động chuyên nghiệp, nhưng do thiếu nhân lực, tài lực,
nên việc chuyên nghiệp hóa này còn gặp nhiều khó khăn.

Chúng tôi rất mong nhận được sự ủng hộ của xã hội để
một ngày không xa, Quỹ có thể chuyển đổi thành tổ chức
hoạt động mang tính chuyên nghiệp.

<strong>Lê Minh Phiếu:</strong> Điều trở ngại lớn nhất mà
chúng tôi gặp phải đó là tất cả các thành viên và cộng
tác viên, kể cả ban điều hành hay cố vấn đều hoạt động
theo sự thiện nguyện, bán thời gian và chủ yếu là trực
tuyến, trong khi, hầu như ai cũng đều rất bận bịu với
những công việc riêng. Do vậy, chúng tôi không đủ nhân lực
để có thể triển khai hết những ý tưởng và kế hoạch.

Chúng tôi đang cải thiện điều này bằng việc xúc tiến mở
một văn phòng tại Việt Nam và tuyển một vài người làm
việc thường trực và toàn thời gian có trả lương.

<strong>TS. Lê Vĩnh Trương:</strong> Tất cả các thành viên đều
là những cá nhân vừa làm những công việc mưu sinh, vừa tham
gia hoạt động trên tinh thần thiện nguyện nên tính tập trung
có thể chưa cao.

Theo chúng tôi nghĩ, một số giới người Việt vẫn giữ thói
quen phó thác cho Nhà nước hoặc các tổ chức nghiên cứu và
giải quyết những việc như Biển Đông do họ chưa nhận thấy
quyền lợi và nghĩa vụ kinh tế từ biển. Điều đó dẫn
đến sự hưởng ứng hạn chế của mọi người trong quá trình
thúc đẩy xã hội hóa đối với QNCBĐ.

QNCBĐ cố gắng cải thiện tình hình này bằng cách thông qua
truyền thông, thông qua các cuộc hội thảo và trong tương lai
có thể thông qua các cuộc nói chuyện với các giới đồng bào
để gỡ bỏ thói quen nói trên.

Có rất nhiều học giả nghiên cứu Biển Đông nói chung (trong
và ngoài quỹ) cần một sự hỗ trợ cao hơn về tinh thần và
vật chất từ phía QNCBĐ cũng như xã hội để có thể toàn
tâm, toàn ý nghiên cứu Biển Đông.

Hiện tại QNCBĐ chưa có văn phòng đại diện tại Việt Nam và
chúng tôi đang tiến hành xin giấy phép.

Để bảo đảm tính khoa học và trung dung, chúng tôi buộc phải
chọn lựa rất cao đối với các nguồn tài chính đóng góp cho
QNCBĐ. Vì lẽ đó, ngân sách của Quỹ vẫn còn chưa đủ mạnh.

<em><strong>Ngọc Nhung:</strong> Đâu là những kinh nghiệm rút ra
được sau một thời gian hợp tác và hoạt động cùng nhau trong
quỹ?</em>

<strong>TS. Giáp Văn Dương:</strong> Kinh nghiệm rút ra sau một
thời gian hoạt động là sự tuân thủ tôn chỉ, mục đích và
nguyên tắc làm việc của Quỹ cần phải đảm bảo ở mức cao
nhất để không sa đà, chệch hướng, đảm bảo tính khoa học
và duy lý trong mọi hoạt động của Quỹ.

<strong>TS. Lê Vĩnh Trương:</strong> QNCBĐ bao gồm các thành viên
ở các ngành nghề khác nhau như Pháp luật, Hải dương học,
Khoa học hạt nhân, Vật lý, Kinh tế học... Tuy nhiên, điểm
chung của chúng tôi là yêu thích nghiên cứu trên tinh thần trung
dung và ôn hòa với mục đích có được những nghiên cứu có
ích cho Việt Nam.

Do vậy, những khác biệt trong vấn đề nghề nghiệp hầu như
đã được san bằng thông qua những trao đổi chân thành và tự
nguyện. Tất cả những bài viết của chúng tôi đều được
góp ý thẳng thắn nhưng thân ái. Đó là kinh nghiệm làm việc
không dễ tìm được ở những môi trường khác.

<h2>Biển Đông mở ra rất nhiều đề tài nghiên cứu</h2>

<em><strong>Chung Hoàng:</strong> Các nghiên cứu của quỹ, ngoài
việc đăng trên các báo và trang mạng, có được gửi đến cơ
quan nhà nước nào không? Nếu có, Quỹ có nhận được phản
hồi gì không?</em>

<strong>TS. Lê Vĩnh Trương:</strong> Ngoài việc đăng báo và các
trang mạng, các nghiên cứu viên của Quỹ đã có chia sẻ và
thảo luận với các cơ quan nhà nước như: Ban Biên giới Chính
phủ, Học viện Ngoại giao, Bộ Ngoại giao dưới nhiều hình
thức khác nhau và đã nhận được những phản hồi rất tích
cực.

Những công việc cụ thể của Quỹ gồm có đưa ra ý kiến
trước các sự vụ: lập hồ sơ chung với Malaysia, phản đối
Trung Quốc bắt ngư dân đòi tiền chuộc, khuyến cáo chính
quyền không nên nộp tiền chuộc và kiến nghị nên quốc tế
hóa vấn đề Biển Đông...

<em><strong>Nhật Huy:</strong> Quỹ cho biết sẵn sàng hỗ trợ các
dự án vừa và nhỏ, đặc biệt các dự án nghiên cứu của
sinh viên, nghiên cứu sinh và các nhà nghiên cứu về Biển Đông
tại các trường đại học ở Việt Nam. Vậy tình hình nghiên
cứu vấn đề này ở các trường đại học đang diễn ra thế
nào? Đâu là những đề tài vừa tầm với việc nghiên cứu
của sinh viên?</em>

<strong>TS. Trần Vinh Dự:</strong> Chúng tôi đang tích cực tiếp
xúc với các trung tâm, các viện nghiên cứu, và các trường
đại học có chương trình giảng dạy liên quan đến biển để
nắm được tình hình nghiên cứu của các cơ sở này.

Chúng tôi cũng đang cố gắng thúc đẩy việc ra đời một
chương trình học bổng thường niên về Biển Đông. Nếu mọi
việc đúng theo kế hoạch, học bổng "Sức Sống Biển Đông" do
Quỹ Nghiên cứu Biển Đông và đối tác trong nước cùng thực
hiện sẽ ra đời vào khoảng tháng 9 năm nay.

Có một số mảng đề tài mà chúng tôi cho là vừa sức với
sinh viên. Danh mục các chủ đề gợi ý này sẽ được cung
cấp khi chúng tôi công bố chương trình học bổng của mình.
Dưới đây chỉ là một số gợi ý từ phía cá nhân tôi:

<div class="special_quote"><h3>Kinh tế biển:</h3>

1. Đánh giá thực trạng và dự đoán tiềm năng hải sản trên
biển Đông.

2. Đánh giá thực trạng khai thác và dự báo nguồn lợi dầu
khí trên biển Đông.

3. Phân tích thực trạng kinh doanh của hệ thống cảng biển
của Việt Nam. Nghiên cứu việc bố trí tối ưu hệ thống
cảng biển dọc theo bờ biển từ Bắc vào Nam.

4. Khai thác năng lượng thủy triều và năng lượng gió trên
biển (phong điện)

5. Thực trạng khai thác và tiềm năng du lịch biển.

6. Khả năng phát triển các khu kinh tế mở dọc bờ biển.

7. Phát triển kinh tế trên các đảo của Việt Nam.

<h3>Luật biển:</h3>

1. Các luật quốc tế về biển và hàng hải nói chung.

2. Luật quốc tế về phân định biên giới trên biển (UNCLOS
và tiền UNCLOS)

3. Các case studies về phân định biên giới trên biển mà Việt
Nam cần quan tâm.

4. Nghiên cứu về cơ chế sử dụng trọng tài và tòa án quốc
tế trong việc giải quyết tranh chấp trên biển.

5. Vấn đề gác lại tranh chấp và hợp tác khai thác trên biển
trên khía cạnh pháp lý và khả năng thực thi.

<h3>Lịch sử và văn hóa liên quan đến biển:</h3>

1. Khai thác biển của Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử.

2. Các nét văn hóa độc đáo của cư dân ven biển.

3. Các bằng chứng lịch sử khẳng định chủ quyền của Việt
Nam trên biển Đông.

4. Nghiên cứu, giải mã và phê phán các bằng chứng mà Trung
Quốc đưa ra để khẳng định chủ quyền của họ trên biển
Đông.

5. Nghiên cứu về việc sử dụng các bằng chứng lịch sử
trong việc giải quyết tranh chấp biên giới trên biển.

<h3>Địa chính trị biển:</h3>

1. Vai trò của biển Đông đối với quốc tế.

2. Vị trí và tầm quan trọng của các đảo Trường Sa và Hoàng
Sa trên biển Đông

3. Vị trí chiến lược (nếu có) của Việt Nam trên biển Đông
và làm thế nào để sử dụng được các lợi thế này?

<h3>Địa lý biển Đông:</h3>

1. Cấu tạo địa chất của biển Đông.

2. Các dòng hải lưu trên biển Đông.

3. Hiện tượng bồi lấn trên biển Đông, ảnh hưởng của nó
đến vận tải biển và sự vận hành của hệ thống cảng
biển của Việt Nam.

4. Khí hậu và thời tiết ở biển đông, các ảnh hưởng của
chúng đến kinh tế và quốc phòng của Việt Nam trên biển.

<h3>Ngôn ngữ học và Đông phương học:</h3>

1. Các di chỉ, di tích, di vật viết bằng chữ Hán, chữ Nôm
liên quan đến quá trình khám phá đất đai, phát hoang hay tạo
dựng dinh đền vùng song biển Việt Nam.

2. Nghiên cứu các tư liệu các tiếng Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha,
Pháp, Anh, Nhật, và các tiếng các quốc gia Đông Nam Á có liên
quan đến bờ biển Việt Nam</div>

<em><strong>Hương Lan:</strong> Quỹ đang tiến hành dịch các sách
và tài liệu tiếng nước ngoài về chủ quyền trên biển Đông
của VN ra tiếng Việt, vậy quỹ có liên hệ với các nhà xuất
bản và công ty sách trong nước để phát hành rộng rãi các
ấn phẩm này không, thái độ của các cơ quan xuất bản trong
nước ra sao?</em>

<strong>TS. Lê Vĩnh Trương:</strong> Quỹ NCBĐ đã liên lạc với
NXB Tri Thức để tiến tới ấn hành một số tài liệu và
đầu sách tiếng Việt và dịch sang tiếng Anh, đồng thời
chúng tôi đã trao đổi kế hoạch hợp tác tuyên truyền với
VietNamNet. Và chúng tôi đã nhận được thái độ hợp tác rất
tích cực.

<em><strong>Trung tâm dữ liệu Hoàng Sa:</strong> Hiện nay tôi đọc
rất nhiều tài liệu được dịch bởi thành viên QNCBĐ. Xin
hỏi Quỹ đã có cách tổ chức việc biên dịch đó như thế
nào? Hỏi từ việc lấy nguồn tài liệu đến việc phân công
công việc. Kinh nghiệm này rất quan trọng đối với các nhóm
hoạt động về chủ quyền biển đảo khác, ví dụ như Trung
tâm dữ liệu Hoàng Sa?</em>

<strong>TS. Lê Vĩnh Trương:</strong> Chúng tôi có một đội ngũ
biên dịch viên ở nhiều nơi trên thế giới, được điều
phối bởi các thành viên như chị Đinh Ngọc Thu (Mỹ), anh
Dương Danh Huy (Anh), anh Lê Minh Phiếu (Pháp).

Việc nắm bắt các bài viết trên mạng và dịch sang tiếng
Việt được đội ngũ biên dịch làm việc thật nhanh và trao
lại cho những thành viên khác chỉnh sửa, biên tập. Sau đó,
chúng tôi cùng tham gia biên tập để bài viết được đến tay
bạn đọc nhanh chóng nhất.

Nhân đây chúng tôi cũng mong muốn Trung tâm dữ liệu Hoàng Sa
chia sẻ kinh nghiệm tìm kiếm và lưu trữ tư liệu Biển Đông
sao cho phong phú.

<h2>Vì sự công bằng và bình yên cho biển đảo</h2>

<em><strong>Nguyen Vinh Quang:</strong> Trung Quốc gần đây dự định
tiến hành khảo cổ Hoàng Sa. Theo tôi đó là bước đi khôn
ngoan để đánh động dư luận trong nước và nhất là cộng
đồng quốc tế về quyền sở hữu của mình ở Biển Đông.
Nhưng tôi thấy ở Việt Nam mình chưa tuyên truyền sâu rộng
(lịch sử hình thành, lịch sử chiếm đóng của Trung Quốc,
thuỷ chiến Hoàng Sa....) đến với người dân. Vậy Quỹ
Nghiên Cứu Biển Đông trong thời gian tới sẽ làm gì, hành
động như thế nào, hay quỹ chỉ dừng lại ở hình thức
nghiên cứu như đúng tên gọi của quỹ.</em>

<strong>Lê Minh Phiếu:</strong> Những vấn đề mà bạn nêu đúng
là còn nhiều người Việt Nam chưa biết đến. Song, chúng ta
cần ghi nhận là hiện cũng có nhiều nhóm, diễn đàn đang có
những nỗ lực phổ biến những điều mà bạn bận tâm. Do
vậy, chúng tôi sẽ cố gắng làm những điều mà chúng tôi cho
rằng cần thiết nhưng chưa được thực hiện bởi người
khác.

Đương nhiên, những vấn đề mà bạn nêu sẽ được chúng tôi
nghiên cứu, hành động nếu như nó liên quan đến từng chủ
đề hay chương trình hành động cụ thể của chúng tôi.

<div class="boxright300"><img
src="http://tuanvietnam.net/assets/images/54.jpg" /><div
class="textholder">TS. Giáp Văn Dương. Ảnh: Cao Nhật</div></div>
<strong>TS. Giáp Văn Dương:</strong> Mục đích của Quỹ Nghiên
cứu biển Đông là hỗ trợ những nghiên cứu về biển Đông,
bao gồm cả kinh tế biển, chủ quyền biển đảo, lịch sử,
địa lý tự biển... với mục đích cao nhất là góp phần bảo
vệ chủ quyền và vệ lợi ích hợp pháp của Việt Nam tại
đây. Những hỗ trợ này bao gồm hỗ trợ về thông tin, tài
liệu, tài chính thông qua sự tài trợ của các nhà hảo tâm và
sự đóng góp của bản thân các thành viên.

Quỹ cũng đưa ra những phân tích, tư vấn về tranh chấp trên
tinh thần khoa học, duy lý, vì sự công bằng và bình yên cho
biển đảo. Các hoạt động tuyên truyền sâu rộng không thuộc
phạm vi hoạt động của Quỹ. Các cơ quan hữu quan của Nhà
nước phải làm việc này. Tuy nhiên, Quỹ sẵn sàng hỗ trợ
báo chí, truyền thông và các cơ quan hữu quan trong việc phổ
biến thông tin về biển đảo tới người dân.

<em><strong>Nguyễn Văn Sửu:</strong> Tôi muốn được hiểu sâu
hơn cơ chế hoạt động của QNCBĐ, có nguồn tài trợ nào
không, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam có quan tâm giúp đỡ, hỗ
trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của Quỹ
thế nào? Nhà nước, Chính phủ đã sử dụng sản phẩm (là
bài nghiên cứu đã đăng tải của các thành viên Quỹ như thế
nào?</em>

<strong>TS Lê Vĩnh Trương:</strong> Chúng tôi hy vọng các bài
nghiên cứu sẽ đến với bạn đọc các giới. Hiện có những
quan điểm của QNCBD đã được các giới ủng hộ và đồng
tình, ví dụ như: Hoạt động ngoại giao nhân dân, sử dụng
sức mạnh mềm, quốc tế hóa vấn đề Biển Đông, không nộp
tiền chuộc... và chúng tôi cũng hy vọng những kiến nghị, ý
kiến nói trên đã được Nhà nước lắng nghe.

Cơ chế hoạt động của QNCBĐ gồm 40 thành viên và hơn 120
cộng tác viên và chúng tôi hiện đang tự đi tìm tài trợ. Như
đã đề cập ở phần trên, để bảo đảm tinh thần khoa học
và trung dung, chúng tôi có những chọn lọc cẩn trọng đối
với các nguồn tài trợ.

Hiện nay, chúng tôi nhận được sự giúp đỡ quan tâm của các
cơ quan truyền thông như: báo VietNamNet, Tuổi Trẻ, Thanh Niên và
sắp tới là báo Thời đại.

<h2>Cho người dân biết có thể đóng góp bảo vệ biển đảo
như thế nào</h2>

<em><strong>Xuân Long:</strong> Có nghiên cứu, khảo sát nào cụ
thể cho thấy mức độ nhận thức đúng đắn của người
Việt Nam về vấn đề biển Đông?</em>

<strong>TS. Giáp Văn Dương:</strong> Theo tôi được biết, hiện
chưa có nghiên cứu cụ thể nào (theo tiêu chuẩn học thuật)
về mức độ nhận thức của người dân Việt Nam về vấn
đề biển Đông. Tuy nhiên, qua báo chí, tôi có thể thấy: phần
lớn người dân Việt Nam đều quan tâm đến vấn đề biển
Đông.

Điều này cũng dễ hiểu, vì chủ quyền biển đảo, cũng như
chủ quyền lãnh thổ, là vấn đề thiêng liêng ngàn đời. Cha
ông đã đổ biết bao nhiêu mồ hôi và máu để khai khá, gìn
giữ mảnh đất này, thì con cháu đương nhiên cũng tiếp nối
truyền thống đó.

Giữ nước đã ăn vào máu của người Việt. Đó là tinh thần
Việt.

<strong>Lê Minh Phiếu:</strong> Năm ngoái, Quỹ NCBD có tổ chức
một cuộc thăm dò nhỏ qua mạng internet để khảo sát về mức
độ nhận thức của người sử dụng internet đối với những
vấn đề liên quan đến tranh chấp Biển Đông. Đa số người
trả lời đã có những câu trả lời đúng với những vấn
đề được hỏi.

Song, cũng phải thừa nhận rằng đó là những người biết sử
dụng internet và một khi chấp nhận trả lời, họ là những
người đã có quan tâm đến vấn đề Biển Đông ở một mức
độ nhất định. Để có một bức tranh toàn diện về vấn
đề bạn nêu, có lẽ chúng ta cần một cuộc khảo sát với
những đối tượng rộng rãi hơn.

<strong>TS. Lê Vĩnh Trương:</strong> Chúng tôi chưa được biết
liệu đã có tổ chức nào có nghiên cứu khảo sát về việc
này hay chưa. Còn riêng QNCBĐ, một trong những dự án tương lai
của chúng tôi là tiến hành nghiên cứu khảo sát để hiểu
được mức độ quan tâm của người Việt Nam về vấn đề
Biển Đông.

<em><strong>Huỳnh Bá Phước:</strong> Người Việt Nam làm và ăn
nước mắm từ rất xa xưa, đến mức đã là chuyên viên, không
như một số dân tộc gần bên, không biết đến món ăn này.
Nước mắm chủ yếu làm từ cá biển, thật nhiều cá biển.
Điều này có phải chứng tỏ người Việt Nam đi biển giỏi
hơn? Và nếu đúng vậy, nó có ý nghĩa gì trong việc bảo vệ
chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông?</em>

<strong>TS. Giáp Văn Dương:</strong> Việc người Việt biết ăn
và sành ăn nước mắm khó có thể dùng để khẳng định
người Việt đi biển giỏi hơn người một số dân tộc gần
bên, dù nước mắm được làm phần nhiều từ cá biển. Tuy
nhiên, điều này gợi đến suy nghĩ về một nền kinh tế biển
có thể đã hình thành từ lâu đời của người Việt. Điều
này rất có ý nghĩa trong việc nhận thức lại về tư duy biển
của người Việt: cha ông ta không hẳn đã quay lưng ra biển
như nhiều người đã từng nghĩ.

<em><strong>Tạ Du:</strong> Người Việt ở nước ngoài có thể
đóng góp được gì trong việc giành lại hoặc tiếp sức với
nhân dân trong nước khẳng định chủ quyền của VN đối với
hai quần đảo Trường và Hoàng Sa nói riêng, và bảo vệ an ninh
trên biển Đông nói chung? Nếu họ có thể góp phần trong việc
này, mà tôi nghĩ sẽ giúp ích nước nhà trên rất nhiều
phương diện, không chỉ biển Đông, nhà nước làm thế nào
để vận động sự hợp tác của họ?</em>

<strong>TS. Giáp Văn Dương:</strong> Người Việt Nam ở nước
ngoài có thể đóng góp vào việc khẳng định chủ quyền biển
đảo của Việt Nam bằng nhiều hình thức khác nhau. Trong đó
có nhiều hình thức mà người dân trong nước không có được,
như việc tiếp cận các kho tư liệu về biển đảo ở các thư
viện nước ngoài, phổ biến thông tin về chủ quyền biển
đảo của Việt Nam đến cộng đồng quốc tế để kêu gọi
sự ủng hộ từ bên ngoài, hỗ trợ về mặt kinh tế, kĩ
thuật cho ngư dân, bộ đội, chiến sĩ, hỗ trợ các dự án
nghiên cứu về biển đảo...

Để thu hút sự hỗ trợ này từ người Việt ở nước ngoài,
nhà nước trước hết cần đứng ra kêu gọi, vận động họ
tham gia cùng nhân dân trong nước. Nhà nước cần có danh mục
những việc cần làm cho công cuộc bảo về chủ quyền biển
đảo để mỗi người Việt Nam, dù là ở trong hay ngoài nước,
có thể tùy điều kiện cụ thể của mỗi người mà tham gia,
ví dụ: kế hoạch thu thập các bản đồ cổ khẳng định chủ
quyền biển đảo của Việt Nam ở các thư viện nước ngoài,
kế hoạch tọa đàm về chủ quyền biển đảo Việt Nam với
các thư viện, trường đại học các nước, kế hoạch xây
dựng tủ sách/trường học cho Trường Sa, kế hoạch hỗ trợ
ngư dân bị xâm hại, kế hoạch cung cấp thiết bị kĩ thuật
như máy định vị cho ngư dân khi đánh bắt xa bờ, kế hoạch
phản đối những thông tin sai lệch về chủ quyền biển
đảo...

<h2>Đoàn kết và không né tránh</h2>

<em><strong>N.C.Hải:</strong> Theo các anh, trong việc đấu tranh
bảo vệ chủ quyền,Việt Nam mình có đơn độc không? Người
Việt mình đã thật sự đồng tình và đoàn kết một lòng
chưa?</em>

<strong>Lê Minh Phiếu:</strong> Từ trước đến nay, Trung Quốc
theo đuổi chính sách giải quyết cách tranh chấp trên biển
Đông thông qua con đường song phương. Trung Quốc đã và đang
cố gắng vô hiệu hóa mọi nỗ lực của các bên để quốc
tế hóa cuộc tranh chấp. Tuy nhiên, yêu sách của Trung Quốc
trên Biển Đông (đặc biệt là đường chín đoạn đứt khúc
hình chữ U - đường lưỡi bò) đã xâm phạm đến vùng biển
của tất cả những nước khác bao quanh Biển Đông. Nó còn xâm
phạm đến vùng biển quốc tế, tức vùng biển chung của cả
nhân loại.

Mặc khác, biển Đông là nơi có những tuyến hàng hải quan
trọng của thế giới. Do vậy, những yêu sách và hành động
mạnh bạo của Trung Quốc cũng làm cho các nước liên quan e
ngại.

Vì thế, có nhiều nước trên thế giới điều có một điểm
chung với Việt Nam trong vấn đề tranh chấp trên Biển Đông.
Đó cũng là lý do tại sao chúng ta thấy có sự xuất hiện ngày
càng nhiều những học giả, những người hoạt động ở
nhiều nước trên thế giới đã lên tiếng tỏ sự e ngại hay
phản đối yêu sách và hành động của Trung Quốc trên Biển
Đông.

Do vậy, Việt Nam sẽ không đơn độc trong cuộc tranh chấp trên
Biển Đông nếu chúng ta biết điều này và có những hành
động để kêu gọi sự ủng hộ và hợp tác của bạn bè
quốc tế.

Còn với câu hỏi người Việt mình đã thật sự đồng tình
và đoàn kết một lòng chưa, theo tôi, người Việt mình có lẽ
ai cũng muốn đứng lên bảo vệ và gìn giữ từng vùng đất,
vùng biển thiêng liêng của Tổ Quốc. Tuy nhiên, do nhiều yếu
tố, cách thức và phương pháp đấu tranh của người Việt
mình có nhiều điểm khác nhau, thậm chí đôi khi ảnh hưởng
lẫn nhau.

Kinh nghiệm lịch sử của dân tộc Việt Nam đã cho thấy rằng,
đoàn kết là một điều mà dân tộc ta không thể thiếu
trước những đe dọa về chủ quyền hay lãnh thổ. Trong tranh
chấp Biển Đông, để có thể phát huy sự đoàn kết của dân
tộc, theo tôi mỗi người Việt Nam cần tạo sự đồng thuận
trong cách thức đấu tranh.

Để làm được điều đó, cần có nỗ lực từ hai phía:

Một mặt, chúng ta cần phân tích các sự kiện lịch sử một
cách duy lý và khoan dung. Sự trách cứ lẫn nhau không thể làm
thay đổi những gì đã xảy ra trong lịch sử. Nếu như chỉ
để nêu ra những sự kiện lịch sử chỉ để trách cứ lẫn
nhau, đặc biệt là khi đứng trước các diễn đàn quốc tế,
chúng ta vô tình đi tuyên truyền cho những luận điểm có hại
cho sự nhận thức của quốc tế về cơ sở pháp lý của chủ
quyền Việt Nam.

Mặt khác, chúng ta cần nên tránh "tư duy con đà điểu": tránh
né một vấn đề không tự thân làm cho vấn đề đó mất đi.
Do vậy, chúng ta cần tạo một không gian tự do về mặt học
thuật và trao đổi để những người quan tâm có thể mổ xẻ,
phân tích những cơ sở liên quan đến chủ quyền của Việt
Nam, từ đó có thể soi sáng những lập luận chưa đúng mà
phía Trung Quốc đưa ra để ngụy tạo cho cơ sở của họ.

<em><strong>Nguyễn Trung Kiên:</strong> Như chúng ta đã biết, Trung
Quốc rất quyết tâm chiếm phần lớn biển Đông. Tương quan
về sức mạnh quân sự của TQ so với các nước tranh chấp
nghiêng về phía TQ. Trong trường hợp nỗ lực quốc tế hoá
việc tranh chấp của chúng ta bị TQ chống phá quyết liệt và
thành công. Khi đó chúng ta sẽ phải làm gì?</em>

<strong>TS. Giáp Văn Dương:</strong> Trong trường hợp nỗ lực
quốc tế hoá việc tranh chấp của chúng ta bị TQ chống phá
quyết liệt và thành công thì chúng ta cần phải đẩy mạnh
dân tộc hóa việc bảo vệ chủ quyền biển đảo: Cả nước
hướng ra biển Đông, cả dân tộc cùng đồng tâm nhất chí
bảo vệ chủ quyền biển đảo.

Như vậy, quốc tế hóa phải đi cùng dân tộc hóa. Hai chiến
lược này phải tiến hành song song, đồng thời, tạo thế trong
ngoài hỗ trợ nhau.

Biển Đông đang thực sự là không gian sinh tồn của Việt Nam.
Dự đoán đến năm 2020, tức là chỉ còn 10 năm nữa, kinh tế
biển sẽ đóng góp hơn 50% GDP của cả nước. Nhưng đầu tư
cho biển đảo hiện còn chiếm tỷ trọng quá ít so với đầu
tư trên đất liền.

Việc này cần phải được điều chỉnh và cân đối lại.

<em><strong>Trọng Thiết:</strong> Quỹ có những sáng kiến gì
trong việc tạo ra nguồn lực để xây dựng lực lượng hải
quân ngày càng hùng mạnh hơn, đủ sức bảo vệ chủ quyền
trong mọi tình huống.</em>

<strong>TS. Lê Vĩnh Trương:</strong> Là những nhà nghiên cứu khoa
học về biển đảo, chúng tôi không dám lạm bàn sâu về vấn
đề quân sự, song nếu được phép kiến nghị, chúng tôi xin
đưa ra 3 điểm sau:

Một là, về con người, chúng ta cần xây dựng một lớp
người yêu biển và yêu quân chủng hải quân, thông qua các
hoạt động giáo dục từ cấp tiểu học trở lên.

Hai là, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tham gia cùng lực
lượng hải quân đầu tư khai thác tài nguyên biển: phong
điện, khai khoáng... để có sức mạnh tổng hợp giữa kinh tế
với quốc phòng. Từ đó gia tăng tiềm lực cho ngân sách, phục
vụ yêu cầu bảo vệ an ninh quốc phòng.

Ba là, đề xuất Nhà nước tiếp tục theo đuổi chiến lược
ngoại giao quốc phòng đa phương, đa dạng hơn để xây dựng
niềm tin và tăng cường hiểu biết với quân đội và hải
quân các nước trong khu vực.

<strong>Lê Minh Phiếu:</strong> Theo tôi, Việt Nam nên tiến hành
việc chuyên nghiệp hóa và tinh giản hóa quân đội. Việc
chuyên nghiệp hóa sẽ giúp cho việc tránh phân tán nguồn lực
cho quân đội vào những lĩnh vực khác mà dân sự có thể hoàn
toàn làm được (ví dụ như kinh doanh).

Tinh giản hóa quân đội sẽ tránh việc dàn trải nguồn lực
vào những địa bàn không cần thiết, giúp cho việc tập trung
nguồn lực để xây dựng lực lượng hải quan vốn rất cần
thiết hiện nay.

<h2>Tương quan với Trung Quốc</h2>

<em><strong>Thuỷ Nguyễn:</strong> VN chưa có nhiều các tổ chức
phi chính phủ hoạt động cho việc bảo vệ biển đảo, các
bạn thấy tương quan này so với Trung Quốc thì thế nào?</em>

<strong>Lê Minh Phiếu:</strong> Bạn nói một thực tế rất đúng
và rất đáng buồn. Và thật sự là để có thể tận dụng
được những nguồn lực quý giá của đất nước, chúng ta
cần có sự hình thành và hoạt động của nhiều tổ chức phi
chính phủ trong nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực hoạt
động cho việc bảo vệ biển đảo.

Có nhiều điều, Nhà nước làm thì có lợi, nhưng có nhiều
điều, người dân làm thì có lợi. Việc thiếu vắng các tổ
chức phi chính phủ làm cho nhiều vấn đề được vận hành
giống như một chiếc xe chạy mà chỉ có một cái bánh.

Để có thể có sự ra đời của nhiều tổ chức phi chính phủ
cho việc bảo vệ biển đảo và để có thể đạt được một
mức độ tương quan nhất định so với lực lượng hoạt
động của Trung Quốc, tôi nghĩ điều đầu tiên và quan trọng
nhất là Nhà nước cần thiết lập một hành lang pháp lý rõ
ràng và thông thoáng cho sự ra đời và hoạt động của các
tổ chức phi chính phủ.

<em><strong>Thuỷ Chung:</strong> Theo tôi biết có những thời
điểm chính quyền TQ nói đến vấn đề tranh chấp chủ quyền
trên biển Đông và có những luận điệu tiêu cực về chính
quyền VN, những lúc ấy, truyền thông TQ đều nhất loạt
đứng về phía chính phủ mình và chĩa mũi dùi về phía chính
phủ VN. Anh đánh giá thế nào về vai trò của truyền thông TQ
đối với vấn đề này trong tình hình hiện nay?</em>

<strong>TS. Trần Vinh Dự:</strong> Tôi cho chuyện báo chí truyền
thông của một nước bênh vực lợi ích quốc gia của nước
mình là chuyện bình thường.

Tuy nhiên, một số các bài báo của họ mà tôi có cơ hội
được đọc đã đi quá xa theo hướng chủ nghĩa dân tộc cực
đoan. Giọng điệu của một số bài báo này vừa thiếu thân
thiện, hiếu chiến, và không duy lý. Theo tôi có lẽ các bài
này không phản ánh lập trường của chính phủ Trung Quốc cũng
như dân tộc Trung Quốc nói chung. Những bài báo như vậy không
có lợi cho Trung Quốc theo nghĩa nó tạo ra một hình ảnh rất
phản cảm về đất nước này.

<strong>Lê Minh Phiếu:</strong> Hiện tại, vì nhiều lý do, chính
quyền cũng như truyền thông Trung Quốc đang cố súy rất mạnh
mẽ tinh thần dân tộc chủ nghĩa ở nước này. Biển Đông là
một trong những để tài cho các cuộc bàn luận đầy cảm tính
và mang nặng tính dân tộc chủ nghĩa.

Trong bối cảnh đó, việc làm này của truyền thông Trung Quốc
như rót thêm dầu vào lửa và đây thật sự là một điều
rất nghiêm trọng. Sẽ là tốt đẹp hơn cho quan hệ lâu dài và
tốt đẹp giữa hai nước nếu truyền thông Trung Quốc nên gia
tăng hàm lượng duy lý, bớt chủ quan và duy ý chí trong các
chương trình của mình.

<h2>Cần thêm nhiều thông điệp ngoại giao</h2>

<em><strong>Lê Thị Thanh Huyền:</strong> Vấn đề tranh chấp lãnh
hải trên biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc có thể
được giải quyết theo chiều hướng có lợi cho ta hay không và
bằng phương sách nào? Việt Nam với nhiệm kỳ Chủ tịch Asean
2010 đã xây dựng quan điểm, lập trường như thế nào về
vấn đề biển Đông giữa các quốc gia trong khu vực cũng như
với các đối tác bên ngoài? Chúng ta sẽ đưa ra chương trình
hành động cụ thể ra sao?</em>

<strong>TS. Giáp Văn Dương:</strong> Đó là một lợi thế. Vấn
đề còn lại là biến lợi thế đó thành sức mạnh thực tế.
Muốn vậy, cần quốc tế hóa tranh chấp để thế giới biết
được tính chính nghĩa của ta; liên kết với các nước ASEAN,
tạo thế "quần ngưu đả hổ" để chống lại sự lấn tới
của Trung Quốc, tăng cường thông tin và truyền thông về biển
đảo, kể cả những thông tin không có lợi, cho toàn dân biết
để tạo sự đồng thuận trong việc bảo vệ chủ quyền biển
đảo, tạo cân bằng với những áp lực truyền thông từ phía
Trung Quốc và các nước đang có tranh chấp khác.

Vấn đề tranh chấp biển Đông hoàn toàn có thể giải quyết
theo hướng có lợi cho Việt Nam, vì chúng ta có hồ sơ lịch
sử và pháp lý mạnh nhất. Nói cách khác là chúng ta có chính
nghĩa trong tranh chấp.

Riêng quan điểm lập trường, chương trình hành động cụ thể
về vấn đề tranh chấp biển Đông khi Việt Nam là chủ tịch
ASEAN trong năm 2010 này, xin dành phần trả lời cho các cơ quan
hữu quan của Chính phủ.

<em><strong>Trường Giang:</strong> Chúng ta đã được ít nhiều
nghe người đại diện ngoại giao Trung Quốc tại Việt Nam nói
về tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông. Vậy ngược lại
theo anh chúng ta cần truyền tải thông điệp ngoại giao như
thế nào đến phía Trung Quốc?</em>

<strong>TS. Lê Vĩnh Trương:</strong> Chúng tôi không dám làm thay
công việc quan trọng của Bộ Ngoại giao, nhưng trong khuôn khổ
câu hỏi trên, chúng tôi xin được phép có ý kiến nhỏ. Chúng
ta đã cứu nạn những thuyền đánh cá Trung Quốc bị tai nạn,
chúng ta đã có những khẳng định ôn tồn mà cương quyết
của người phát ngôn Bộ Ngoại giao, chúng ta đã có phát biểu
mạnh mẽ của Chủ tịch nước trên đảo Bạch Long Vĩ. Và
hiện tại VietnamNet, Quỹ NCBĐ cùng các độc giả hiện đang có
một thông điệp ngoại giao nhân dân gửi đến Trung Quốc thông
qua chương trinh giao lưu trực tuyến này.

<em><strong>Hà Thu:</strong> Xin các anh cho biết thêm thông tin về
tiến trình đưa vấn đề tranh chấp chủ quyền trên biển
Đông ra Tòa Án hay Trọng Tài Quốc Tế?</em>

<strong>Lê Minh Phiếu:</strong> Tranh chấp trên Biển Đông mà có
liên quan đến Việt Nam hiện có 2 loại:

Tranh chấp các quần đảo: Hoàng Sa, Trường Sa giữa nhiều
nước

Tranh chấp biển, trong đó bao gồm tranh chấp vùng biển thuộc
các đảo/quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và tranh chấp vùng
biển không thuộc các đảo/quần đảo nhưng chồng lấn do
đường chữ U.

Các bên có thể đưa ra Tòa án Công lý Quốc tế để giải
quyết các tranh chấp trên như các nước Đông Nam Á đã làm.

Liên quan đến đến việc phân định các vùng biển, các bên
còn có thể đưa ra Tòa án Quốc tế về Luật Biển
(International Tribunal on the Law of the Sea), Trọng tài, Trọng tài
đặc biệt (theo quy định cụ thể của UNCLOS, đặc biệt là
phần XV, Phụ lục V, VI, VII, VIII của Công ước này).

Tuy nhiên, dù đưa ra Tòa án Công lý Quốc tế hay Trọng tài,
điều cần thiết là các bên trong tranh chấp cần đồng ý
rằng Tòa án hay Trọng tài đó sẽ có thẩm quyền giải quyết.
Đây là một điều mà Trung Quốc chưa sẵn sàng chấp nhận và
do vậy có lẽ khó xảy ra trong tương lai gần.

<em><strong>Lê Quang:</strong> Hiện trên thế giới, các trường
ĐH, viện/tổ chức nghiên cứu nào trên thế giới có những
nghiên cứu đáng chú ý về vấn đề biển Đông? Quỹ Nghiên
cứu Biển Đông có liên hệ hợp tác gì với họ không/hoặc
sử dụng các kết quả nghiên cứu đó như thế nào? Xin cho
biết tình hình nghiên cứu về biển Đông tại các nước có
liên quan trong khu vực (Trung Quốc, Phillipines....) Họ nghiên cứu
gì, công khai những thông tin gì...?</em>

<strong>TS. Giáp Văn Dương:</strong> Biển Đông hiện đang nổi
lên như là một trong những vấn đề nóng của khu vực, vì
thế thu hút được sự quan tâm của quốc tế. Hiện có nhiều
trường, viện nghiên cứu trên thế giới có những nghiên cứu
về vấn đề này, ví dụ: chỉ trong một thời gian ngắn, đã
có hai hội thảo quốc tế về biển Đông được tổ chức ở
ĐH Yale và ĐH Temple ở Mỹ.

Tuy nhiên, Quỹ chúng tôi chỉ có thể nắm được những nghiên
cứu được công bố dưới dạng sách, báo hoặc báo cáo khoa
học của họ và sử dụng chúng làm tài liệu tham khảo cho các
lập luận của mình.

Chúng tôi có một số liên hệ cá nhân với một số người
nghiên cứu về vấn đề này để trao đổi một số vấn đề
cũng như để xin bản quyền để xuất bản một số tác phẩm
của họ tại Việt Nam.

Chúng tôi hiện giờ chưa có hợp tác gì đáng kể với họ
trong nghiên cứu. Chúng tôi sẽ kiện toàn phần này trong thời
gian tới.

<strong>Lê Minh Phiếu:</strong> Theo tôi được biết, Trung Quốc
đang đẩy rất mạnh nghiên cứu và công bố, tuyên truyền về
biển Đông, tạo ra số bài báo khoa học đăng trên các tạp
chí quốc tế áp đảo so với ta, tạo ra "cuộc chiến không cân
sức giữa các học giả". Điều này quả thật đáng tiếc.

Các nước khác cũng đẩy mạnh nghiên cứu và truyền thông về
biển Đông một cách tự do theo đúng tinh thần học thuật. Vì
thế, Việt Nam, thay vì tự hạn chế mình, nên cạnh tranh với
họ.

<h2>Vì người Việt có ai là không ăn nước mắm</h2>

<em><strong>Thanh Việt:</strong> Được biết các anh đều là
những trí thức trẻ đã thành đạt, tại sao các anh lại quan
tâm tới tình hình Biển Đông và quyết định thành lập/tham
gia Quỹ nghiên cứu BĐ?</em>

<strong>Lê Minh Phiếu:</strong> Cảm ơn bạn đã có câu hỏi đi
kèm với một lời khen. Riêng về cá nhân, tôi không nghĩ xứng
đáng với lời khen đó. Song, tôi cho rằng, việc làm một
điều gì đó mà mình nghĩ có ích cho đất nước nói chung hay
làm một cái gì đó vì Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông nói
riêng không phụ thuộc hay liên quan gì nhiều lắm đến việc
có thành đạt hay không.

Bất kể một người có thành đạt hay không, chúng ta đều có
thể làm một điều mà chúng ta thấy quan tâm, thấy có ích,
cần thiết và trong khả năng hạn hẹp của mình.

<strong>TS. Giáp Văn Dương:</strong> Tôi tham gia Quỹ Nghiên cứu
biển Đông vì muốn góp một phần nhỏ bé, nhưng thiết thực,
vào việc bảo vệ chủ quyền biển đảo. Cách làm việc khoa
học, duy lý của Quỹ cũng rất phù hợp với người làm khoa
học như tôi.

<strong>TS. Lê Vĩnh Trương:</strong> Toàn dân VN ai cũng liên quan
đến Biển Đông. Có mấy người VN không ăn nước mắm? Tôi
tham gia QNCBD vì mong muốn những người VN liên quan đến Biển
Đông sẽ quan tâm đến Biển Đông, hiểu nghĩa vụ và quyền
lợi của bản thân mình gắn liền với Biển Đông.

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/4670), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét